Báo cáo nghiên cứu khoa học " Vài nét về tiến trình cải cách nông thông Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay " - Pdf 21


22
Nguyễn Xuân Cờng*
ừ năm 1978 Trung Quốc bắt
đầu thực hiện chính sách cải
cách mở cửa, trải qua hơn 20
năm nỗ lực, Trung Quốc đã giành đợc
nhiều thành tựu to lớn. Bộ mặt nông
thôn Trung Quốc diễn ra những thay đổi
sâu sắc, cơ cấu kinh tế xã hội đã dịch
chuyển dần theo hớng công nghiệp hoá
hiện đại hoá. Tiến trình cải cách nông
thôn Trung Quốc là những kinh nghiệm
quí, gợi mở nhiều điều khi chúng ta đang
đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
I. các giai đoạn cải cách nông
thôn Trung Quốc
1. Giai đoạn 1978-1984
Sau những năm khốc liệt của Đại
cách mạng văn hoá, nền kinh tế Trung
Quốc đứng bên bờ vực thẳm, sản xuất
đình trệ, đời sống nhân dân vô cùng khó
khăn, đòi hỏi Trung Quốc phải tiến hành
cải cách kinh tế, phát triển xã hội. Cải

thể chế kinh tế nông thôn, thực hiện
hình thức khoán đến hộ gia đình. Đến
* Thạc sĩ. Viện Nghiên cứu Trung Quốc.
T

Vài nét về cải cách nông thôn

23

cuối năm 1984, cả nớc có 5,69 triệu đội
sản xuất, trong đó 99,96% số đội đã thực
hiện khoán từng khâu hay khoán toàn bộ
đến hộ, chiếm 98,2% số thôn, 96,3% số
hộ, và 98,6% đất canh tác
(1)
. Hình thức
kinh doanh này phù hợp với trình độ sản
xuất trong nông nghiệp, giải phóng đợc
sức sản xuất ở nông thôn Trung Quốc.
Cùng với chính sách khoán đến hộ,
Trung Quốc còn thực hiện chính sách
phát triển nhiều thành phần kinh tế, giải
phóng và phát triển hơn nữa sức sản
xuất ở nông thôn. Cải cách giá cả lơng
thực và thực phẩm là biện pháp quan
trọng nữa trong cải cách thể chế kinh tế
nông thôn Trung Quốc. Tiếp đến, Trung
Quốc thực hiện cải tiến chế độ thu mua
và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp.
Một thời gian dài Trung Quốc đã thực

đã ra Quy định về một số vấn đề phát
triển xí nghiệp xã đội, đây là văn bản
pháp quy đầu tiên chỉ đạo phát triển xí
nghiệp xã đội. Tiếp theo đó Trung Quốc
đã ban hành nhiều quy định thúc đẩy xí
nghiệp xã đội phát triển. Đến năm 1983
tổng giá trị công nghiệp của các xí nghiệp
xã đội là 75,71 tỷ NDT, tăng 96,5% so với
năm 1978.
Năm 1978, nông nghiệp Trung Quốc
chiếm 28,1%, công nghiệp chiếm 48,2%,
dịch vụ chiếm 21,4% trong GDP. Trong
đó nông nghiệp chiếm gần 70%, công
nghiệp chiếm khoảng 26 %, dịch vụ
chiếm khoảng 5% tổng GDP của nông
thôn. Tới năm 1983, tỷ trọng nông
nghiệp trong tổng GDP giảm xuống còn
27%. Có thể thấy cải cách nông thôn
Trung Quốc thời kỳ này đã giành đợc
thành tựu khả quan, tạo cơ sở cho bớc
phát triển tiếp theo. Từ năm 1985, trọng
tâm của cải cách chuyển dịch sang thành
thị, nông nghiệp nông thôn tiếp tục đi
sâu vào cải cách, công xã nhân dân bị
giải thể, xí nghiệp hơng trấn bùng phát.
2. Giai đoạn năm 1985-1991
Từ năm 1958, Trung Quốc thực hiện
thể chế quản lý chính xã hợp nhất,
nghĩa là hợp nhất giữa chính quyền,


