ĐỀ TÀI:
Phân tích,đánh giá thực trạng
quảng cáo Việt Nam hiện nay
1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. Khái quát chung về quảng cáo
1.1. Quảng cáo:
1.2. Các phương tiện quảng cáo thường được sử dụng
1.3. Hiệu quả của quảng cáo
II. Phân tích, đánh giá thực trạng quảng cáo ở Việt Nam hiện nay
2.1. Thực trạng quảng cáo Việt Nam hiện nay
2.1.1. Quảng cáo trên báo chí:
2.1.2. Quảng cáo trên truyền hình, truyền thanh
2.1.3. Quảng cáo trực tuyến trên mạng Internet
3
4
4
4
4
4
5
5
5
6
11
12
13
14
14
I. Khái quát chung về quảng cáo:
1.1. Quảng cáo:
Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, phi cá nhân được thực
hiện thông qua các phương tiện truyền tin phải trả tiền và các chủ thể quảng cáo phải chịu
chi phí.
Quảng cáo là một trong những chiến lược xúc tiến hỗn hợp Marketing quan trọng. Bao
gồm mọi hình thức truyền tin chủ quan và gián tiếp về những ý tưởng hàng hóa hoặc dịch
vụ được thực hiện theo yêu cấu của chủ thể quảng cáo và các chủ thể quảng cáo phải thanh
toán chi phí.
4
Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người
tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết
phục về sản phẩm hay dịch vụ của người bán.
Quảng cáo là công cụ truyền thông được sử dụng khá phổ biến đặc biệt là trong thị
trường tiêu dùng hàng cá nhân. Hoạt động quảng cáo rất phong phú. Các công ty hoạt động
tích cực để truyền tin của mình qua quảng cáo ra thị trường. Việc sử dụng thông tin quảng
cáo tùy thuộc từng đối tượng nhận tin. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện của từng công ty, từng
ngành, từng vùng và từng loại sản phẩm hàng hóa mà hoạt động quảng cáo có những nét
đặc thù khác nhau.
1.2. Các phương tiện quảng cáo thường được sử dụng:
Một số phương tiện quảng cáo thường được sử dụng:
- Quảng cáo trên báo chí, tạp chí.
- Quảng cáo trên radio.
- Quảng cáo trên tivi.
- Quảng cáo trên các pano, áp phích, qua catalog,…
1.3. Hiệu quả của quảng cáo:
Quảng cáo đem lại thông tin cần thiết cho người tiêu dùng, là hình thức gián tiếp của
chủ thể quảng cáo nhằm quảng bá sản phẩm, hình ảnh, dịch vụ của mình.
Quảng cáo là công cụ hữu hiệu để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ đến người tiêu dùng.
Một quảng cáo thành công sẽ đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Nếu như cách đây
Vị trí trên báo hay các ấn phẩm in thường được các doanh nghiệp lựa chọn để đặt
quảng cáo là bìa 4 (45,2%), trang đặc biệt cạnh bìa (41,9%) và 2 trang ruột liền nhau
(38,7%). Chỉ có 6,5% các doanh nghiệp chọn 2 trang ruột không liền nhau trên báo hoặc
các ấn phẩm để in quảng cáo. Kích cỡ quảng cáo trên báo hay các ấn phẩm in được các
doanh nghiệp lựa chọn thường là khổ lớn. Hầu hết các doanh nghiệp đã từng quảng cáo
trên báo hay các ấn phẩm in đều lựa chọn kích cỡ quảng cáo trên cả trang (96,7%). Tỷ lệ
các doanh nghiệp lựa chọn kích cỡ quảng cáo trên 1/8 trang hoặc nhỏ hơn rất thấp, chỉ
6
chiếm 3,3% số doanh nghiệp được hỏi. Trong số các doanh nhiệp được điều tra, không có
doanh nghiệp nào lựa chọn kích cỡ quảng cáo trên 1/8 trang báo hoặc các ấn phẩm in.
