LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trên thế giới không có bất kỳ nước nào có đủ tiềm lực kinh tế
để có thể tự cung tự cấp. Do đó nhu cầu của dân chúng trong nước cũng như
nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của nước đó cũng không đáp ứng được đầy
đủ.Chính nguyên nhân này đã dẫn đến các hoạt động trao đổi buôn bán giữa các
quốc gia trên thế giới với nhau nhằm bù đắp những gì mà mình thiếu hụt và
phát triển những thế mạnh mà mình có. Vì vậy xuất khẩu đã trở thành một hoạt
động thương mại cực kỳ quan trọng với mỗi một quốc gia trên thế giới. Nó cho
phép các quốc gia khai thác được lợi thế của mình , trong phân công lao động
quốc tế tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước.
Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa chiến lược trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc để công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước. Từ đặc điểm nền kinh tế là một nước nông nhgiệp và có
tiềm năng lớn về sản xuất các loại rau quả nhiệt đới, Việt Nam đã xác định đây
là nguồn lợi có giá trị to lớn của đất nước, có thể đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
người tiêu dùng. Cho nên, phát triển sản xuất rau quả gắn với công nghiệp chế
biến , phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu đã trở thành một trong những mục tiêu
phát triển của đất nước.Cũng vì vậy mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng
không ngừng hoàn thiện quy trình hoạt động kinh doanh của mình nhằm tận
dụng tối ưu lợi thế của tiến trình hội nhập . Vấn đề đặt ra là sự phát triển phong
phú và tính chất phức tạp của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đòi hỏi
không ngừng hoàn thiện công tác kế toán để có thể hạch toán chính xác,cung
cấp tài liệu cho kế toán quản trị giúp doanh nghiệp hoạch định kinh doanh kịp
thời và có hiệu quả hơn , tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Với trình độ hiểu biết hạn chế ,thời gian nghiên cứu không nhiều đồng
thời dựa trên thưc tế tại Tổng công ty Rau quả Việt Nam, em xin được đi sâu
nghiên cứu Kế toan hoạt động kinh doanh xuất khẩu với hi vọng đóng góp phần
nào cả về lý luận và thực tiễn đối với lĩnh vưc này . Cụ thể về lý luận ,việc
nghiên cứu sẽ là một hình thức hệ thống hoá những nội dung kế toán hoạt động
kinh doanh xuất khẩu và phát triển mới những nội dung chưa hoàn chỉnh .Về
thực tiễn, mục đích của việc nghiên cứu là đề xuất góp ý kiến hoàn thiện kế
nguồn thu ngoại tệ chủ yếu cho ngân sách quốc gia ,phục vụ
cho hoạt động nhập khẩu may móc , công nghệ mới nhằm nâng
cao năng suất lao động,phát triển sản xuất.
- Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế , thúc
đẩy nền sản xuất phát triển .Thông qua xuất khẩu , thị trường
tiêu thụ cho đầu ra của sản phẩm được mở rộng, khuyến khích
và đảm bảo ổn định cho nền sản xuất trong nước phát triển.
- Xuất khẩu tác động tích cực đến công tác giải quyết việc làm,
cải thiện đời sống người lao động.
Do vậy hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá luôn được khuyến khích
phát triển.Chính phủ Việt Nam sớm nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt
động kinh doanh xuất khẩu trong nền kinh tế đối ngoại nói riêng và trong nền
kinh tế đối nội nói chung nên sớm đưa ra những nghị quyết , chính sách nhằm
tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi nhất giúp hoạt động kinh doanh xuất khẩu
ngày càng phát triển, chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân.
2.Những đặc điểm hoạt động xuất khẩu hàng hoá
Nhu cầu trao đổi hàng hoá của loài người xuất hiện từ thời cổ đại ,tuy nhiên vẫn
chỉ bó gọn trong khuôn khổ từng bộ lạc.Nhưng chỉ khi nền sản xuất hàng hoá ra
đời thì tính khép kín của từng đơn vị kinh tế trong từng quốc gia mới bị phá vỡ,
gắn chặt thị trường dân tộc với thi trường thế giới ,gắn chặt phân công lao động
trong nước với phân công lao động quốc tế.
