Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Thông tin gần đây cho thấy: thế giới đang ở giai đoạn khủng hoảng về việc
làm. Ngời ta ớc tính có khoảng 820 triệu ngời hiện lâm vào tình trạng thất nghiệp
hoặc bán thất nghiệp. Ngay cả với nhiều nớc phát triển, tỷ lệ thất nghiệp cũng khá
cao- dao động từ 6% đến 21%. ở các nớc nghèo, tình hình còn bi đát hơn. Làn sóng
di dân nông thôn- đô thị đang làm đau đầu nhiều nhà quản lý xã hội và Việt Nam
cũng không nằm ngoài các nớc đó.
Nh vậy, giải quyết việc làm là đề tài có tính toàn cầu, là một thách thức còn
khá lâu dài với toàn thể nhân loại. Riêng ở các nớc đang phát triển nh nớc ta, nơi
nguồn lao động đang còn rất dồi dào và chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, thì
tạo việc làm ở đó bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ.
Hiện nay, nông thôn nớc ta có khoảng 10 triệu hộ gia đình sống trong 50.000
thôn, xóm, ấp, bản của 8.500 xã. Là khu vực đông dân nhất, chiếm 80% dân số và
76,88% lực lợng lao động xã hội. Hàng năm, khu vực này đợc bổ sung thêm
khoảng 67 vạn lao động. Hơn nữa, đặc điểm kinh tế xã hội cũng nh điều kiện tự
nhiên ở mỗi vùng là khác nhau. Do vậy, không phải cứ ở nông thôn thì ngời lao
động phải tham gia vào ngành nông, lâm, ng nghiệp.
Tuy nớc ta là một nớc đi lên từ nông nghiệp hay nói cách khác nông nghiệp
là một thế mạnh nhng sản xuất ở ngành này mang tính thời vụ nên nhiều lao động ở
ngành này vẫn có nhiều thời gian rảnh rỗi. Điều đó cho ta thấy tình trạng thiếu việc
làm của ngời lao động ở nông thôn đang rất lớn và có nguy cơ tiếp tục gia tăng. Vì
vậy, một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội
của đất nớc đến năm 2010: giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho ngời lao
động. Muốn vậy, phải phấn đấu đến năm 2010: giảm tỷ lệ tăng dân số từ 1,4% hiện
nay xuống còn 1,1%; xoá hộ đói và về cơ bản không còn hộ nghèo; nâng cao tỷ lệ
sử dụng quỹ thời gian lao động ở nông thôn lên 80-85%; nâng tỷ lệ ngời lao động đ-
ợc đào tạo nghề lên khoảng 40%. (Văn kiện Đại hội IX của Đảng).
Để đạt đợc mục tiêu này trớc hết cần làm rõ thực trạng sử dụng lao động,
thực trạng tạo việc làm cho lao động nông thôn trong thời gian qua đồng thời chỉ ra
những thách thức, giới hạn cũng nh khả năng tạo mở việc làm ở nông thôn trong
khác nhau, mỗi không gian khác nhau ngời ta lại có quan điểm khác nhau về việc
làm.
Trớc đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, ngời lao
động đợc coi là có việc làm và đợc xã hội thừa nhận, trân trọng là ngời làm công
việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực nhà nớc và kinh tế tập thể. Trong
cơ chế đó, nhà nớc bố trí việc làm cho ngời lao động. Do đó, ngay cả những ngời
thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ cũng không đợc thừa nhận.
Quan điểm xem xét việc làm nh là một tế bào, một đơn vị nhỏ nhất phân chia
từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thì cho rằng: việc làm là một phạm trù chỉ
trạng thái phù hợp giữa sức lao động và t liệu sản xuất hoặc những phơng tiện để
sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần của xã hội.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): việc làm là những hoạt động lao động
đợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật.
Việc làm theo quy định của Bộ luật lao động là những hoạt động lao động tạo
ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm.
