Thực trạng rừng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 32

LỜI CẢM ƠN!
Qua đề tài nghiên cứu này em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Liên_
cô giáo bộ môn nghiên cứu khoa học đã tạo điều kiện để em có thể hoàn
thành đề tài nghiên cứu này.
Do thời gian có hạn, trong quá trình nguyên cứu chắc chắn em không
tránh khỏi những sai sót vì vậy em kính mong nhận được ý kiến nhận xét của
cô giáo cùng các bạn sinh viên trong trường để bài viết của em được hoàn
thiên hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Bắc Ninh, tháng 3 năm 2011
Sinh viên
Bùi Thị Ngọc Hoa
1
Danh mục hình:
Hình 1: Hình ảnh cháy rừng U Minh.
Hình 2: Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc bị khai thác.
Hình 3: Chặt phá rùng.
Hình 4: chủ rừng tự quản lý rừng.
Hình 5: kiểm lâm với công tác bảo vệ rừng.
Danh mục bảng biểu.
Bảng 1: Số liệu cháy rừng năm 2008.
2
PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài.
Vốn được mệnh danh là "lá phổi " của trái đất, rừng có vai trò rất quan
trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành
tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành
một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên
thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường
sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính

hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư
phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15
vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch
và quản lí... Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp
xỉ 6 nghìn tỷ đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản.
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như
trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất
lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong
đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp.
Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy
cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa
dạng sinh học của rừng đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối
với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng
4
và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người -
nói chung. Vì vậy tôi chọn chuyên đề “ Thực trạng rừng ở Việt Nam” để
nghiên cứu.
2 Giới hạn của đề tài.
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Toàn bộ diện tích rừng trên lãnh thổ Việt Nam.
.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
3.Mục đích nghiên cứu.
3.1 Mục đích:
Thực trạng rừng việt Nam.
Đưa ra một số giải pháp bảo vệ rừng.
Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn bảo vệ rừng.
3.2 Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát:

trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất
đai. Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế- xã
hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường.
-Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế- xã hội mà còn giữ chức năng
sinh thái cực kỳ quan trọng : rừng tham gia vào qua trình điều hoà khí hậu.
đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy
6
trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói
mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai,bảo tồn nguồn
nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước.
-Rừng không phải là tài nguyên vĩnh cửu nhưng cũng không phải là tài
nguyên tái tạo được. Ngoài vai trò lớn lao đối với môi trường tự nhiên thì
rừng còn giữ một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mõi chúng ta.
Như vậy rừng là tài nguồn sống của mỗi chúng ta, là lá phổi xanh của toàn
nhân loại. Mỗi chung ta hãy biết chung tay, góp sức để bảo vệ nguồn tài
nguyên vô cùng quan trọng ấy .Hy vọng rằng trong tương lai Việt Nam sẽ tự
hào khi được bạn bè thế giới biết đến với tên “Quốc gia xanh”
.
PHẦN B: NỘI DUNG
Chương II: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1. Khái niệm về các loại rừng:
- Rừng phòng hộ lá loại rừng được sử dụng để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ
đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi
trường sinh thái. Rừng phòng hộ được phân thành các loại: rừng phòng hộ
đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát, rừng phòng hộ chắn sóng, lấn
biển rừng phòng hộ môi trường sinh thái.
-Rừng đặc dụng: được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn
hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen thực vật. động vật rừng. nghiên
cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phục
vụ nghỉ ngơi, du lịch. Rừng đặc dụng được chia thành các loại: vườn quốc