Như vậy, hình thức quảng cáo sử dụng hình thức quảng cáo này với mức độ nhiều lần
(45,2%) hoặc thường xuyên (54,8%). Khoảng 3/4 các doanh nghiệp được hỏi đã từng đăng
quảng của mình trên các báo Thanh niên, Thời báo Kinh tế, báo Lao động và các báo/ tạp
chí của các địa phương. Tỷ lệ các doanh nghiệp chọn các báo/ tạp chí chuyên về thể thao
hay các báo của ngành Công an để đăng quảng cáo thấp hơn, chỉ dưới 30%. Hầu hết quảng
cáo của các doanh nghiệp được đặt ở bìa 4 (45,2%), trang đặc biệt cạnh bìa (41,9%) hoặc 2
trang ruột liền nhau (38,7%) và kích cỡ chủ yếu mà các doanh nghiệp lựa chọn là cả trang
(96,7%).
2.1.2. Quảng cáo trên truyền hình, truyền thanh:
Quảng cáo trên truyền hình là một loại hình quảng cáo phổ biến từ những năm 50 của
thế kỷ 20. Do là loại hình quảng cáo hiệu quả nên quảng cáo trên truyền hình ngày càng
phát triển. Cùng với sự thành công trong ngành công nghiệp truyền hình, các chương trình
quảng cáo đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọt người.
Khi đời sống xã hội ngày càng phát triển, thì nhu cầu về thông tin, giải trí ngày càng
lớn. Mặt khác, theo số liệu thống kê của công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, hiện nay ở
4 thị trường chủ lực là vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh), vùng
duyên hải miền trung (Đà Nẵng, Huế), vùng Đông Nam Bộ ( Thành phố Hồ Chí Minh,
Bình Dương), và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ) có khoảng gần 90% số hộ gia
đình có sở hữu ít nhất một chiếc Tivi ( trong đó có 95% hộ gia đình ở thành thị, và 84% hộ
gia đình ở nông thôn). Nếu đem so sánh tỷ lệ con số sở hữu tivi theo hộ gia đình ở Việt
số lượng khán giả xem các chương trình khác nhau.
Bảng: Phân bố thời lượng phát sóng và số lượng khán giả theo dõi
chương trình truyền hình.
Loại chương trình
truyền hình
Thời lượng
phát sóng (%)
Số lượng
khán giả (%)
Tin tức, chính trị, kinh tế 15,3 9,3
Phim dài tập 22 25,5
8
Thể thao 9,8 7,8
Phóng sự, tài liệu 2,9 7,2
Giáo dục 2,4 2,9
Giải trí 13,2 13,7
Đời sống 1,6 3,5
Các vấn đề được quan tâm chung 19,5 6,9
Phim truyện 3,2 9,3
Các chương trình khác 10,2 13,9
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002)
Nhìn chung, do số lượng người xem truyền hình ngày càng lớn dẫn đến nhiều doanh
nghiệp khuếch trương giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình thông qua các hoạt động
quảng cáo truyền hình. Hiện nay, bên cạnh các chương trình truyền hình vô tuyến và hữu
tuyến được phát sóng trên hơn 60 kênh truyền hình là các chương trình quảng cáo và các
chương trình quảng cáo đã không thể tách rời truyền hình.
Trong những năm đầu tiên, chi phí hoạt quảng cáo truyền hình từ năm 1993 – 1996
luôn ở mức năm sau tăng gấp đôi năm trước. Chi phí hoạt động quảng cáo truyền hình năm
1995 đạt 34 triệu USD tăng 180% so với năm 1994, năm 1994 so với năm 1993 tăng 150%
chỉ đạt 13 triệu USD. Nguyên nhân chủ yếu của sự tăng trưởng như vũ bão của hoạt động
truyền hình là hình thức quảng cáo đắt đỏ nhất, nhưng lại thu hút các doanh nghiệp đầu tư
cho hoạt động quảng cáo này.