Theo khái niệm này việc làm đợc thể hiện dới các dạng sau:
+ Làm những công việc mà ngời lao động nhận đợc tiền lơng, tiền công bằng
tiền hoặc hiện vật cho công việc đó.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Làm những công việc mà ngời lao động thu đợc lợi nhuận cho bản thân
(ngời lao động có quyền sử dụng quản lý hoặc sở hữu t liệu sản xuất và sức lao động
của bản thân để sản xuất sản phẩm).
+ Làm công việc cho hộ gia đình nhng không đợc trả thù lao dới hình thức
tiền công, tiền lơng cho công việc đó (do chủ gia đình làm chủ sản xuất).
1.1.2 Phân loại việc làm
Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu t thời gian cho việc làm.
+ Việc làm chính: là công việc mà ngời thực hiện dành nhiều thời gian nhất
hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác.
+ Việc làm phụ: là những việc làm mà ngời lao động dành nhiều thời gian
cho ngời tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và mang lại thu nhập thấp hơn
mức tiền lơng tối thiểu.
1.2.2. Phân loại
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Khái niệm thiếu việc làm đợc thể
hiện dới hai dạng thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình.
+ Thiếu việc làm vô hình: là trạng thái những ngời có đủ việc làm, làm đủ
thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thờng nhng thu nhập thấp. Có thể
nói nguyên nhân của tình trạng này do: dân số không ngừng tăng trong khi diện tích
đất có nguy cơ thu hẹp làm d thừa lao động. Số ngời lao động trên một đơn vị diện
tích tăng có nghĩa là thời gian sử dụng để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm.
Trên thực tế họ vẫn làm việc nhng sử dụng rất ít thời gian trong sản xuất do vậy thời
gian nhàn rỗi nhiều.
Thớc đo thiếu việc làm vô hình:
K
1
= *100% (tháng, năm)
+ Thiếu việc làm hữu hình: chỉ hiện tợng lao động làm việc thời gian ít hơn
thờng lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng làm việc.
Thớc đo thiếu việc làm hữu hình:
K
1
= *100% (tháng, năm)
1.3 Thất nghiệp
1.3.1 Khái niệm
Có quan niệm cho rằng: thất nghiệp là hiện tợng gồm những ngời mất thu
nhập do không có khả năng tìm đợc việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động, muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới về lao
động nhng cha đợc giải quyết.
Nhà kinh tế học David Begg cho rằng: Lực lợng lao động có đăng ký bao
gồm số ngời có công ăn việc làm và số ngời thất nghiệp có đăng ký.
làm nhng không tìm đợc trên thị trờng.
+ Thất nghiệp vô hình hay còn gọi thất nghiệp trá hình: là khi ngời lao động
làm các việc với năng suất rất thấp không có góp phần tạo ra sản phẩm xã hội và thu
nhập quốc dân gì đáng kể mà cốt có thu nhập lấy từ tái phân phối để sống.
Thất nghiệp trá hình dễ thấy ở nông thôn hoặc những ngời ẩn náu trong biên
chế của các cơ quan hoặc doanh nghiệp nhà nớc quá nhiều so với yêu cầu công việc.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.4 Tạo việc làm
Có thể hiểu tạo việc làm cho ngời lao động là đa ngời lao động vào làm việc
để tạo ra trạng thái phù hợp giữa sức lao động và t liệu sản xuất, tạo ra hàng hoá và
dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trờng.
Quá trình kết hợp sức lao động và điều kiện để sản xuất là quá trình ngời lao
động làm việc. Ngời lao động làm việc không chỉ tạo ra thu nhập cho riêng họ mà
còn tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho xã hội. Vì vậy, tạo việc làm không chỉ là
nhu cầu chủ quan của ngời lao động mà còn là yêu cầu khách quan của xã hội.
Việc hình thành việc làm thờng là sự tác động đúng lúc giữa ba yếu tố:
+ Nhu cầu của thị trờng
+ Điều kiện cần thiết để sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ:
Ngời lao động (sức lực và trí lực)
Công cụ sản xuất
Đối tợng lao động
+ Môi trờng xã hội: xét cả góc độ kinh tế chính trị, pháp luật, xã hội.
Ngời ta có thể mô hình hoá quy mô tạo việc làm theo phơng trình sau:
Y = f(C,V,X...)
