Đề tài: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng nó ở Việt Nam - Pdf 21


Đề tài
Chính sách kinh tế mới
của Lênin và sự vận
dụng nó ở Việt Nam
1

PHẦN THỨ NHẤT

LỜI MỞ ĐẦU

Sau 15 năm đổi mới, nhất là trong 5 năm gần đây nền kinh tế xã hội
nước ta đã đạt được những bước tiến đáng kể. Năm 2020 Việt Nam sẽ là
một thị trường rộng lớn có số dân khoảng 100 triệu người đứng hàng thứ hai
trong số các nước có dân số lớn ở Đông Nam á, thứ 7 so với các nước Châu
á Thái Bình Dương và đứng hàng thứ 10 trên thế giới. Với nhịp độ tăng

đắn vấn đề do công cuộc đổi mới ở nước ta đặt ra. Chính vì thế, việc nghiên
cứu và vận dụng NEP vào nước ta trong giai đoạn hiện nay trở nên quan
trọng hơn bao giờ hết.
Với vốn hiểu biết ít ỏi, bài đề án này xin đề cập đến Chính sách kinh
tế mới của Lênin và sự vận dụng nó ở Việt Nam mà chủ yếu là thông qua
sự phân tích khoa học của Đảng và những đường lối chính sách đổi mới
sáng tạo của Nhà nước ta. Bài viết này là sự khẳng định con đường tiến lên
CNXH ở nước ta hiện nay.
Trước khi vào bài viết, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy Nguyễn Tiến Long, giảng viên môn
Kinh tế chính trị - trường đại học kinh tế quốc dân đã giúp đỡ để em có thể
hoàn thành bài luận văn này đúng thời hạn. 3
PHẦN THỨ HAI
CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG I :
C
C
Ơ
ƠS
S


Cuối năm 1920, phần lớn đất nước Liên Xô được giải phóng khỏi bon can
thiệp và bạch vệ. Tiêp đó, sự kết thúc nội chiến đã tạo ra những điều kiện
cần thiết để thực hiện kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất của nền kinh xã hội
chủ nghĩa (XHCN), kế hoạch mà Lênin nêu từ mùa xuân năm 1918. Tuy
nhiên tinh hình kinh tế, chính trị của đất nước vào cuối năm 1920 đầu năm
1921 đã khác nhiều so với đầu năm 1918. công lao lịch sử vĩ đại của Lênin
và Đảng do người lãnh đạo là sớm nhận thấy những đặc đIểm kinh tế chính
trị khác trước, đã phát hiện những mâu thuẫn và đưa ra sự phân tích khoa
học về các mâu thuẫn ấy.
1.sự nỗi thời của “ chủ nghĩa cộng sản thời chiến”.
* Không bao lâu sau Cách mạng tháng Mười, việc thực hiện kế hoạch xây
dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) của Lênin bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến
1918-1920. Trong thời kì này Lênin đã áp dụng “chính sách công sản thời
chiến “

4
Mục đích trước tiên của chính sách này là tập chung toàn bộ lực lượng của
xã hội và của nhà nước vào việc đảm bảo chiến thắng thù trong giặc ngoài.
Nhưng đồng thời chính sách này còn nhằm mục đích khác là thủ tiêu chủ
nghĩa tư bản và gốc rễ của nó ở trong nước để có thể nhanh chóng “vượt
qua” không chỉ là thời kì quá độ giữa CNTB và CNXH, mà nó còn vượt
qua cả chính CNXH tiến thẳng lên CNCS.
Nội dung của chính sách cộng sản thời chiến là: nhanh chóng thưc hiện
“Quốc doanh hoá” nền kinh tế bằng cách quốc hữu hoá tất cả các xí nghiệp
lớn, sau đó cả xí nghiệp vừa và nhỏ; Nhanh chóng xoá bỏ thương nghiệp tư
nhân lớn và nhỏ như cấm buôn bán ở chợ trong môt số thành phố, đóng cửa
các trung tâm buôn bán lớn; Nhà nước quản lý hầu hết nông sản, trưng thu

hình thức quá độ.
Chính sách cộng sản thời chiến đóng vai trò quan trọng trong thắng lợi của
Nhà nước Xô Viết trong cuộc chiến tranh không khoan nhượng chống
CNTB.
Nhờ nó mà quân sự đủ sức để chiến thắng kẻ thù, bảo vệ được Nhà nước Xô
Viết. Xác định tính xác thực của chính sách này bằng logic đấu tranh vì một
chế độ mới, sau khi thay đổi đường lối, Lênin đã viết: “chúng ta không thể
không hành động khác được. Bất cứ một hành động nào khác, về phía chúng
ta đều có nghĩa là hoàn toàn đầu hàng ”. Người cũng nhấn mạnh rằng “chế
độ công sản thời chiến” lại là thành tích của chúng ta.
* Tuy nhiên khi hoà bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn
thích hợp, nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển sản xuất. Đặc biệt
cùng với hậu quả nặng nề của 7 năm chiến tranh đế quốc và nội chiến đã
làm cho tình hình kinh tế xã hội trở nên nóng bỏng:
- Về công nghiệp: Ước tính 1/4 tài sản quốc gia mất đi, trong đó nền công
nghiệp bị tổn thất lớn nhất. Tổng sản lượng công nghiệp năm 1920 so với
năm 1917 giảm đi 4 lần, số người làm việc giảm gần 1/2. Do đó, tỷ trọng
sản phẩm công nghiệp trong nền kinh tế năm 1920 là 25%. Hầu như tất cả
các ngành đều sa sút. Nguyên vật liệu dự trữ đã dùng hết. So với năm 1913,
sản xuất đại công nghiệp giảm xuống tới 12,8%, còn công nghiệp giảm
xuống 44,1%. Do đó tương quan đã thay đổi nghiêng về tiểu công nghiệp(từ
24,2% đến 52,3%) .

