Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
Phần I: Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nớc ta đang trong thời kỳ đổi mới và phát triển. Nền kinh tế cả n-
ớc đang chuyển mình theo guồng máy của cơ chế thị trờng. Cùng với xu hớng
phát triển của đất nớc thì ngành XDCB giao thông là một trong những ngành có
tốc độ phát triển nhanh, đã góp phần quan trọng trong sự phát triển nền kinh tế
quốc dân, hàng năm chiếm tỷ trọng lớn vốn đầu t của đất nớc. Không giống nh
các ngành sản xuất khác, ngành XDCB giao thông sản phẩm thờng là các công
trình giao thông với đặc điểm là thời gian thi công dài, phức tạp, vốn lớn... ngày
nay không còn là độc quyền của doanh nghiệp Nhà nớc mà đã đợc mở thầu với
các tổ chức, cá nhân, đơn vị liên doanh... tham gia đấu thầu công trình. Nên vấn
đề đặt ra là làm thế nào để quản lý vốn có hiệu quả, hạn chế tối đa tình trạng
thất thoát và lãng phí vốn trong quá trình thi công, để giảm chi phí, hạ giá thành
công trình là trách nhiệm của ngành Giao thông nói chung và của Công ty
Công trình Giao thông I - Thái Bình nói riêng.
Với đặc thù riêng, Công ty Công trình Giao thông I - Thái Bình có nhiệm vụ
chủ yếu là nâng cấp và làm mới các công trình giao thông. Nên việc tính đúng,
tính đủ giá thành một công trình là trách nhiệm chính trị của mỗi một ngời kế
toán nhằm hạch toán đầy đủ, chính xác, hợp lý các chi phí phát sinh tại công
trình đó. Yêu cầu hạch toán giá thành đề ra một số giải pháp nhằm tối thiểu hóa
chi phí, từ đó hạ giá thành công trình mà công trình đó vẫn đáp ứng các chỉ tiêu
kỹ thuật đề ra. Đó là điều kiện quan trọng để Công ty cạnh tranh trên thị trờng
trong và ngoài tỉnh tạo điều kiện tiền đề trong đấu thầu công trình.
Qua quá trình thực tập, về nhận thức tôi đã thông cảm nỗi trăn trở này. Do vậy,
qua tìm hiểu nghiệp vụ hạch toán tại Công ty tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài:
"Hạch toán giá thành công trình và một số giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí hạ
giá thành công trình ở Công ty Công trình Giao thông I -Thái Bình ".
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- 1 -
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
thôn, góp phần vào vinh dự và tự hào đó có công sức của CBCNV Công ty công
trình giao thông I- Thái Bình.
Không giống nh sản phẩm các ngành khác, sản phẩm của ngành XDCB giao
thông là những công trình giao thông (đờng, cầu, hầm...) có đặc điểm là thời gian
thi công từ khi khởi công xây dựng cho đến khi công trình hoàn thành bàn giao đa
vào sử dụng thờng lâu dài cha kể thời gian khảo sát thiết kế thi công, nó phụ
thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình
thi công đợc chia làm nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn bao gồm nhiều công việc
khác nhau đòi hỏi có sự kết hợp của rất nhiều bộ phận sản xuất thi công nh sản
xuất, cung ứng NVL, công tác giải phóng mặt bằng, tiến độ thi công và bố trí lao
động sống và lao động vật hóa... Các công việc trong quá trình thi công diễn ra
ngoài trời nên chịu tác động trực tiếp của thời tiết, khí hậu làm ảnh hởng tới tiến
độ và kỹ thuật thi công. Hơn nữa sản phẩm của ngành không cố định tại một nơi.
Để tiến hành quá trình sản xuất thi công phải di chuyển theo vị trí công trình cụ
thể luôn nảy sinh những trở ngại mới phải khác phục. Do đó, quá trình và điều
kiện thi công không có tính ổn định, nó luôn biến đổi theo vị trí và theo từng giai
đoạn thi công. Vì thế mà công tác quản lý gặp nhiều khó khăn.