Trong đó: Y: Số lợng việc làm đợc tạo ra
C: Vốn đầu t
V: Sức lao động
X: Thị trờng tiêu thụ sản phẩm...
Trong đó, quan trọng nhất là các yếu tố đầu t C và sức lao động V. Hai yếu tố
đến V
B
.
- Trong điều kiện mở rộng quy mô, song trình độ công nghệ cao hơn trớc,
biểu hiện tỷ lệ C/V cao hơn tức là vốn đầu t cao hơn song khả năng thu hút lao động
lại bị hạn chế.
Trong đồ thị, đờng AI biểu hiện trình độ công nghệ tiến bộ hơn tại điểm I có
C
I
> C
B
, nhng cơ số việc làm V
I
> V
B
, hay nói cách khác lợng việc là giảm đi một
cách tơng đối V
I
V
B
.
- Trong điều kiện mở rộng quy mô doanh nghiệp, song trình độ công nghệ
thấp hơn trớc, biểu hiện C/V thấp hơn tức là vốn đầu t ít hơn, song khả năng mở
rộng việc làm lại lớn hơn.
8
(Vốn)
N
N
C
B
tức là lợng việc làm lại tăng tơng đối
một lợng V
B
V
K
.
Tuy nhiên, sự tồn tại hai yếu tố C và V dới dạng là những khả năng. Để
chuyển hoá khả năng đó thành hiện thực đòi hỏi những điều kiện nhất định. Đó là
những điều kiện kinh tế, xã hội , thông qua hệ thống các chính sách của Nhà nớc
nh chính sách thu hút ngời lao động, qua việc ký kết hợp đồng lao động tập thể và
thoả ớc lao động tập thể, quy định điều kiện và an toàn lao động...
1.5 Việc làm mới.
Việc làm mới cũng là những việc làm đợc pháp luật cho phép, đem lại thu
nhập cho ngời lao động, nó đợc tạo ra theo nhu cầu của thị trờng để sản xuất và
cung ứng một loại hàng hoá dịch vụ nào đó cho xã hội. Sự xuất hiện những việc làm
mới là một tất yếu khách quan do hàng năm lực lợng lao động đợc bổ sung thêm
cùng với tiến trình phát triển của dân số.
Khái niệm việc làm thờng gắn với chỗ làm việc bởi vì mỗi công việc cụ thể
đều có môi trờng làm việc nhất định. Nh thế, việc tạo ra những chỗ làm việc mới
cũng hàm ý với việc tạo ra việc làm mới. Việc làm mới bao gồm những công việc
đòi hỏi kỹ năng mới và những việc làm đợc tạo thêm ra cho ngời lao động. Đối với
những công việc đòi hỏi kỹ năng mới thì ngời lao động muốn làm đợc những công
việc mới này cần phải có sự thay đổi kỹ năng lao động thông qua đào tạo, còn đối
với những việc làm đợc tạo thêm (tăng lợng cầu lao động) đồng nghĩa với việc tạo
thêm những chỗ làm việc mới mà không yêu cầu phải thay đổi kỹ năng của ngời lao
động.
Nh vậy, theo nghĩa rộng, khái niệm việc làm mới đợc hiểu nh sau:
Việc làm mới là phạm trù nói lên sự tăng lợng cầu về lao động, nó đợc thể
hiện dới hai dạng: Những việc làm đòi hỏi kỹ năng lao động mới và những chỗ làm
- Coi con ngời là nhà sáng tạo ra những ý tởng mới, giải pháp mới.
- Con ngời cần đợc thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần và xã hội.
Thực chất quan điểm này muốn chỉ ra, chính sách kinh tế xã hội phải đảm
bảo mức sống cao cho dân tộc, lối sống lành mạnh của sự phát triển toàn diện con
ngời. Mục tiêu của công cuộc đổi mới cũng là tạo ra ngày một tốt hơn điều kiện về
vật chất, văn hoá tinh thần cho cuộc sống con ngời. Một xã hội văn minh phát triển
khi mỗi cá nhân, mỗi gia đình văn minh hơn, ấm no và hạnh phúc hơn.