Xu thế toàn cầu hoá cùng nền kinh tế mở tạo điều kiện cho thương mại quốc tế
nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói riêng phát triển mạnh . Do xuất
2
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
khẩu là việc bán hàng ra nước ngoài nên có những đặc điểm khác biệt và phức
tạp hơn bán hàng trong nước.
- Thị trường rộng lớn trong và ngoài nước nên khó kiểm soát ,
mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn , việc thanh toán
có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu.Để đạt
được nguyên tắc đó ,công tác quản lý hoạt động kinh doanh xuất khẩu cần có
những yêu cầu sau:
-Nắm chắc và kịp thời những thông tin về thị trường ,về tình hình
sản xuất trong nước cũng như nhu cầu hàng hoá trên thị trường thế giới.
-Nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng chính sách ,phong tục tập quán,khả
năng cạnh tranh hàng hoá trước khi ký kết hợp đồng xuát khẩu .
3
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
-Nắm vững pháp luật về hợp đồng kinh tế , nắm vững thông lệ
quốc tế .
-Dự thảo và phân tích hợp đồng chặt chẽ , chính xác.
-Bám sát các điều khoản của hợp đồng trong quá trình thực hiện.
4.Nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá
trong đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu.
4.1 Các giai đoạn của hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá
Thực tế đã chứng minh mối quan hệ mật thiết giữa mua hàng -tổ chức
nguồn hàng và bán ra(xuất khẩu), chúng vừa là cơ sở vừa là điều kiện hoạt
động của nhau,bởi lẽ nếu việc mua hàng được thực hiện đầy đủ kịp thời sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho việc bán hàng nhanh chóng và mang lại hiệu quả
cao.Ngược lại kết quả của việc bán hàng sẽ làm căn cứ để đưa ra quyết định
mau mặt hàng nào,với số lượng bao nhiêu ,vào thời điểm nào.Đối với nghiệp vụ
kinh doanh xuất khẩu ,mối quan hệ giữa mua và phục vụ bán ra càng có ý nghĩa
quan trọng do hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là hoạt động phức tạp có
nhiều điểm khác biệt với hoạt động kinh doanh buôn bán trong nước.Như vậy
quá trình xuất khẩu hàng hoá bao gồm hai giai đoạn thu mua sản phẩm hàng
hoá trong nước để xuất khẩu và giai đoạn bán hàng hoá đó ra nước ngoài.
4.1.1Giai đoạn thu mua tổ chức nguồn hàng để xuất khẩu
Thu mua hàng xuất khẩu là tiền đề vật chất của xuất khẩu hàng hoá .Để có
lượng hàng hoá đẩm bảo cho xuất khẩu đơn vị kinh doanh có thể mua hàng trực
trao đổi với nhau có giá trị tương đương.
-Đấu giá quốc tế : Đây là phương thức giao dịch đặc
biệt được tổ chức công khai ở một nơi nhất định mà tại đó sau khi xem hàng
hoá ,những người mua tự do cạnh tranh trả giá và cuối cùng được bán cho
người trả giá cao nhất.
-Đấu thầu quốc tế : Người mua (người gọi thầu) công
bố trước đIều kiện mua hàng để người bán(người dự thầu) báo giá mình muốn
bán.Sau đó người mua sẽ chọn mua của người nào bán giá thấp nhất và điều
kiện tín dụng phù hợp nhất.
-Giao dịch tại hội chợ triển lãm : Theo phương thức
này,thông qua hội chợ triển lãm người bán trưng bày hàng hoá và tiếp xúc với
người mua để ký kết hợp đồng mua bán.
Để tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu ,mỗi doanh nghiệp cần căn cứ
vào mặt hàng dự định xuất khẩu ,đối tượng ,thời gian giao dịch ,năng lực của
người tiến hành giao dịch để chọn cho mình một cách thức giao dịch phù hợp vì
mỗi cách có một đặc điểm riêng,kỹ thuật tiến hành riêng.Hiện nay các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu chủ yếu thường áp dụng hình thức giao dịch
thông thường và tham gia hội chợ triẻn lãm quốc tế để tìm kiếm bạn hàng xuất
khẩu.