Các công trình giao thông là sản phẩm có kết cấu phức tạp, mang tính đơn
- 3 -
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
chiếc, chi phí thi công có nội dung và cơ cấu không đồng nhất. Vì vậy, việc tổ chức
quản lý và chỉ đạo nhất thiết phải có các dự toán thiết kế thi công, đòi hỏi kế toán
phải tính đến việc hạch toán chi phí, tính giá thành và kết quả thi công cho từng
công trình riêng biệt.
Là sản phẩm nhng những công trình giao thông đợc hoàn thành tại từng địa
điểm cụ thể, đợc tiêu thụ theo giá dự toán đợc duyệt hoặc giá trúng thầu, do vậy mà
tính chất hàng hóa của sản phẩm thể hiện không rõ. Mặt khác, sản phẩm của ngành
đợc thi công theo đơn đặt hàng của bên giao thầu, khi hoàn thành công trình không
nhập kho nên khi tiêu thụ chỉ qua thủ tục bàn giao giữa các bên giao nhận thầu trên
cơ sở nghiệm thu khối lợng, chất lợng công việc theo đúng thiết kế dự toán đã quy
dựng CT đó. Đó mới đợc gọi là chi phí thi công kết tinh trong giá thành công trình.
Chi phí thi công hay giá thành CT cần đợc phân loại để phục vụ yêu cầu quản
lý. Tùy theo đặc điểm sản xuất thi công, đặc điểm quản lý và trình độ nghiệp vụ của
mỗi doanh nghiệp mà xác định cho mình tiêu thức phân loại chi phí nhất định.
Đối với các đơn vị XDCB nói chung và ngành giao thông nói riêng, chi phí thi
công bao gồm nhiều loại có nôi dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của
chúng trong quá trình thi công cũng khác nhau. Việc quản lý chi phí nói chung
không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp, mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể từng CT,
HMCT trong từng thời kỳ nhất định. Vì vậy cần xem xét phân loại chi phí sao cho
hợp lí và khoa học, có nh thế mới tính đúng, tính đủ chi phí thi công vào giá thành
công trình tạo điều kiện cho đơn vị bảo toàn vốn, phấn đấu nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
2.2.2. Phân loại chi phí sản xuất trong các đơn vị ngành XDCB giao thông
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị XDCB nói chung và
ngành giao thông nói riêng thì có nhiều loại chi phí, tùy theo nội dung, tính chất,
công dụng... nên thờng sử dụng các tiêu thức phân loại chi phí sản xuất nh sau:
* Phân loại chi phí theo phơng pháp tập hợp chi phí, thành chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp
- Chi phí trực tiếp : là những chi phí có liên quan trực tiếp đến quá trình sản
xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định bao gồm chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung.
- 5 -
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
- Chi phí gián tiếp : là những chi phí sản xuất liên quan đến việc sản xuất nhiều
loại sản phẩm công việc. Kết cấu và chi phí gián tiếp cũng tơng tự nh chi phí trực
tiếp, nhng những chi phí này phát sinh ở bộ phận quản lý đội thi công của các đơn vị
XDCB. Vì vậy, kế toán phải tiến hành phân bố cho các đối tợng có liên quan theo
một tiêu thức thích hợp.
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phơng pháp tập
hợp và phân bổ cho các đối tợng một cách chính xác và hợp lý.
- Chi phí sử dụng MTC : gồm những chi phí liên quan tới việc sử dụng MTC
phục vụ xây dựng CT, HMCT, tiền khấu hao máy móc thiết bị, tiền thuê máy, tiền l-
ơng công nhân điều khiển máy, chi phí nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung : là các khoản chi phí quản lý đội, các khoản trích
theo lơng BHXH, BHYT, KFCĐ của toàn đội tính theo tỷ lệ quy định, chi phí cho
tiếp khách, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác.
Cách phân loại này đợc áp dụng rông rãi trong các đơn vị XDCB hiện nay. Bởi
cách phân loại này là cơ sở để xác định giá thành công đoạn, giá thành toàn bộ, thấy
đợc tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, là căn cứ để kiểm soát và quản lý chi
phí, thấy đợc tỷ trọng từng khoản mục trong giá thành. Do vậy, tôi sử dụng cách
phân loại này để tập hợp chi phí tính giá thành công trình tại Công ty Công trình
Giao thông I - Thái Bình trong phần nội dung nghiên cứu đề tài bởi nó phù hợp đặc
điểm và cơ chế quản lý của Công ty, phù hợp với phơng pháp lập dự toán giá thành.