2.2 Việc làm đối với ngời lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là
yếu tố khách quan của ngời lao động.
Con ngời muốn tồn tại và phát triển họ phải tiêu tốn một lợng t liệu sinh hoạt
nhất định. Để có những thứ đó con ngời phải sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Quá
trình sản xuất tạo ra hàng hoá, dịch vụ đó là việc làm. Nh vậy, muốn tăng tổng sản
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phẩm xã hội, một mặt phải huy động triệt để mọi ngời có khả năng lao động tham
gia vào nền sản xuất xã hội tức là mỗi ngời phải có việc làm đầy đủ. Mặt khác, phải
nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nhằm khai thác triệt để tiềm năng của mỗi ng-
ời nhằm đạt đợc việc làm hợp lý và việc làm hiệu quả.
Tạo việc làm đầy đủ cho ngời lao động không những tạo điều kiện để ngời
lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống mà còn làm giảm các tệ nạn xã hội, làm
cho xã hội văn minh hơn.
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi ngời đều nhận thức rằng: một
trong những vấn đề cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển nguồn lực, coi đó
là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình phát triển. Điều này hoàn
toàn đúng đắn và phù hợp với nhận mới về phát triển con ngời. Con ngời ở đây đợc
xem xét trên hai khía cạnh thống nhất với nhau hay nói cách khác, nó là hai mặt của
một vấn đề đợc thống nhất trong mỗi con ngời.
- Con ngời với t cách là chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tính thần.
Nh vậy,để tồn tại và phát triển, con ngời bằng sức lao động của mình, là yếu tố của
quá trình sản xuất, là lực lợng sản xuất cơ bản nhất, tạo ra giá trị hàng hoá và dịch
hành chính quốc gia. Mục đích sử dụng ngời lao động đợc Đảng ta xác định: Sử
dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Đây là yêu
cầu tất yếu khách quan của xã hội.
II. Các nhân tố ảnh hởng tới vấn đề tạo việc làm cho ngời lao động
nông thôn.
1. T liệu sản xuất
T liệu sản xuất trong sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, máy móc, kết cấu
hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực con ngời, nguồn lực sinh học và các phơng tiện hoá học.
Trong đó yếu tố vốn, đất đai, yếu tố sức lao động, công nghệ là yếu tố quan trọng
ảnh hởng trực tiếp tới tạo việc làm.
Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trớc tiên của mọi quá trình sản xuất. Nó
tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhng tuỳ thuộc vào từng ngành cụ
thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong nông nghiệp ruộng đất không chỉ
tham gia với t cách là yếu tố thông thờng mà là yếu tố tích cực của sản xuất, là t liệu
chủ yếu không thể thiếu, không thể thay thế đợc. Bởi vì, đất đai trong nông nghiệp
có đặc điểm:
Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian nhng sức sản xuất là vô hạn. Mỗi
quốc gia có giới hạn diện tích đất khác nhau và tỷ lệ ruộng đất trong nông nghiệp ở
mỗi quốc gia lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, địa
hình và trình độ phát triển kỹ thuật của từng nớc. Với nớc ta, mặc dù đất chật ngời
đông nhng tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm khá lớn là 9345,4( nghìn ha) chiếm 29,4%
tổng diện tích cả nớc; đất lâm nghiệp có rừng là 11575,4(nghìn ha) chiếm 35,15%
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tổng diện tích cả nớc so với diện tích đất ở chỉ chiếm 1,34%. Tuy nhiên lợng đất cha
đợc sử dụng (có cả sông ngòi) có rất nhiều: 1027,3(nghìn ha) chiếm 30,4%. Diện
tích đất lớn cho phép khai thác theo cả chiều sâu và chiều rộng để mỗi đơn vị diện
tích đất ngày càng đáp ứng nhiều sản phẩm theo yêu cầu của con ngời và thị trờng
thế giới. Chính việc sử dụng đất hợp lý kết hợp với sử dụng nguồn lực con ngời sẽ
tạo ra sự hài hoà cho việc giải quyết việc làm cho ngời lao động với việc tăng sản l-
ở nông thôn, thể lực của ngời lao động kém hơn so với ngời lao động của
thành thị, kiến thức chuyên môn cũng nh xã hội đều thấp do thu nhập cha cao, việc
tiếp cận thông tin kinh tế, khoa học xã hội chậm. Điều đó ảnh hởng lớn đến việc
làm của chính họ. Chính vì vậy tạo việc làm cho ngời lao động nông thôn cần phải
đợc cân nhắc tính toán kỹ nếu không sẽ gây tổn thất nặng nề. Và để tạo việc làm có
hiệu quả cần thiết phải bồi dỡng kiến thức cho họ.