4.2. Hình thức xuất khẩu.
Trong nền kinh tế mở, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu chủ
yếu tự hoạch định kế hoạch kinh doanh, lấy thu bù chi do đó các doanh nghiệp
rất chủ động trong việc tìm kiếm bạn hàng, chủng loại hoàng xuất nhập khẩu
trên cơ sở các quy định trong chính sách pháp luật của Nhà nước. Đây chính là
xuất khẩu tự cân đối.
Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu còn tiến hành
hoạt động kinh doanh xuất khẩu theo Nghị định thư, đó là các chỉ tiêu xuất
khẩu được Nhà nước giao vừa mang tính kinh tế vừa mang tính chính trị.
Xét theo mối quan hệ của doanh nghiệp với lô hàng xuất khẩu ,hoạt
động xuất khẩu được tiến hành theo 3 hình thức sau: xuất khẩu trực tiếp,xuất
-Phương thức nhờ thu : Là phương thức thanh toán trong đó người bán sau
khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền người mua và
uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ghi trên tờ hối phiếu đó.
-Phương thức tín dụng chứng từ: Là một sự thoả thuận trong đó ngân
hàng( ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng(người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi hoặc chấp
nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này
xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy
định đề ra trong thư tín dụng.Với phương thức này người bán được đảm bảo thu
được tiền hàng,còn người mua được đảm bảo chỉ trả tiền khi người bán xuất
trình đầy đủ bộ chứng từ hợp lệ sau khi ngân hàng đã kiểm tra bộ chứng từ đó.
Hơn nữa thư tín dụng hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán, nhưng sau
khi thiết lập nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng mau bán. Do vậy phương thức
6
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
này có tính ưu việt hơn hẳn so với phương thức khác nên nó được sử dụng rộng
rãi ở hầu hết các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
-Các phương thức khác: như Séc,Hối phiếu,.. cũng được sử dụng trong
thanh toán xuất khẩu.
4.4.Phương thức tính giá và điều kiện giao hàng
Giá cả hàng hoá xuất khẩu được quy định trong hợp đồng mua bán ngoại
thương.Tuỳ theo sự thoả thuận của các bên tham gia mà giá đó bao gồm các
yếu tố nào như giá trị hàng hoá đơn thuần,bao bì,chi phí vận chuyển,chi phí bảo
hiểm,..Trong việc xác định rõ giá cả người ta luôn định rõ điều kiện, cơ sở giao
hàng.Sở dĩ như vậy là vì điều kiện giao hàng đã bao hàm các trách nhiệm và chi
phí mà người bán hay người mua phải chịu trong quá trình giao hàng như vận
chuyển, bốc dỡ,mua bảo hiểm,chi phí lưu kho,.. Các loạI giao hàngđược sử
dụng hiện nay rất phong phú theo quy định của Incoterm 2000 như
EX,FCA,FAS,FOB,CIF,CIP,C&P,C&I,.. Hiện nay các loại giá sau thường
được áp dụng ở nước ta:
• Giá linh hoạt : Là giá có thể được quy định trong lúc ký kết hợp đồng nhưng
được xem xét lại nếu vào lúc giao hàng giá thị trường các loại hàng đó có sự
biến động tới một mức nhất định.
II. Kế toán hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hoá tại các doanh nghiệp
kinh doanh xuất nhập khẩu
1.Các quy định trong kế toán
1.1. Phạm vi hàng xuất khẩu
Cùng với sự phát triển không ngừng của thương mại quốc tế là sự phát triển
phong phú và tính chất phức tạp của các thương vụ. Để đáp ứng nhu cầu thông
tin quản lý kinh tế có hiệu quả hơn đòi hỏi kế toán phải hạch toán chính xác, do
vậy không thể không xem xét kỹ những hàng hoá nào được coi là những hàng
hoá xuất khẩu:
- Hàng bán cho doanh nghiệp nước ngoài theo hợp đồng đã ký kết sau đó bán
thu bằng ngoại tệ.
- Hàng hoá tham gia triển lãm hội chợ nước ngoài sau đó bán thu bằng ngoại tệ.