triệu xí nghiệp hơng trấn, năm 1984
tăng lên khoảng 12,25 triệu, năm 1994 có
24,95 triệu xí nghiệp hơng trấn. Số công
nhân làm việc trong xí nghiệp hơng
trấn năm 1978 khoảng 28,2 triệu ngời,
năm 1991 lên tới khoảng 96 triệu ngời.
Sự phát triển của xí nghiệp hơng trấn
đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu
việc làm ở nông thôn Trung Quốc. Năm
1978, giá trị sản lợng xí nghiệp hơng
trấn đạt 49,3 tỷ NDT, năm 1985 lên
272,8 tỷ NDT, tới năm 1987 giá trị sản
lợng của các xí nghiệp hơng trấn vợt
qua giá trị sản lợng nông nghiệp
(3)
. Đến
năm 1988, giá trị sản lợng của các xí
nghiệp hơng trấn đạt 499,29 tỷ NDT,
chiếm 27,4% tổng giá trị sản lợng công
nghiệp toàn quốc, số công nhân lên tới 57
triệu ngời. Mức tăng trởng bình quân
giá trị sản lợng của các xí nghiệp hơng
trấn trong giai đoạn 1984-1988 đạt
38,1%
(4)
. Xí nghiệp hơng trấn không chỉ
tăng nhanh về số lợng, đa dạng hoá loại
hình sở hữu, mà còn mở rộng phạm vi
sản xuất kinh doanh với nhiều ngành
nghề công nghiệp, nông nghiệp, thơng


nghiệp hơng trấn tăng 9,1% năm 1980
lên 30,8% năm 1991 trong tổng sản
lợng công nghiệp toàn quốc.
Văn kiện số 1 của Trung ơng Đảng
Cộng sản Trung Quốc tháng 1-1986, đã
đa ra kế hoạch Đốm lửa, dùng khoa
học kỹ thuật chấn hng nông thôn, đa
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông
nghiệp và phát triển nông thôn, dùng
đốm lửa khoa học đốt sáng, dẫn đờng
cho nông nghiệp nông thôn tiến lên. Theo
số liệu thống kê, từ năm 1985-1990 có
14633 dự án đã đợc hoàn thành, chiếm
52,4% tổng số dự án, làm tăng tổng giá
trị sản lợng kinh tế nông thôn là 33,124
tỷ NDT. Số dự án đạt chất lợng tốt là
hơn 90%, đã tạo ra hơn 300 dây chuyền
thiết bị toàn bộ cho xí nghiệp hơng trấn,
đào tạo đợc 8,9 triệu cán bộ kỹ thuật và
cán bộ quản lý cho nông thôn. Trớc năm
1978, nhân tố khoa học kỹ thuật trong
tăng trởng kinh tế nông thôn chỉ
khoảng 20%, qua thực hiện kế hoạch
Đốm lửa đã nâng lên 35-40%. Nhiều kỹ
thuật nuôi trồng, cải tạođợc ứng dụng
vào sản xuất nông nghiệp.
Đến năm 1990, cơ cấu GDP theo
ngành ở Trung Quốc lần lợt là nông
nghiệp 27,1%, công nghiệp 41,6%, dịch

những ngời nông dân đi nơi khác làm
thuê, hộ khẩu vẫn ở nông thôn nhng đi
làm thuê làm mớn theo thời vụ. Tầng
lớp này ớc tính khoảng 24% số dân nông
thôn. (3) Tầng lớp công nhân nông thôn,
họ đi làm thuê cho các xí nghiệp t
doanh hoặc các hộ công thơng cá thể. Số
công nhân nông thôn này năm 1987 vào
khoảng 7-8 triệu ngời, chiếm chừng 4%
số dân nông thôn. (4) Tầng lớp trí thức
nông thôn, họ là những phân tử trí thức
làm trong các ngành giáo dục, khoa học
kỹ thuật, văn hoáở nông thôn, họ
chiếm khoảng 1,5-2% dân số nông thôn.
(5) Tầng lớp lao động, công thơng cá thể
khoảng 5%. (6) Tầng lớp chủ doanh
nghiệp t doanh khoảng 0,1-0,2%. (7)