2.3. Giá thành công trình
2.3.1. Khái niệm về giá thành công trình trong các đơn vị XDCB giao thông
Để đánh giá chất lợng kinh doanh của các tổ chức kinh tế ngời ta căn cứ vào
chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Đối với các đơn vị XDCB nói chúng và ngành XDCB giao thông nói riêng thì
giá thành công trình là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao động sống,
lao động vật hóa mà đơn vị đã bỏ ra cho CT, HMCT đã hoàn thành và đợc nghiệm
thu.
Trong đơn vị ngành XDCB giao thông thì mỗi CT, HMCT khi hoàn thành đều
có một giá thành riêng và khi nhận thầu một CT, HMCT thì giá bán đã có trớc khi
thi công nên giá bán có trớc khi xác định giá thành kế hoạch và giá thành thực tế.
- 7 -
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
Giá thành công trình là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lợng hoạt động
sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t lao động, tiền vốn trong quá
trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà đơn vị đã thực hiện nhằm
đạt đợc mục đích sản xuất, đợc khối lợng sản phẩm nhiều nhất với chi phí ít nhất và
HMCT
Giá thành kế hoạch của CT,
HMCT
=
Mức hạ giá
thành dự toán
-
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
trình mà đơn vị nhận thầu. Giá thành này bao gồm các chi phí theo định mức, vợt
định mức.
Giá thành thực tế là khoản chi phí thực tế theo khoản mục quy định thống nhất
cho phép tính vào giá thành, nó đợc xác định vào cuối thời kỳ kinh doanh.
Thông thờng do yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán kinh tế thì giá thành
thực tế phải nhỏ hơn giá thành kế hoạch để có mức tiết kiệm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm và chúng có mối quan hệ
Giá thành thực tế < Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán
Do đặc điểm của các đơn vị ngành XDCB giao thông thì thời gian thi công dài
nên để theo dõi một cách chặt chẽ hơn những chi phí phát sinh, đơn vị có thể phân
giá thành thành các bộ phận sau :
- Giá thành thực tế công tác xây dựng (thi công): phản ánh giá thành của một
khối lợng công trình đạt đến điểm dừng kỹ thuật nhất định. Theo cách xác định này
có thể xác định kiểm tra kịp thời những chi phí phát sinh để điều chỉnh cho phù hợp
với giai đoạn sau và phát hiện những nguyên nhân gây tăng, giảm chi phí.
- Giá thành thực tế CT, HMCT hoàn thành : là toàn bộ chi phí chi ra để thi công
một CT, HMCT từ khi chuẩn bị đến khi hoàn thành đảm bảo kỹ thuật đúng chất lợng
thiết kế đợc bên giao thầu nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
Ngoài 2 cách trên, trong đơn vị XDCB nên phân biệt khi sử dụng các chỉ tiêu
mà thờng gọi là giá thành nhng thực chất là giá bán nh :
- Giá đấu thầu công trình (còn gọi là giá thành dự thầu) là một loại giá thành dự
toán xây dựng do chủ đầu t đa ra để đơn vị XDCB dựa vào đó tính giá thành của
HMCT đợc hoàn thành trong kỳ tính giá thành.
Tuy nhiên, những chi phí đa vào giá thành công trình phải phản ánh đợc giá trị
thực của những hao phí bỏ ra. Nếu tính toán chủ quan có thể dẫn tới việc phá vỡ mối
quan hệ hàng hóa - tiền tệ, không xác định đợc kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình bởi chi phí sản xuất là căn cứ, là cơ sở để tính giá thành, sự tiết
- 10 -
Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ
Tổng giá thành
sản phẩm
=
Chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ
-
+
Chi phí sản xuất
dở dang cuối kỳ
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
kiệm hay lãng phí về chi phí trong đơn vị XDCB đều ảnh hởng trực tiếp tới giá thành
công trình là nguyên nhân làm cho giá cao hay thấp.