- Hàng hoá bán cho khách nước ngoài hoặc việt kiều thanh toán bằng ngoại tệ.
- Hàng viện chợ cho nước ngoài thông qua các nghị định thư giữa hai chính phủ
và được thực hiện thông qua các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Các dịch vụ sửa chữa máy bay, tàu biển cho người nước ngoài thanh toán
bằng ngoại tệ.
1.2.Thời điểm ghi chép hàng bán đối với hàng xuất khẩu
Xuất nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hoá giữa các nước trên thế giới
được thực hiện bằng cả hệ thống các quan hệ thương mại quốc tế, trong đó mỗi
quốc gia đều có thể thực hiện một cách có hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế.
Hoạt động lưu thông hàng hoá giữa người mua , người bán thuộc các quốc gia
khác nhau với khoảng cách địa lý xa do vậy hàng hoá từ nơi người bán đến nơi
người mua phụ thuộc trước hết vào phương tiện vận tải. Tôn trọng nguyên tắc
của kế toán là thận trọng, phản ánh trung thực nghiệp vụ kinh tế diễn ra, thời
điểm ghi chép hàng bán đối với hàng xuất khẩu được quy định như sau :
- Nếu hàng vận chuyển bằng đường biển, thời điểm ghi chép là
- Giấy chứng nhận phẩm chất (Certificate of quanlity ): Là chứng
từ xác nhận phẩm chất hàng hoá thực giao và chứng minh phẩm
chất hàng hoá phù hợp với hợp đồng.
- Một số chứng từ khác như chứng nhận bảo hiểm,bảng kê, đóng
gói,giấy chứng nhận kiểm dịch,..
Những chứng từ này là minh chứng các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và
thực sự hoàn thành, đồng thời chúng cũng là căn cứ pháp lý cho mọi số liệu ghi
chép trong sổ kế toán.
2.2.Các tài khoản sử dụng trong kế toán hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Các tài khoản được sử dụng chủ yếu trong kế toán hoạt động kinh doanh xuất
khẩu bao gồm:
-Tài khoản 156.Hàng hoá: Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến
động các loại hàng của doanh nghiệp bao gồm hàng hoá tại kho và quầy hàng.
-Tài khoản 131.Phải thu của khách hàng: Tài khoản này dùng để phản
ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của
doanh nghiệp với khách hàng.
-Tài khoản 413.Chênh lệch tỷ giá: Phản ánh số chênh lệch do thay đổi tỷ
giá ngoại tệ và tình hình xử lý số chênh lệch đó của doanh nghiệp.
-Tài khoản 511.Doanh thu bán hàng: Phản ánh doanh thu bán hàng thực
tế trong kỳ hoạt động.
9
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
- Các tài khoản khác như TK632, TK641, TK642, TK911, TK111,
TK112..
2.3 Trình tự hạch toán
2.3.1 Hạch toán xuất khẩu trực tiếp ( Sơ đồ 5 )
-Khi vận chuyển hàng hoá đem đi xuất khẩu:
+ Xuất kho trực tiếp:
Nợ TK 157: Giá xuất kho hàng xuất khẩu
Có TK 156
Nợ TK 531: Doanh thu của hàng bị trả lại( TGTT )
Có TK 111,112,131: TGHT
Có ( Nợ ) TK 413: Chênh lệch
10
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
Và giá vốn của hàng hoá bị trả lại :
Nợ TK 156,1381,....
Có TK 632
-Chi phí trong quá trình xuất khẩu phát sinh
Nợ TK 641: Các khoản chi phí tỷ giá thực tế (nếu có)
Nợ TK 133 : Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 111,112,331:Tỷ giá hạch toán
Có ( Nợ ) TK 413: Chênh lệch tỷ giá
-Cuối kỳ tiến hành kết chuyển:
+Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu
Nợ TK 511
Có TK 531,532,521
+Kết chuyển doanh thu thuần
Nợ TK 511
Có TK 911
+Kết chuyển giá vốn hàng tiêu thụ
Nợ TK 911
Có TK 632
+Kết chuyển chi phí bán hàng và chi phí quản lý
Nợ TK 911
Có TK 641,642
2.3.2.1.Hạch toán nhận uỷ thác xuất khẩu
Doanh nghiệp nhận xuất khẩu uỷ thác cho các đơn vị khác sẽ được hưởng phần
hoa hồng xuất khẩu uỷ thác do hai bên thoả thuận. Số tiền hoa hồng được phản
ánh vào doanh thu xuất khẩu.