Trong một số năm trở lại đây, hoạt động quảng cáo trên truyền hình bắt đầu hướng tới
con đường chuyên nghiệp hơn. Tốc độ tăng trưởng xét về mặt chi phí dành cho quảng cáo
trên truyền hình so vời thời kì trước có phần chững lại. Tốc độ tăng trưởng trung bình từ
năm 1997 đến tháng 7 năm 2003 vào khoảng 14.5% năm. Tuy nhiên nếu đem so sánh với
một số nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay Malaysia thì tốc độ tăng trưởng
trong khoảng thời gian này vẫn được xem như là con số mơ ước, đặc biệt ấn tượng khi mà
các hoạt động quảng cáo trên mà hoạt động quảng cáo trên truyền hình ở Việt Nam bắt đầu
đi vào giai đoạn phát triển ổn định. Cũng trong giai đoạn này tốc độ tăng trưởng của quảng
cáo trên truyền hình ở Malyisa gần như không tăng, thậm chí năm 2001 còn xuất hiện tình
trạng tăng trưởng âm (- 6,1%) so với năm 2000, Thái Lan tuy có khá hơn song mức tăng
trưởng trung bình trong thời kì này cũng chỉ đạt mức dưới 2 con số, khoảng 7,5% năm, còn
Singapore cũng chỉ đạt mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn này là 10 % năm.
Trong khoảng từ năm 1997-2003, năm 1998 có tốc độ tăng trưởng được coi là thấp nhất
kể từ khi ngành quảng cáo trên truyền hình bắt đầu thức sự xuất hiện ở Việt Nam. Năm
1998, mức chi phi dành cho quảng cáo trên truyền hình là 41,6 triệu USD, tăng trưởng âm
2,9% so với năm 1997. Nguyên nhân dẫn đến tốc độ tăng trưởng chậm hơn, thậm chí tăng
trưởng âm so với các năm khác chủ yếu là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
châu Á vào cuối năm 1997 đầu năm 1998. Trái với năm 1998, năm 2000 có tốc độ tăng
trưởng nhảy vọt, tăng 49% so với năm 1999 lớn nhất trong 7 năm qua. Chi phí quảng cáo
trên truyền hình của riêng năm 2000 là 70,793 triệu USD. Những lí do giải thích cho sự
10
nhảy vọt trong chi phí quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh ở Việt Nam là do tình hình kinh tế các nước đã thoái ra khỏi thỏi kì khủng hoảng tài
chính, cũng như những những biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh hút vốn đầu tư nước
ngoài, đồng thời áp dụng các biện pháp khuyến khích hơn nữa các doanh nghiệp trong
nước phát triển của nhà nước như tiến hành áp dụng luật doanh nghiệp cuối năm 1999,
cũng như thi hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sửa đổi Trong khi đó, từ 2001 trở
lại đây, tốc độ tăng trưởng quảng cáo trên truyền hình duy trì ở mức ổn định 14% năm,
rất lâu. Chẳng hạn công nghệ AdSense của Google có thể “đọc” thông tin trên trang web và
đưa lại các quảng cáo có liên quan đến nội dung của trang.
Một yếu tố khác khiến quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam “thua chị kém em” là sự nghèo
nàn đơn điệu về hình thức. Ngoài banner và pop-up, hầu như không thể tìm thấy loại hình
quảng cáo nào khác. Trong khi đó trên thế giới, nguồn thu chính trong quảng cáo trực
tuyến lại là dịch vụ tìm kiếm.