tính toán của các chuyên gia của Tổ chức nông - lương thế giới (FAO) thì
hàng năm có tới 11,5 triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi
trên toàn cầu, trong khi diện tích rừng trồng mới chỉ vỏn vẹn 1,5 triệu hecta.
Rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc
hoá ngày càng gia tăng. Nhiều loài động - thực vật, lâm sản quý bị biến mất
trong danh mục các loài quý hiếm, số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ
dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy
mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi" của tự nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô
nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và đời
sống động, thực vật.v.v...
3. Vai trò của rừng:
3.1 Vai trò phát triển kinh tế - xã hội:
Trong các sản phẩm do tài nguyên rừng mang lại phải kể đến gỗ. Sản phẩm
gỗ cung cấp cho nghành công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp xây dựng
cơ bản, giao thông vận tải và trong mỗi gia đình. Ngày nay, hầu như không
có một nghành nào không dùng tới gỗ, vì nó là nguyên liệu phổ biến, dễ gia
công, chế biến và nhiều tính năng ưu việt khác nên được nhiều người sử
dụng. Trong quá trình phát triển của xã hội, dưới tác động của tiến bộ khoa
học và công nghệ, người ta đã sản xuất ra nhiều sản phẩm thay thế gỗ. Tuy
nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về gỗ không ngừng tăng lên cả về số
lượng lẫn chất lượng.
9
Ngoài sản phẩm gỗ, rừng còn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ như: tre, nứa,
song mây, các loại đặc sản rừng, động vật, thực vật rừng có giá trị cho tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu. Các động vật từ rừng là các sản phẩm quý
hiếm và có giá trị kinh tế cao. Đối với thực vật rừng, có rất nhiều loại được
dùng làm thực phẩm như nấm, mộc nhĩ, măng, các loại rau rừng… Rừng còn
là nguồn cung cấp các dược liệu quý hiếm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh
và nâng cao sức khỏe cho con người.
Mặt khác, rừng còn cung cấp gỗ và các đặc sản cho tiêu dùng trong nước và

2
và hấp thụ C0
2
của khí quyển trong quá
trình đồng hóa của cây xanh đối với môi trường. Rừng tạo ra sự trong sạch
bầu khí quyển, giữ cân bằng lượng 0
2
và C0
2
trong khí quyển, duy trì sự
sống trên hành tinh của chúng ta. Rừng là tấm màn xanh coi giữ và làm sạch
các nguồn nước, tục ngữ Ấn Độ có câu “rừng là nguồn nước, nước là sự
sống”. Vì vậy, số phận của rừng là số phận của hành tinh chúng ta “nếu rừng
nhiệt đới không còn sẽ có khoảng 1 tỷ người không có nguồn sống”. Theo
tính toán khoa học, mỗi quốc gia cần có ít nhất 1/3 diện tích rừng che phủ
phải phân bố đều trên diện tích cả nước và phân bố trọng điểm là vùng đầu
nguồn. Xã hội càng phát triển, vai trò của rừng càng trở nên cực kỳ quan
trọng. Hiệu quả cân bằng sinh thái của rừng không chỉ tính bằng những giá
trị kinh tế thông thường. Có thể nói chắc chắn thảm thực bì rừng không còn
thì sự sống trên hành tinh chúng ta cũng sẽ bị mất theo.
Ngoài hai tác dụng cung cấp và tác dụng phòng hộ, duy trì cân bằng sinh
thái, bảo vệ môi trường sống, rừng còn có tác dụng quốc phòng, hình ảnh
rừng là căn cứ địa cách mạng “rừng che bộ đội rừng vây quân thù” rất gần
gũi với truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta. Rừng
11
còn có giá trị xã hội, cảnh quan du lịch, làm tăng vẻ đẹp cho non sông đất
nước. Rừng là nơi tham quan, du lịch, nghỉ mát, rừng và cảnh quan rừng có
thể làm tăng sức khỏe cho con người, làm mạnh thêm quan niệm về đạo
đức…
4. Thực trạng rừng ở Việt Nam hiện nay:

200 nghìn hecta vốn có của nó 50 năm trước.
Thực tiễn ở U Minh cho thấy, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng cần phải
được tiếp cận và tiến hành gắn liền với các biện pháp quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội để "người dân có thể dựa được vào rừng để sống, nhưng
cũng có biện pháp bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả nhất" như tinh thần
ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thời gian gần đây.
Hinh 1: Hình ảnh cháy rừng U Minh
13

Bảng số liệu cháy rừng năm 2008
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008
Đơn Phòng cháy rừng Cháy rừng
Vị
Học tập Máy
móc
Đường
băng
Chòi
canh
Tổ đội Ban Số vụ Diện tích Rừng Rừng
trồng
móc CĐ TN
1. An Giang 62 49 19 47 27 2 87.00 87.00
2. Bình Định 2 31 470 120 4 68.02 68.02
3. Bình Dương 2 41 5 4 4 1 0.50 0.50
4. Bắc Giang 8 27 350 3 352 105 15 16.63 16.63
5. Bắc Kạn 1350 130 1 4.00 4.00
6. Bạc Liêu 3 2 3 2
7. Bắc Ninh 23 28 2 1.70 1.70
8. Bình Phước 56 6 11.20 4.30 6.90


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status