-Khi thanh toán tiền cho bên giao uỷ thác
Nợ TK 331
Có TK 1122
Có TK 007: Số nguyên tệ đã chi trả
Các bút toán kết chuyển doanh thu,kết chuyển chi phí,xác định kết quả kinh
doanh về hoạt động xuất khẩu uỷ thác tương tự như xuất khẩu trực tiếp.
2.3.2.2 Hạch toán giao uỷ thác xuất khẩu
-Khi giao hàng cho bên nhận uỷ thác xuất khẩu
Nợ TK 157
Có TK 156
-Trường hợp mua hàng chuyển thẳng giao cho bên nhận uỷ thác xuất khẩu
Nợ TK 157: Giá mua hàng hoá chưa có thuế VAT
Nợ TK 133: Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 331: Tổng số tiền theo giá thanh toán
-Khi hàng giao uỷ thác được xác định là đã tiêu thụ
+ Nếu tỷ giá thực tế lớn hơn tỷ giá hạch toán
Nợ TK 112,131: Số tiền theo tỷ giá hạch toán
Nợ TK 413: Chênh lệch tỷ giá
Nợ TK 641: Hoa hồng giao uỷ thác
Nợ TK 133: Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 511: Doanh thu bán hàng xuất khẩu
+ Nếu tỷ giá thực tế nhỏ hơn tỷ giá hạch toán
Nợ TK 112,131: Số tiền theo tỷ giá hạch toán
Nợ TK 641: Hoa hồng giao uỷ thác xuất khẩu
Nợ TK 133: Thuế VAT được khấu trừ
Có TK 511: Doanh thu bán hàng xuất khẩu
Có TK 413: Chênh lệch tỷ giá
Nợ TK 007: Nguyên tệ thu được
-Trị giá thực tế của hàng tiêu thụ
12
phát triển theo 3 khối: Sản xuất Rau quả (do Tổng công ty Rau quả Việt Nam
Trung ương thuộc Bộ Nông nghiệp quản lý ). Khối kinh doanh XNK Rau quả
(do Tổng công ty XNK Rau quả thuộc ngoại thương quản lý).
Việc phát triển theo 3 khối làm cho công tác nghiên cứu khoa học kĩ
thuật của ngành Rau quả bị phân tán, không có 1 tổ chức nào chịu trách nhiệm
chung cho việc tạo giống mới và áp dụng khoa học tiên tiến, đào tạo cán bộ
công nhân viên. Do đó đã hạn chế khả năng phối hợp thích ứng của 3 khối và
gây mâu thuẫn cạnh tranh lẫn nhau, gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích càng ngày.
Vì vậy tháng 2/1988, Nhà nước đã quyết định hợp nhất 3 khối trên thành Tổng
công ty Rau quả VN, một đơn vị kinh tế chuyên ngành Rau quả lớn nhất với
hơn 37.000 cán bộ công nhân viên và 72 đầu mối trực thuộc trải khắp trên 17
tỉnh thành phố trên phạm vi toàn quốc( theo Nghị định 63 NN -TCCB /QD
ngày 11/2/1998 ).
Thực hiện nghị định 315/HDBT,Nghị định 338/HDBT và Quyết định
176/HDBT của Hội đồng bộ trưởng (nay là chính phủ) Tổng công ty đã sắp xếp
theo hướng giảm dần đầu mối, tinh giảm biên chế và bộ máy quản lý. Đến đầu
năm 1995 Tổng công ty còn 49 đơn vị trực thuộc, với 10.000 cán bộ công nhân viên
.
14
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
Từ năm 1988 đến 1995 Tổng công ty Rau quả VN đã trải qua không ít
những khó khăn do sự chuyển đổi cơ chế ( từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị
trường ) do thay đổi thị trường ( mất đi một số bạn hàng truyền thống như Liên
Xô và các nước Đông Âu).