26

Những ngời quản lý xí nghiệp hơng
trấn khoảng 3%. (8) Những ngời quản
lý nông thôn khoảng 6%
(5)
.
Nh vậy, xí nghiệp hơng trấn đã
đóng góp rất lớn, tạo của cải vật chất cho

kinh tế tập thể ở nông thôn phát triển
mạnh. Chế độ lu thông và thu mua
lơng thực tiếp tục đợc cải cách. Hệ
thống thị trờng nông thôn đợc xây
dựng và phát triển. Nông nghiệp và nông
thôn đã thực hiện đợc những đột phá
nh cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển
dịch theo hớng đa dạng, tỷ trọng ngành
trồng trọt đã giảm xuống, tỷ trọng các
ngành lâm, ng nghiệp và chăn nuôi đã
tăng lên. Cục diện nông thôn thuần nông
đã bị thay thế bởi nhiều ngành nghề phi
nông nghiệp, trong đó hạt nhân là các xí
nghiệp hơng trấn. Tốc độ phát triển của
các ngành phi nông nghiệp ở nông thôn
không những vợt qua nông nghiệp mà
còn vợt cả công nghiệp ở thành thị.
Nông nghiệp không còn khép kín mà đã
dần chuyển sang ngành kinh tế mở, ví
nh năm 1995 tổng kim ngạch xuất khẩu
các mặt hàng nông sản và gia công vợt
50 tỷ USD, tơng đơng 30% tổng kim
ngạch xuất khẩu của Trung Quốc
(6)
.
Cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của
thế kỷ XX, ở nông thôn Trung Quốc xuất
hiện các tổ chức kết hợp giữa nông hộ với
công ty, hoặc nông hộ với tập thể, nông
hộ cùng với các tổ chức kinh tế v.v tiến

. Nh vậy, tiến trình đô thị hoá
nông thôn đã tạo tiền đề tốt để thực hiện
nhất thể hoá thành thị nông thôn, đẩy
nhanh quá trình chuyển biến từ xã hội
nông nghiệp sang xã hội công nghiệp,
làm cho nông thôn mở cửa hơn.
Có thể thấy, bộ mặt nông nghiệp
nông thôn Trung Quốc đã có những thay
đổi to lớn từ khi cải cách mở cửa, từ sản
xuất lơng thực đơn thuần trớc đây đã
chuyển sang sản xuất nhiều chủng loại
lơng thực, thực phẩm; ngành nghề kinh
doanh đa dạng, nhiều thành phần, chế
độ thu mua lơng thực và lu thông
hàng hoá ở nông thôn đợc cải cách, cơ
cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch rõ nét,
mức độ thị trờng hoá của nông thôn mở
rộng hơn. Các giai tầng ở nông thôn cũng
diễn ra những phân hoá sâu sắc.
II. Những Vấn đề tồn tại và
triển vọng
1. Những vấn đề tồn tại
1.1. Cơ cấu kinh tế xã hội tách biệt
thành thị nông thôn: Bấy lâu nay thành
thị và nông thôn Trung Quốc là hai khu
vực độc lập, hai hệ thống xã hội kép kín,
kinh tế độc lập, khác tính chất, hai tập
đoàn lợi ích khác nhau. Thành thị và
nông thôn chênh lệch về nhiều mặt. Cơ
cấu hai khu vực hay cơ cấu xã hội phân

xã hội tách biệt của Trung Quốc đã
chuyển biến, nhng vẫn là vấn đề lớn
của nông thôn Trung Quốc hiện nay. Đây
là một trong những trở ngại chính của
tiến trình hiện đại hoá Trung Quốc.
C dân thành thị và nông dân chênh
lệch về thu nhập, tiêu dùng, phúc lợi.
Thành thị và nông thôn chênh lệch nhau