Vậy trong 1 đơn vị XDCB giao thông để tổ chức quá trình hạch toán chi phí để
tính đúng, tính đủ giá thành công trình thì phải kết hợp chính xác, kịp thời chi phí
sản xuất phát sinh theo đối tợng chịu chi phí và xác định phơng pháp tập hợp chi phí
sản xuất để tính giá thành sao cho phù hợp với đặc thù riêng của đơn vị mình.
2.5. Đối tợng tập hợp và phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất
2.5.1. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
Để công tác tập hợp chi phí sản xuất đợc chính xác thì điều đầu tiên cần làm là
phải xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí.
Thực chất việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi phát
sinh chi phí và nơi gánh chịu chi phí để tập hợp chi phí phát sinh trong kỳ.
thuộc vào việc lựa chọn tiêu thức phân bổ. Song nếu tiêu thức phân bổ hợp lý thì độ
chính xác của phơng pháp này là đáng tin cậy.
Vậy từ 2 phơng pháp trên ta thấy việc xác định, tập hợp các khoản mục chi phí cho
đối tợng đợc tiến hành theo chi phí thực tế và chi phí định mức. Tức là có những chi phí
biết và không thể biết ngay đợc thực tế phát sinh trong kỳ là bao nhiêu khi đến hạn mà
chỉ đợc ớc tính theo hình thức sử dụng nh chi phí điện nớc, điện thoại... sang tháng sau
mới có thông báo thanh toán. Do vậy việc xác định và tập hợp chi phí này theo 1 định
mức rồi khi có chứng từ cụ thể thì tiến hành điều chỉnh sẽ đảm bảo chi phí đợc tập hợp 1
cách chính xác.
2.6. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá thành công
trình trong đơn vị XDCB giao thông
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất là 1 hệ thống phơng pháp tập hợp chi phí
theo đối tợng tập hợp chi phí để từ đó có thể mở tài khoản và ghi sổ kế toán cho phù
- 12 -
b1: Hệ số phân bổ =
Tổng chi phí cần phân bổ
Tổng tiêu thức cần phân bổ của các đối tượng
Hệ số
phân bổ
Chi phí phân bổ
cho đối tượng A
=
Tiêu thức phân bổ
của đối tượng A
-
Xuất vật liệu cho
thi công
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
hợp và tùy theo quy định của mỗi doanh nghiệp mà kế toán sử dụng phơng pháp kê
khai thờng xuyên hay kiểm kê định kỳ trong công việc hạch toán của mình.
dụng ngay
Tạm ứng giá trị khối lợng
công trình hoàn thành đã bàn
giao
VAT đầu vào
đợc khấu trừ
(nếu có)
TK621
TK133
TK152
NVL xuất dùng không hết
nhập lại kho
TK154
K/c chi phí NVL
trực tiếp
TK141
TK111, 334
TK338 (338.2, 338.3, 338.4
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
2.6.2. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản thù lao phải trả cho ngời công nhân
trực tiếp sản xuất theo từng đối tợng CT, HMCT. Ngoài ra, chi phí nhân công trực
tiếp còn bao gồm các khoản đóng góp, chi quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo một tỷ lệ
với số tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất.
Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp đợc tiến hành theo từng loại công
nhân, theo từng loại công việc đợc giao và cho từng đối tợng hạch toán chi phí và
tính giá thành nh CT, HMCT và đợc tiến hành trên cơ sở hợp đồng giao khoán và
bảng chấm công trên các công trờng. Sau đó chuyển về phòng kế toán làm căn cứ
tính lơng và vào các khoản tài khoản kế toán có liên quan.
Để theo dõi nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 - chi phí
máy thi công.
Bên nợ: tập hợp các chi phí liên quan tới máy thi công
Bên có: kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào bên nợ TK154
Tài khoản 623 cuối kỳ không có số d.