Bước vào một thời kỳ mới, từ năm 1996 đến nay, Tổng công ty được
thành lập lại và hoạt động với mô hình mới theo quyết định 90CP. Từ những
kinh nghiệm có được trên thị trường, Tổng công ty đã tìm được cho mình
hướng đi vững chắc hơn từng bước tạo uy tín với bạn hàng trong và ngoài
nước.
2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty Rau quả VN( Sơ đồ 12)
có các đơn vị thành viên là những doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập.
Các doanh nghiệp hạch toán độc lập là thành viên của Tổng công ty có quyền
tự chủ kinh doanh và tự chủ tài chính, chịu trách nhiệm về quản lý nợ và cam
kết của minh trong phạm vi số vốn Nhà nước do doanh nghiệp quản lý ,chiu sự
ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ đối với Tổng công ty Rau quả VN.
3.Đặc điểm tổ chức hoạt động kế toán của Tổng công ty Rau quả VN.
3.1.Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán:
Tổng công ty Rau quả VN là doanh nghiệp Nhà nước, do đó có nghĩa vụ
thực hiện đúng pháp lệnh kế toán thống kê, chế độ kế toán, kiểm toán độc lập
và gửi báo cáo quyết toán quý, năm đúng kiểu mẫu thời gian quy định và chịu
trách nhiệm về tính trung thực chính xác của số liêụ báo cáo. Báo cáo quyết
toán tài chính tổng hợp năm của Tổng công ty gồm các biểu mẫu như các báo
cáo quyết toán tài chính doanh nghiệp ban hành theo nghị định số 1141TC/QĐ-
CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính. Trong báo cáo quyết toán
có phần hạch toán tập trung của Tổng công ty và tổng hợp báo cáo quyết toán
của các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập và các đơn vị sự nghiệp.
Tổng công ty hạch toán theo nguyên tắc đã được quy định trong điều lệ của
Tổng công ty.
Bộ máy kế toán của Tổng công ty được tổ chức theo phương thức kế toán
tập trung tại phòng kế toán trung tâm .( Sơ đồ 13 )
- Kế toán trưởng( trưởng phòng kế toán): Là người giúp giám đốc chỉ
đạo, tổ chức thực hiện các hoạt động tài chính hoặc có liên quan đến tài chính,
công tác kế toán,thống kê của Tổng công ty, có quyền và nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật, Phụ trách chung công tác tài chính kế toán của Tổng công
ty, trực tiếp chỉ đạo tổ chức bộ máy kế toán, lập kế hoạch, cân đối tài chính,
chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Tổng công ty về tình hình tài chính kế toán
của Tổng công ty.
- Phó phòng kế toán: Phụ trách công nợ ngoại hối và các công việc của Tổng
công ty khi kế toán trưởng đi vắng:
+ Phó phòng phụ trách theo dõi quản lý các doanh nghiệp tổng hợp và
3.2. Hình thức sổ kế toán áp dụng tại Tổng công ty :
Tổng công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung trên máy vi tính.
Kế toán trưỏng phân công nhân viên kế toán nhập dữ liệu vào máy theo
nhiệm vụ của từng người.
Căn cứ vào yêu cầu của kế toán trưởng,Tổng giám đốc...người sử dụng
máy sẽ khai báo với máy những yêu cầu cần thiết,( như nhật ký mua hàng,bán
hàng ,sổ cái tài khoản,nhật ký chung...) máy sẽ xử lý và in ra những thông tin
đã yêu cầu.
Tổng công ty xác định hàng tồn kho cuối kỳ theo giá thực tế và hạch toán hàng
tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, giá xuất kho hàng hoá được
xác định theo phương pháp bình quân gia quyền. Tổng công ty hạch toán ngoại
tệ theo phương pháp tỷ giá thực tế.
18
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
4. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu tại cơ quan văn phòng
-Tổng công ty Rau quả VN.