Sự đa dạng trong công nghệ quảng cáo cũng cho phép khách hàng có được nhiều lựa
chọn khác ngoài “treo banner” như: web video, điều tra trực tuyến (online survey), quảng
cáo bằng các nội dung đa phương tiện (rich media) lồng ghép như quảng cáo trong trò chơi
điện tử (in-game ads), quảng cáo trong các tập tin âm thanh và hình ảnh truyền phát trực
tiếp (in-streaming ads)
2.1.4. Quảng cáo bẳng pano, áp phích và nhiều hình thức khác:
Ngoài những hình thức quảng cáo trên, còn có nhiều hình thức quảng cáo khác như: các
biển quảng cáo lớn, các hoạt động quảng cáo ngoài trời, …
Biển quảng cáo, hình thức quảng cáo này chúng ta được thấy thường xuyên khi đi
ngoài đường. Những tấm biển quảng cáo lớn được đặt ở những nơi dễ chú ý nhất, nhiều
người qua lại. Với giá trị sử dụng lâu dài, hình thức này được nhiều công ty chuyên về dịch
vụ quảng cáo áp dụng. Mặc dù, đây không phải là hình thức quảng cáo được sử dụng rỗng
rãi nhưng nó vẫn có lợi thế nhất định về tính tập trung chú ý cao.
Quảng cáo trên đường phố, ngay sau khi Hà Nội cho phép loại hình quảng cáo trên xe
bus được phép hoạt động trở lại vào năm 2007, nhiều chiếc xe bus đã được thiết kế nhiều
hình ảnh đẹp mắt của các nhãn hàng như Coca-Cola, LaVie, Kinh Đô, Motorola, Neptune,
12
ACB, Bank, RedBull, Orient… chạy khắp các đường phố và gây được sự chú ý của người
tiêu dùng.
Quảng cáo Billboard, là loại hình quảng cáo ở tầm cao như nóc nhà, tường các tòa nhà,
các loại hình được dựng độc lập , rất kiên cố và thường sử dụng các kỹ thuật mới nhất…
Trung bình, giá để có một billboard quảng cáo khoảng 30.000 USD/năm.Những công ty
quảng cáo ngoài trời thường có “đất” cố định và việc khai thác “đất mới” rất khó khăn.
Trong khi đó các sản phẩm làm thương hiệu ngày càng nhiều, nên đối với loại hình này,
còn mơ hồ khó hiểu. Bên cạnh đó, có những quảng cáo là sai lệch lịch sử, không phù hợp
với thuần phong mỹ tục của người Việt, hình ảnh thiếu văn hóa,… Đã làm cho người xem
thấy phản cảm, chán ghét quảng cáo và khiến họ quay lưng.
KẾT LUẬN
Quảng cáo là chiến lược không thể thiếu trong các hoạt động xúc tiến của các doanh
nghiệp. nhờ vậy mà các doanh nghiệp đưa đến người tiêu dùng những thông tin về sản
phẩm của mình một cách sinh động.
Chỉ trong khoảng 10 năm quảng cáo nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng
với những thành quả đáng kể và có ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống.
Tuy nhiên, quảng cáo nước ta còn nghèo nàn lạc hậu so với Thế giới, nguồn nhân lực
còn thiếu, trình độ còn kém, không xác định được hướng phát triển đúng đắn. Vì đây là
một nghành khá mới mẻ cho nên chưa có bước phát triển vững chắc ở hiện tại và tương lai
gần. Để hoạt động quảng cáo được phát triển giảm dần những nhược điểm của doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quảng cáo. Hiệp hội quảng cáo Việt Nam nên có các chính
sách khuyến khích sự phát triển của quảng cáo trong nước, nới lỏng một số quy định để thu
hút đầu tư nước ngoài vào ngành quảng cáo trong nước.
14
Một tương lai mở ra cho ngành quảng cáo Việt Nam sẽ có những bước phất triển vượt
bậc, đem lại sự hiệu quả nhất cho các doanh nghiệp trong việc truyền đạt thông tin sản pẩm
dịch vụ mà họ mong muốn./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, Website: www.tailieu.vn
2, Tổng hợp số liệu của AC Nielsen Việt Nam và Tayor Nelson Sofres Việt Nam.
3, Tổng hợp báo cáo của Tayor Nelson Sofres Việt Nam, năm 2002.
4, Giáo trình Marketing căn bản, 2009.
Và một số thông tin được thu thập trên mạng khác.
15