Vốn trong sản xuất nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của t liệu lao động và
đối tợng lao động đợc sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Vốn sản xuất nông nghiệp
mang đặc điểm sau:
Căn cứ vào đặc điểm của tài sản có thể chia thành vốn cố định và vốn lu
động. Do chu kỳ sản xuất dài và có tính thời vụ trong nông nghiệp nên một mặt làm
cho sự tuần hoàn và luân chuyển của vốn chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn
cố định, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể nguồn vốn lu động trong thời gian t-
ơng đối dài và làm cho vốn ứ đọng. Mặt khác, sự cần thiết và có khả năng tập trung
hoá về phơng tiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so với nông nghiệp là cao
hơn.
Sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên việc sử dụng
vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Một bộ phận sản phẩm nông nghiệp không qua lĩnh vực lu thông mà đợc
chuyển trực tiếp làm t liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp.
Do vậy, một bộ phận vốn đợc thực hiện ở ngoài thị trờng và đợc tiêu dùng
trong nội bộ nông nghiệp khi vốn lu động đợc khôi phục trong hình thái hiện vật.
Đối với ngời nông dân đặc biệt là những ngời dân nghèo thì vốn là quan trọng
và cần thiết để tiến hành sản xuất. Để tạo việc làm cho ngời lao động, nguồn vốn đ-
ợc huy động chủ yếu từ trợ cấp, từ các quỹ, các tổ chức tín dụng.
Khi số lợng việc làm đợc tạo ra nhng nó có đợc chấp thuận hay không còn
tuỳ thuộc vào thị trờng tiêu thụ. Bởi vì, nếu sản phẩm sản xuất ra mà không đợc thị
trờng tiêu thụ chấp nhận thì quy mô lớn đến đâu, máy móc có hiện đại đến đâu thì
đơn vị sản xuất cũng không thể tồn tại. Do dó, khi tạo việc làm cho ngời lao động
cần phải biết cung cầu lao động trên thị trờng, số ngời thiếu việc làm, số ngời không
nguồn lao động dồi dào là nguồn lực lớn để phát triển kinh tế nhng để tạo việc làm
cho ngời lao động không phải đơn giản mà nó kéo theo tài chính, tín dụng, t liệu sản
xuất... trong khi ngân sách nớc ta còn hạn hẹp. Năm 2000 Đảng và Nhà nớc ta đã có
chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội trong đó nhân tố dân số đã đợc coi trọng:
+ Coi con ngời là mục tiêu và là động lực chính của sự phát triển. Đặt con ng-
ời vào vị trí trung tâm trong chiến lợc phát triển hay gọi là chiến lợc con ngời, lấy
lợi ích của con ngời làm điểm xuất phát của mọi chơng trình kế hoạch phát triển.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Nguồn nhân lực và con ngời Việt Nam - lợi thế và nguồn lực quan trọng
nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội nớc ta. Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng lên
quá nhanh mà cha sử dụng hết, lại là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc làm.
+ Đổi mới chính sách dân số, lao động và bảo trợ xã hội là nội dung hàng đầu
trong việc đổi mới chính sách và công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc. Các chính
sách đó phải phát huy nguồn lực về nguồn nhân lực và con ngời Việt Nam hớng vào
thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Mặt khác, các chính
sách đó phải phù hợp với những yêu cầu của quản lý kinh tế quốc dân, phù hợp với
những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nớc.