Tổng công ty Rau quả VN là một doanh nghiệp Nhà nước được thành lập
với nhiệm vụ chủ yếu sản xuất giống rau quả, chế biến rau quả,thịt .thuỷ
sản,dịch vụ tư vấn đầu tư phát triển và đặc biệt là kinh doanh XNK nông
sản.Ngay từ khi mới thành lập(tháng 2/1988) hoạt động kinh doanh XNK nông
sản tại Tổng công ty đã đóng một vai trò quan trọng, chủ chốt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của Tổng công ty.
Với một số mặt hàng XK chủ yếu như rau quả tươi ,rau quả hộp đông
lạnh,rau quả sấy muối, gia vị các loại lương thực..... Tổng công ty đang chú
trọng đến việc nâng cao về chất các sản phẩm XK, gia tăng hàm lượng chế biến
trong sản phẩm từ đó có thể nâng cao hiệu quả XK.Thị trường XK của Tổng
công ty cũng được mở rộng sang Mỹ,Nhật ,Đài loan, Hồng Kông...
Hoạt động xuất khẩu ở cơ quan văn phòng- Tổng công ty rau quả VN
đóng vai trò chỉ đạo,kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm 1 phần lớn trong doanh
thu hàng năm của cơ quan . Hơn thế nữa , từ năm 1988 trở lại đây hoạt động
sổ.
+ Các hợp đồng XK trả nợ sang LB Nga sẽ được chính phủ , cụ thể là Bộ
thương mại thanh toán thông qua kho bạc Nhà nước.
+ Với những đặc điểm hoạt động kinh doanh XK như trên , yêu cầu đặt ra đối
với ban lãnh đạo Tổng công ty có cách sắp xếp tổ chức sao cho thông tin quản
lý chính xác và kịp thời nhất ngay cả với từng mặt hàng XK.
II. Thực trạng kế toán hoạt động kinh doanh XK hàng hoá tại cơ quan
Văn phòng- Tổng công ty Rau quả VN
1. Chứng từ sử dụng
- Hợp đồng kinh tế
- Hoá đơn thương mại
- Vận đơn
- Giấy chứng nhận xuất xứ
- Giấy chứng nhận bảo hiểm
- Phiếu xuất kho
- Giấy báo nợ, giấy báo có
- Phiếu thu chi tiền mặt
- Hoá đơn thuế VAT
2.Tài khoản sử dụng
Để đánh giá chính xác chất lượng công tác của đơn vị trên toàn bộ quá trình
kinh doanh cũng như trong từng khâu, từng giai đoạn từng hoạt động của Tổng
công ty , cần phải tiến hành phân chia hoạt động kinh doanh XK hàng hoá một
cách rõ ràng. Từ đó kế toán vận dụng tổng hợp các phương pháp chứng từ ,tài
khoản, tính giá và tổng hợp cân đối kế toán để hạch toán từng quá trình kinh
doanh.
Tổng công ty sử dụng các tài khoản sau để theo dõi quá trình sản xuất hàng
hoá:
- TK 156 : Hàng hoá
- TK 141 : Tạm ứng
- TK 131 : Phải thu khách hàng
Nợ TK 133( 1331) : Thuế VAT đầu vào
Có TK 331: Phải trả nhà cung cấp
Trường hợp thanh toán bằng chuyển khoản trên cơ sở các phòng có hoá đơn
đỏ để chứng minh hàng đó đã chuyển chủ, các phòng viết giấy đề nghị thanh
toán. Căn cứ vào giấy báo nợ, kế toán ghi:
Nợ TK 331
Có TK 112
Trường hợp tạm ứng bằng tiền mặt cho cán bộ đi mua hàng .căn cứ phương
án được duyệt kế toán tạm ứng tiền cho các phòng và ghi bút toán
Nợ TK 141
Có TK 111
Khi mua hàng về thanh toán bằng tiền tạm ứng, kế toán ghi :
Nợ TK 156(1561)
Nợ TK 133
Có TK 141
Khi thanh toán trực tiếp cho người bán, kế toán ghi
Nợ TK 331
Có TK 111, 112
21
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
Thanh toán bù trừ định kỳ trên cơ sở biên bản thanh toán bù trừ, kế toán ghi
Nợ TK 331
Có TK 131
Ví dụ 1 :
Ngày 9/8/2002 Tổng công ty Rau quả ký hợp đồng với nhà máy thực phẩm
Nam Hà mua một lô hàng vải hộp nước đường có số lượng là 33.900 kg,
đơn giá là 22.000 đ/kg .Tổng công ty thanh toán 100% trị giá hợp đồng
trong vòng 3 ngày sau khi giao hàng.