Chi phí sử dụng MTC là khoản mục chi phí đặc trng chỉ có trong hoạt động
xây dựng nên tuỳ thuộc vào hình thức tổ chức, sử dụng máy thi công mà các đơn
vị XDCB có cách hạch toán riêng, song cơ bản có 2 trờng hợp sau:
- Trờng hợp: nếu máy thi công thuê ngoài:
- 16 -
331, 112, 111
Tổng giá
thuê ngoài
VAT được
khấu trừ
TK133
TK154
K/c chi phí máy thi công
Giá chưa
thuế
TK623
TK152, 153, 111
Tập hợp chi phí
nhân công
TK214, 111, 112
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
- Trờng hợp 2: Nếu đơn vị XDCB có MTC riêng:
2.6.4. Hạch toán chi phí sản xuất chung (TK 627)
Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí phát sinh ở các đội, các khoản
trích theo lơng (BHXH, BHYT, KPCĐ) theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng
phải cho công nhân trực tiếp thi công và nhân viên quản lý đội, chi phí khấu hao
Quá trình hạch toán đợc thể hiện qua sơ đồ:
2.6.5. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Căn cứ vào đối tợng tập hợp chi phí đã xác định, kế toán tiến hành tập hợp chi
phí theo từng đôi tợng ấy. Đối với các chi phí cần phân bổ kế toán tập hợp chúng lại
và phân bổ cho từng đối tợng. Cuối kỳ, kế toán kết chuểyn toàn bộ chi phí phát sinh
vào tài khoản 154. Tài khoản 154 đợc sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ liên quan đến thi công và hoàn thiện các CT, HMCT. Kết cấu tài
khoản này nh sau:
Bên nợ: tập hợp co NVL, nhân công trực tiếp, MTC, chi phí sản xuất chung
phát sinh trong kỳ.
Bên có: Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
Kết chuyển giá thành CT, HMCT bàn giao
- 18 -
TK334
Tiền công phải trả cho công
nhân viên quản lý đội
BHXH, BHYT, CPCĐ
của toàn đội thi công
Khấu hao TSCĐ dùng
trong quản lý
TK627
TK154
K/c chi phí sản
xuất chung
TK153, 154, 142, 141,
111
Xuất vật liệu dùng cho đội
thi công
TK338
TK214
- 19 -
TK621
TK622
K/c chi phí NVL trực tiếp
K/c chi phí nhân công trực
tiếp
K/c chi phí sử dụng MTC
TK154
TK152, 138
Các khoản ghi giảm chi phí
công trình
K/c chi phí sản xuất chung
TK632
Giá thành công trình hoàn
thành bàn giao cho chủ đầu
t
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
Quá trình hoạt động XDCB với đặc điểm sản phẩm là những công trình,
nên việc đánh giá sản phẩm dở dang chỉ áp dụng đối với những công trình có
thời gian thi công dài trên một năm hoặc thời gian thi công trải qua hai kỳ quyết
toán trở lên. Khi đó giá trị sản phẩm dở dang đợc tính và đánh giá theo chi phí
thực tế (bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,
chi phí sản xuất chung) đã đầu t vào công trình đến thời điểm báo cáo.
Giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ
=
Chi phí sản xuất thực tế
của giai đoạn xây dựng
dở dang đầu kỳ
+
Có 621, 622, 623, 627
2.7. Đối tợng tính giá thành, kỳ tính giá thành, phơng pháp
tính giá thành sản phẩm trong đơn vị XDCB giao thông
2.7.1. Đối tợng tính giá thành
Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong công tác tính giá
thành sản phẩm. Trong ngành XDCB giao thông chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm đơn
chiếc, mỗi sản phẩm đều đã có dự toán riêng và do yêu cầu quản lý kinh tế của đơn
vị nên đối tợng tính giá thanh là CT, HMCT đợc bàn giao và nghiệm thu.
Để quản lý chi phí một cách có hiệu quả thì hàng ngày, hàng tháng chi phí phát sinh
liên quan đến công trình nào tập hợp vào đối tợng đó. Cuối kỳ hạch toán cộng tổng chi phí
theo từng đối tợng tập hợp, đó chính là giá thành công trình.
2.7.2 Kỳ tính giá thành
Là thời kỳ kế toán giá thành cần phải tính cho các đối tợng CT, HMCT.