3. Nhân tố giáo dục và công nghệ
Tiềm năng kinh tế của một đất nớc phụ thuộc vào trình độ khoa học và công
nghệ của đất nớc đó. Trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện
giáo dục. Đã có rất nhiều bài học thất bại khi một nớc nào đó sử dụng công nghệ
ngoại nhập tiên tiến trong khi tiềm lực khoa học công nghệ trong nớc còn rất non
yếu. Sự non yếu thể hiện ở chỗ thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và
quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề. Điều đó đã ảnh hởng
tới việc áp dụng các thành tựu khoa học. Không có sự lựa chọn nào khác hoặc là đào
tạo các nguồn lực quý giá cho đất nớc phát triển hoặc phải chịu tụt hậu so với thế
giới.
Giáo dục và đào tạo giúp cho ngời lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng
đáp ứng mọi yêu cầu của công việc và khi có trong tay kiến thức về xã hội, về trình
vấn đề xã hội vừa cấp bách trớc mắt hiện nay vừa cơ bản lâu dài ở mỗi nớc là đảm
bảo việc làm, đời sống cho lao động toàn xã hội, đặc biệt là ở khu vực nông thôn,
nơi đang tồn tại tỷ ngời cha có việc làm, thiếu việc làm khá cao.
Cũng nh chính sách xã hội khác, chính sách việc làm cũng rất đa dạng, phong
phú, có thể phân loại nh sau:
+ Nhóm chính sách chung có quan hệ và tác động đến việc mở rộng và phát
triển việc làm cho lao động toàn xã hội: chính sách về vốn, chính sách đất đai, chính
sách thuế.
+ Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và
vùng có khả năng thu hút đợc nhiều lao động trong cơ chế thị trờng( chính sách phát
triển kinh tế hộ, chính sách đổi mới xây dựng vùng kinh tế mới, chính sách khôi
phục và phát triển ngành nghề truyền thống, chính sách di dân tự do và hành nghề
theo pháp luật, chính sách gia công xuất khẩu ).
+ Các chính sách việc làm cho đối tợng đặc biệt( chính sách việc làm cho
ngời tàn tật, cho đối tợng tệ nạn xã hội ).
Mặt khác, trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trờng tình trạng thất nghiệp
là điều khó tránh. Để hạn chế thất nghiệp một mặt phải tạo chỗ làm việc mới; mặt
khác phải tránh cho ngời lao động đang làm việc lâm vào thất nghiệp. Ngoài ra,
phải có hệ thống bảo hiểm cho ngời lao động khi họ thất nghiệp.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong chính sách giải quyết việc làm, một nguyên tắc cơ bản cần phải đợc
chú ý, đó là đảm bảo cho mọi ngời đợc tiếp cận với cơ hội làm việc, trên cơ sở Nhà
nớc tạo những điều kiện thuận lợi cho mọi ngời có cơ hội chủ động tìm kiếm việc
làm, chống t tởng ỷ lại vào Nhà nớc, tránh thực hiện chủ nghĩa bình quân, chia đều
việc làm với thu nhập thấp. Đồng thời cũng chống việc coi nhẹ trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, khiến cho tình trạng thất nghiệp trở
thành vấn đề xã hội gay cấn. Cần gắn tiêu chuẩn về mức thu hút lao động của doanh
nghiệp trong chính sách khuyến khích hoặc hỗ trợ doanh nghiệp.
Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, song phơng thức và
Long
3971,3 2970,2 74,79
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 của Tổng cục Thống kê
Theo biểu trên ta thấy diện tích đất đai ở Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây
Nguyên khá lớn: Đông Bắc là 6532,6 (nghìn ha) chiếm 19,84%; Bắc Trung Bộ là
5150,1 (nghìn ha) chiếm 15,64% và Tây Nguyên chiếm 16,55% so với diện tích đất
sử dụng của cả nớc năm 2000. Tuy nhiên, đất nông nghiệp ở đây lại đợc sử dụng ít
cha đến 15% so với diện tích đất sử dụng của vùng đó. Trong khi đó, ở đồng bằng
diện tích đất ở, đất chuyên dùng và đất lâm nghiệp có rừng là 2936,9(nghìn ha)
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chiếm 44,95% diện tích đất sử dụng của vùng đó. Nh vậy, còn 2697,8 (nghìn ha) đất
là cha sử dụng và sông ngòi. Nếu so với đồng bằng sông Hồng một trong những vựa
lúa lớn nhất của cả nớc với số dân đông thứ nhất trong 8 vùng kinh tế mà diện tích
đất lại ít nhất. Từ đây có thể thấy dân số đông tập trung ở thành thị và đồng bằng là
rất lớn song đất sử dụng ở đây lại hạn chế. Hiện tợng đất chật ngời đông đã gây ra
sức ép về việc làm lớn. Vẫn biết rằng mỗi vùng có đặc điểm riêng về vị trí địa lý, về
kinh tế - xã hội song cùng với việc thiếu việc làm, sử dụng ít thời gian lao động
nông thôn làm thất nghiệp giảm, con cái không đợc chăm sóc, giáo dục đầy đủ gây
ra các tệ nạn xã hội. Chính điều đó khiến cho đời sống của ngời nông dân từ đời này
qua đời khác không khá lên đợc. Thiếu việc làm, kiến thức của ngời lao động nông
thôn thấp làm cho đất nớc Việt Nam nói chung và nông nghiệp nông thôn Việt Nam
nói riêng chậm phát triển không theo kịp với xu thế của thời đại.
Trong nông nghiệp, chính sự khác nhau về chất lợng và số lợng đất đai kết
hợp với khí hậu, nguồn nớc; các hệ sinh thái ở các vùng khác nhau dẫn đến việc
hình thành các cơ cấu sản xuất khác nhau. Điều này cho phép hình thành cơ cấu sản
xuất nông nghiệp khác nhau trên các vùng sinh thái. Mặt khác do sự phân bố không
đồng đều giữa các nguồn lực ở các vùng dẫn đến việc hình thành các ngành kinh tế
khác nhau trong mỗi vùng lãnh thổ. Điều này thể hiện rõ ở sự hình thành cơ cấu
ngành kinh tế nói chung và nông thôn nói riêng. Từ đây có thể thấy sự hình thành
nông thôn tăng rất nhanh, mỗi năm tăng khoảng 1,5 triệu ngời - đây là thời kỳ có sự
giảm biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nớc, do đó một số
lớn lao động quay trở lại khu vực nông thôn). Trong mấy năm gần đây chính sách ở
khu vực này có xu hớng giảm kết hợp với việc thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá
làm giảm mức sinh, năm 2000 so với năm 1995 dân số chỉ tăng khoảng trên dới 1
triệu ngời.
Cùng với sự gia tăng của dân số cả nớc dân số nông thôn cũng gia tăng và
chiếm một tỷ trọng lớn trong dân số cả nớc. Năm 1986 dân số nông thôn chiếm
80,7% , năm 1996 là 78,9 và đến năm 2000 tỷ lệ này giảm xuống còn 76,03%. Nh
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vậy sự phát triển yếu ớt của khu vực đô thị ở nớc ta cha đủ sức làm giảm đáng kể tỷ
trọng dân số ở nông thôn.
Chiếm phần lớn dân số cả nớc nên nguồn lao động nông thôn cũng rất dồi
dào. Năm 1996 nguồn lao động nông thôn là 29,028 triệu ngời chiếm 80,9% lực l-
ợng lao động và đến năm 2001 là 30,307 triệu ngời chiếm 76,7% lực lợng lao động
xã hội. Nh vậy mỗi năm nông thôn tiếp nhận thêm khoảng hơn 20 vạn ngời bớc vào
tuổi lao động. Nguồn lao động nông thôn tăng lên không chỉ cung cấp nguồn lực
dồi dào cho ngành nông nghiệp mà còn cung cấp cho cả công nghiệp và dịch vụ
nữa. Song khi nguồn nhân lực tăng lên tức là nhu cầu về việc làm tăng lên. Với nền
nông nghiệp nớc ta hiện nay, khi đất nông nghiệp dần bị thu hẹp, dân số nông thôn
ngày càng tăng thì tạo việc làm cho ngời lao động ở đây luôn là vấn đề bức xúc
nhất. Tuy nhiên, để ngời lao động có cơ hội tìm việc làm chỉ có nhà nớc mới giúp đ-
ợc bằng các chính sách hỗ trợ vốn, chính sách di dân, đặc biệt là các chính sách
khuyến khích mở rộng và phát triển kinh tế vùng trong giai đoạn chuyển dịch cơ
cấu kinh tế hiện nay.