Ngày 20/8/2002 Tổng công ty nhận hàng tại kho của nhà máy, căn cứ vào
phiếu xuất kho kèm hoá đơn của người bán và số thực kiểm nhận , khi nhập
Có Tk 511- Doanh thu xuất khẩu ( Tỷ giá thực tế )
22
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
Đồng thời ghi bút toán kế chuyển trị giá mua hàng đã xuất
Nợ TK 632
Có TK 156
Các chi phí vận chuyển , bốc xếp dỡ hàng từ kho ra cảng người nhận , kế toán
hạch toán vào TK 111,112 và sổ theo dõi chi phí TK 641
Nợ TK 641
Nợ TK 133
Có Tk 111,112
- Khi Tổng công ty nhận được giấy báo có của Ngân hàng về thanh toán hàng
XK
+ nếu tỷ giá tại thời điểm thanh toán lớn hơn tại thời điểm ký vận đơn
Nợ TK 1122: Số tiền thu được (Ngoại tệ * tỷ giá thực tế)
Có TK 131: Thu của khách hàng
Có Tk 413: Chênh lệch tỷ giá
+ nếu tỷ giá tại thời điểm thanh toán nhỏ hơn tại thời điểm ký vận đơn:
Nợ Tk 1122: Số tiền thu được ( Ngoại tệ* tỷ giá thực tế)
Nợ TK 413: Chênh lệch tỷ giá
Có TK 131: Thu của khách hàng
- Cuối niên độ số dư trên TK 413 sẽ được ghi vào thu nhập hoặc chi phí hoạt
động tài chính:
+ Nếu TK 413 dư có :
Nợ TK 413
Có TK 711
+Nếu TK 413 dư nợ:
Nợ TK 811
Có TK 413
_Hiện nay Tổng công ty phải nộp thuế XK với thuế xuất là 1% trên doanh thu
Nợ TK 641: 400.000
Có TK 111: 400.000
-Ngày 3/4nhận giấy báo của Ngân hàng, kế toán ghi ;
Nợ TK 112(1122): 939.968.000(64.000USD x 14.687)
Có TK 131: 939.520.000
Có TK 413: 448.000
-Khi tính thuế XKphải nộp 1% trên doanh số , căn cứ vào hoá đơn bán hàng kế
toán ghi ;
Nợ Tk 511: 93.952.000
Có TK 333(3333): 93.952.000
-Khi nộp thuế XK bằng tiền mặt , kế toán ghi :
Nợ TK333( 3333): 93.952.000
Có TK 111,112: 93.952.000
-Để xác định kết quả cho lô hàng trên kế toán phân bổ trực tiếp chi phí hàng
bán cho lô hàng còn chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ theo tiêu thức doanh
số .Cụ thể chi phí quản lý được phân bổ cho lô hàng này là 450.000
Nợ TK 911; 4.450.000
Có TK 641: 4.000.000
Có TK 642: 450.000
Kết chuyển trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ sang TK 911 để xác định kết
quả XK của lô hàng
Nợ TK 911: 701.975.920
Có TK 632: 701.975.920
Đồng thời kết chuyển doanh thu thuần sang TK 911
Doanh thu thuần = Doanh thu theo hoá đơn – thuế xuất khẩu
24
Vũ Thị Lan Hương K3A-05
Doanh thu thuần = 939.520.000-93.952.000
Doanh thu thuần = 845.568.000
Kế toán ghi:
Trình tự hạch toán như sau:
- Ngày 12/8 kế toán hạch toán doanh thu lô hàng xuất khẩu sang Mông Cổ
theo tỷ giá ngày 12/8 là 15.287 đồng/USD
Nợ TK 131: 198.731.000 (13.000 x 15.287)
Có Tk 511: 198.731.000
Đồng thời kết chuyển trị giá hàng đã bán
Nợ TK 632: 139.000.000
Có TK 156: 139.000.000
25