Đối với ngành XDCB nói chung và XDCB giao thông nói riêng thì tuỳ thuộc
vào CT, HMCT đó lớn hay nhỏ, thời gian thi công dài hay ngắn mà tính giá thành
theo quý, năm hay theo hình thức bàn giao công trình.
Đối với công trình nhỏ, thời gian thi công ngắn (dới 1 năm) thì kỳ tính giá
thành là khi công trình hoàn thành.
Đối với công trình lớn, thời gian thi công dài (trên 1 năm) khi có bộ phận,
HMCT hoàn thành có giá trị sử dụng và đợc nghiệm thu thì kế toán tiến hành tính
giá thành cho bộ phận HMCT đó.
2.7.3. Phơng pháp tính giá thành sản phẩm trong đơn vị XDCB giao thông
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm là phơng pháp sử dụng số liệu chi phí sản
- 21 -
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
xuất đã tập hợp đợc để tính giá thành sản phẩm. Trong các đơn vị XDCB thuộc
ngành giao thông thờng sử dụng các phơng pháp sau:
- Phơng pháp giản đơn (phơng pháp trực tiếp)
áp dụng trong trờng hợp đối tợng tính giá thành phù hợp với đối tợng tập hợp
chi phí sản xuất, kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo.
2
, C
n
: chi phí thi công các giai đoạn, từng HMCT
D
đ.kỳ
, D
c.kỳ
: Chi phí thực tế công trình dở dang đầu kỳ, cuối kỳ
Ngoài 2 phơng pháp cơ bản để tính giá thành nh trên mà các đơn vị trong
ngành XDCB giao thông hay sử dụng còn có mốt số phơng pháp tính giá thành
sản phẩm khác nh: phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng, phơng pháp
tính giá thành theo định mức Việc áp dụng ph ơng pháp tính giá thành sản
phẩm nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng doanh nghiệp.
- 22 -
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
Phần III : Đặc điểm địa bàn và phơng pháp
nghiên cứu
i. Đặc điểm địa bàn
3.1. Vài nét khái quát về Công ty công trình giao thông I-
Thái Bình
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty công trình giao thông I - Thái Bình là một doanh nghiệp XDCB Nhà
nớc trực thuộc Sở giao thông vận tải Thái Bình. Trụ sở chính của Công ty nằm trên
địa phận phờng Quang Trung thị xã Thái Bình. Trong quá trình hình thành và phát
triển Công ty đã trải qua nhiều giai đoạn.
Công ty công trình giao thông I trớc đây là đội công trình cầu đờng. Năm
1986 theo quyết định của Tỉnh thành lập Công ty xây dựng cầu đờng. Tháng 11 năm
1973 Công ty tách thành hai đơn vị là Công ty xây dựng cầu và Công ty xây dựng đ-
ờng. Năm 1994 Nhà nớc có quyết định thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nớc, ủy
Liên hệ
Qua sơ đồ ta thấy chức năng của các phòng ban nh sau:
Ban giám đốc Công ty bao gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc; 1 phó giám
đốc sản xuất và 1 phó giám đốc phụ trách về vật t.
Giám đốc có nhiệm vụ quản lý và điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất của
Công ty. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của Công ty, giám đốc điều chỉnh cho phù hợp
- 24 -
Đội I
Đội xe, MTC
Đội II
I
Đội III
Giám đốc
PGĐ. Sản xuất
P. kế hoạch KT
PGĐ. Vật tư
P. Vật tư
P. tổ chức hành
chính
P. Kế toán
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Hòa - KE44
và giao nhiệm vụ cho các bộ phận nghiệp vụ lập kế hoạch sản xuất của Công ty.
Chính vì thế giám đốc Công ty sẽ chịu trách nhiệm về kết quả hoạt dộng sản xuất
của Công ty.
Phó giám đốc sản xuất: Là ngời giúp giám đốc trong việc quản lý điều hành
công viễc tại các phòng, các đội sản xuất trong Công ty và là ngời chịu trách nhiệm
về kỹ thuật.
Phó giám đốc vật t: là ngời giúp giám đốc và chịu trách nhiệm về vật t phân
phối cho các đội thi công trong Công ty, chịu trách nhiệm về máy móc, thiết bị trong
quá trình thi công.