28

về kinh tế, văn hoá Từ khi cải cách mở
cửa, kinh tế nông thôn phát triển nhanh
nhng thành thị còn phát triển nhanh
hơn nhiều, chênh lệch không những
không giảm mà còn có xu hớng tăng
nhanh. Năm 1978, thu nhập thuần bình
quân hộ nông dân là 133 NDT, hộ c dân
thành thị là 343 NDT, chênh lệch theo tỷ
lệ 1: 2,5; năm 1985, thu nhập bình quân
của nông dân là 357 NDT, còn c dân
thành thị là 739 NDT, chênh lệch theo tỷ
lệ 1:1,8. Đến năm 2002, thu nhập của
nông dân là 2476 NDT, thu nhập c dân
thành thị là 7703 NDT, tỷ lệ chênh lệch
lên tới 1: 3,1. Mức tiêu dùng của c dân
thành thị không ngừng nâng cao, chênh

nông thôn và thành thị.
1.2. Đời sống kinh tế - xã hội nông
thôn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm và bức
xúc
Năm 2000, Lý Xơng Bình - một thạc
sỹ kinh tế đã từng sống và làm việc ở nông
thôn 17 năm, Bí th đảng uỷ xã - đã gửi
th tới Thủ tớng bày tỏ những nỗi niềm
của mình về nông thôn Trung Quốc. Lý
Xơng Bình viết: hiện nay nông dân
Trung Quốc thật khổ, nông thôn thật
nghèo, nông nghiệp thật nguy hiểm
(8)
.
Bức th của Lý Xơng Bình đã gây xôn
xao d luận và vấn đề tam nông trở nên
nóng bỏng.
Năm 2003, tổng giá trị gia tăng của
nông nghiệp là 1724,7 tỷ NDT, chiếm
14,8% GDP. Thu nhập thuần của nông
dân bình quân 2622 NDT. Từ năm 1999
đến nay, sản lợng lơng thực của Trung
Quốc không ngừng giảm. Năm 1999 tổng
sản lợng lơng thực đạt 508,38 triệu
tấn, năm 2000 là 462,17 triệu tấn; năm
2003 là 430,65 triệu tấn. Xu hớng này
tiếp diễn thì vấn đề an ninh lơng thực
Trung Quốc sẽ nổi lên trong mấy năm
tới. Về thu nhập của nông dân, từ năm
1978 đến 1997 thu nhập của nông dân

vụ là 28,6%, trong khi tỷ lệ cơ cấu trong
GDP theo ngành lần lợt là 14,5%:
51,8%: 33,7%
(9)
.
Chế độ khoán ruộng đất cho nông dân
đã từng là yếu tố khích thích tính tích
cực sản xuất nông nghiệp của nông dân.
Song đến nay, do khoán mà đất đai bị xé
lẻ, phân tán không có lợi cho cơ giới hoá
nông nghiệp, sản xuất lớn. Hiện nay
cũng có nhiều nơi nông dân không mặn
mà với công việc trồng cấy bởi chi phí lớn,
thu nhập thấp nên một số hộ cho thuê
hoặc bán ruộng đất đợc khoán. Một vấn
đề theo đó là thời hạn khoán đất không
phải là vô hạn. Quan hệ giữa quyền sở
hữu và quyền kinh doanh đất đai vẫn
cha tìm đợc đáp án dài lâu. Những vấn
đề nổi cộm ở nông thôn phần lớn liên
quan đến đất đai. Hiện nay các khoản
thuế phí ở nông thôn còn nhiều, theo Lý
Xơng Bình các loại thuế phí mà nông
dân phải đóng góp ngày càng tăng, bình
quân 2500-3000 NDT/năm
(10)
. Quan hệ
giữa bà con nông dân với cán bộ chính
quyền cơ sở căng thẳng, mẫu thuẫn cọ
sát không giảm, số cán bộ đông, số nợ tài

cải cách nông thôn, hoàn thiện thể chế
kinh tế nông thôn: hoàn thiện chế độ
ruộng đất nông thôn, kiện toàn dịch vụ
xã hội hoá nông nghiệp, đi sâu cải cách