1.2.2 Nguồn lao động nông thôn phân bố không đồng đều giữa các ngành và
vùng.
Thực tế cho thấy, cơ cấu nguồn lao động ở nông thôn phân bố cha hợp lý.
Gần 85% lao động làm nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi song lao
càng đa dạng và tỉ mỉ. Từ năm1994, vốn đầu t cho ngành dịch vụ tăng cao do tỷ suất
lợi nhuận của đầu t trong nông nghiệp thấp, đồng Việt Nam lên giá mạnh, FDI
chảy vào nhiều, các nhà đầu t đã đổ dồn vào ngành dịch vụ và các công nghiệp đợc
Nhà nớc bảo hộ. Quá trình tăng vốn đầu t kéo theo quá trình thu hút lao động xã hội
ngày càng tăng vào nhóm ngành dịch vụ. Hàng năm có hơn một triệu thanh niên bắt
đầu tham gia lực lợng lao động và nếu không có thêm cơ hội việc làm trong ngành
công nghiệp nằm ngoài các trung tâm tăng trởng, đa số các thanh niên này sẽ gia
nhập vào nông nghiệp hoặc khu vực phi chính thức. Hiện nay mặc dù đã có sự
chuyển biến trong cơ cấu ngành kinh tế nhng vẫn tỏ ra rất lạc hậu và tập trung vào
sản xuất nông nghiệp.
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bảng3: Dân số lao động nông thôn phân theo vùng
Năm
Vùng
1996 1997 1998 1999 2000
DSTB DSNT DSTB DSNT DSTB DSNT DSTB DSNT DSTB DSNT
Cả nớc 73.156,7 57.736,8 74.306,9 57.471,5 75.456,3 57.991,7 76.596,7 58.515,1 77.685,5 59.065,6
Duyên hải
NTB
6.287,3 4.799,8 6.372,7 4.756,9 6.460,5 4.755,9 6.545,6 4.794,4 6.622,5 4.829,8
Tây
Nguyên
3.563,0 2.685,2 3.743,1 2.779,8 3.922,2 2.884,5 4.096,1 2.997,8 4.248,0 3.120,0
Đông Nam
Bộ
10.947,3 5.922,8 11.203,6 5.572,5 11.478,8 5.699,0 11.777,1 5.742,8 12.070,7 5.807,1
Đồng bằng
sông Cửu
Long
dân c năm 1997-1998 đã sử dụng chỉ số cơ thể (BMI), theo cách này có tới 62,51%
lao động nam và 36,93% lao động nữ ở nông thôn dới mức bình thờng, trong khi
trên phạm vi cả nớc tỷ lệ tơng ứng của lao động nam là 59,29% và nữ là 34%.
Về trình độ học vấn: trình độ học vấn của lao động ngày càng đợc nâng cao.
Năm 2000, trên phạm vi cả nớc tỷ lệ lao động biết chữ là 96% tơng đơng với một số
nớc phát triển trong khu vực nh Singapore, Malaysia... Đối với khu vực nông thôn,
tốt nghiệp phổ thông cơ sở và trung học phổ thông khoảng 45,8% thấp hơn khu vực
thành thị 19,7%. Điều này không chỉ hạn chế lao động nông thôn trong việc tiếp thu
và ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ và sản xuất mà còn là nhân tố
cản trở họ trong việc theo học các khoá đào tạo nghề, bởi điều kiện học nghề tối
thiểu phải có trình độ văn hoá ở bậc trung học cơ sở.
Tuy trình độ học vấn của nông thôn không phải quá thấp nhng đại bộ phận lại
không đợc đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Năm 1996, tỷ lệ lao động nông thôn qua
25