30

chế độ thuế phí ở nông thôn, cải thiện
điều kiện chuyển dịch việc làm và lao
động dôi d ở nông thôn. Hai là, hoàn
thiện hệ thống thị trờng, quy phạm trật
tự thị trờng: tăng nhanh việc xây dựng
thị thờng thống nhất toàn quốc. Ba là,
hoàn thiện thể chế tài chính, tiền tệ; thúc
đẩy cải cách thể chế phân phối, hoàn
thiện hệ thống bảo đảm xã hội; nâng cao
toàn diện trình độ mở cửa với bên ngoài
v.v Qua đó Trung Quốc đang nỗ lực xây
dựng hệ thống thị trờng hoàn thiện,
thống nhất và toàn diện.
Việc thực hiện chính sách coi trọng
công nghiệp và thành thị của Trung
Quốc trong những thập niên qua đã tạo
những hố ngăn cách lớn giữa thành thị
và nông thôn, giữa công nghiệp và nông
nghiệp. Phối hợp phát triển giữa thành
thị và nông thôn, tơng trợ giữa công

xuống 15,5% năm 2005, các sản phẩm
nông nghiệp phải thực hiện tốt các cam
kết về kiểm dịch, chất lợng đây có thể
là những cú sốc hay bỡ ngỡ ban đầu khi
tham gia một sân chơi lớn, nhng điều đó
cũng tạo động lực để Trung Quốc đẩy
nhanh cải cách và phát triển nông
nghiệp, nông thôn.
Kinh doanh ngành nghề hoá nông
nghiệp qua hơn 10 năm phát triển đã có
những thành quả rõ nét. Theo điều tra,
năm 2001 có hơn 66000 tổ chức kinh
doanh ngành nghề hoá nông nghiệp. Loại
hình các tổ chức ngày càng đa dạng, có
tới hơn 27000 xí nghiệp đầu tầu và hơn
2200 tổ chức trung gian
(11)
. Các tổ chức
này cũng mở rộng sang nhiều ngành
nghề, khu vực cũng rộng khắp từ miền
Đông sang miền Tây, hình thức liên kết
cũng đa dạng hơn. Một số địa phơng đã
hình thành các khu chuyên doanh. Rất
nhiều ngời cho rằng kinh doanh ngành
nghề hoá là lối thoát cho nông nghiệp
Trung Quốc, là cầu nối có hiệu quả để
hiện đại hoá nông nghiệp. Tuy nhiên,
kinh doanh ngành nghề hoá nông nghiệp
ở Trung Quốc mới ở giai đoạn đầu, môi
Vài nét về cải cách nông thôn

cải cách hệ thống tiền tệ ở nông thôn;
giảm thuế nông nghiệp. Văn kiện số
1-2005 tiếp tục đặt công tác tam nông ở
vị trí quan trọng hàng đầu trong công tác
kinh tế của Trung Quốc.

Chú thích:
(1) Nguyễn Đăng Thành: Cải cách nông
nghiệp và nông thôn Trung Quốc, Nxb
Chính trị Quốc gia, năm 1994, tr.27.
(2) Mao Dục Cơng: Tìm hiểu diễn biến
nông nghiệp Trung Quốc, Nxb Văn hiến
KHXH, năm 2001, tr.43 (bản Trung văn).
(3) Nh chú thích (2), tr.270
(4) Lâm Thiện Vĩ: Chiến lợc điều chỉnh
cơ cấu kinh tế Trung Quốc, Nxb KHXH
Trung Quốc, năm 2003, tr.498. (bản Trung
văn)
(5) Lục Học Nghệ chủ biên: Báo cáo
nghiên cứu các giai tầng Trung Quốc
đơng đại, Nxb văn hiến KHXH, năm
2002, tr.173.(bản Trung văn)
(6) Lý Thành Huân chủ biên: Chiến lợc
phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc
1996-2050: Những ý tởng hớng tới hiện
đại hoá, Nxb Bắc Kinh, năm 1997, tr.93.
(bản Trung văn)
(7) Tất Tứ Sinh (chủ biên): Báo cáo vấn
đề nổi cộm nông nghiệp, nông thôn, nông
dân Trung Quốc, Nxb Nhân dân nhật báo,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status