6
- Về nông nghiệp: Diện tích gieo trồng sản lượng ngũ cốc, sản lượng chăn
nuôi đều giảm, bình quân ngũ cốc đầu người là 246 kg còn trước chiến tranh
là 405 kg.

7
lừa rối quần chúng tập hợp lực lượng hòng tấn công vào chính quyền Xô
Viết non trẻ.
* Cuộc khủng hoảng xuất hiện ngay sau khi ngừng tiếng súng. Nguy cơ đó
lại tiếp tục tăng lên, đòi hỏi những người công sản phảI xem xét, nhận thức
sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về lý luận và thực tiễn thời kì quá độ từ CNTB lên
CNXH.
Thứ nhất, mâu thuẫn khách quan trong sự ra đời nước Nga. Khi nói về mô
hình “cộng sản thời chiến”, Lênin cũng chỉ ra sự lác hậu, nghèo đói của
nước Nga lúc bấy giờ và sự đổ lát đã thúc đẩy phải tìm kiếm con đường
khắc phục những khó khăn vô cùng to lớn về kinh tế qua việc thực hiện lao
động ngang nhau. Thêm vào đó, trong lý luận CNXH khoa học, Lênin chưa
thảo ra lý luân chính trị và kinh tế - xã hội của thời kì quá độ và thời kì xây
dựng CNXH. Cuối cùng, tình trạng rối loạn trong đội ngũ kẻ thù giai cấp, sự
rút lui không có trật tự, dường như là sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ tư sản
khiến mọi người tin rằng việc tổ chức và phân phối phù hợp với dự kiến về
CNCS của Mác và Aghen, không có kích thích kinh tế, đồng thời xoá bỏ
quan hệ hàng hoá tiền tệ là hoàn toàn hiện thực. Vì vậy việc mất giá đồng
tiền xay ta lúc đó, cũng như việc thay buốn bán bằng phân phối sản phẩm
tập trung, trong đó có phân phối bằng tem phiếu và trưng thu lương thực,
được coi là những quá trình tự nhiên, là bằng chứng về sự phát triển rất đáng
mong mỏi và hơn nữa là sự phát triển nhanh chóng đi lên CNCS.
Còn về mặt chính trị của mô hình “cộng sản thời chiến” thì thực chất là việc
dẫn tới chỗ nhà nước hoá toàn bộ. Nhưng lại nảy sinh vấn đề kết hợp như
thế nào việc đó với viến cảnh ro Mác vạch ra về sự tiêu vong của nhà nước.
Để trả lời câu hỏi này, Lênin nói về tính chất rất tạm thời của nhà nước, về
sự tồn tại của nhà nước cho đến khi các giai cấp mất đI, vấn đề này hầu như
không còn xảy ra nữa. Chiến tranh còn đang tiếp tục, việc nhà nước hóa là
tất yếu và tiết thực, cũng như sự độc quyền của nhà nước về sản xuất và


nhất trong chiến đấu và chiến thắng.
Sau chiến tranh, giai cấp công nhân vẫn là người chủ yếu nuôi sống đất
nước, đời sống của họ lại đang thiếu thốn khó khăn. Nếu Đảng giữ được

9
nhiệt tình cách mạng và lòng tin của họ thì bảo vệ được cách mạng. Ngược
lại, nếu làm mất lòng tin của họ thì sự nghiệp sẽ hết sức nguy hiểm. Giữ
vững lòng tin lúc này có ý nghĩa là phải tìm ra động lực của thời kì xây
dựng. Xuất phát từ sự phân tích đó, Lênin đã chỉ ra rằng: phải bắt đầu từ
nông dân và nông nghiệp, phải cải thiện đời sống người lao động trên cơ sở
xây dựng quan hệ kinh tế bình thường giữa nông nghiệp với công nghiệp,
củng cố liên minh công nông trên cơ sở kinh tế nhằm lôi cuốn những người
sản xuất nhỏ vào việc xây dựng đất nước và đi lên CNXH. Chỉ có một chính
sách như vậy mới tạo được tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá XHCN.
Tư tưởng đó của Lênin đóng vai trò quyết định trong việc đưa ra lý luận
Mac-xit về thời kì quá độ vào thực tiễn cuộc sống và làm phong phú thêm lý
luận đó. Nhờ tư tưởng ấy mà Đảng đã sửa chữa được những sai lầm trong
thời kì đó.
Thứ hai: những sai lầm chủ quan của những người công sản cũng là một
thực tế phải giải quyết đồng thời với việc giải quyết mâu thuẫn khách quan.
Trong những năm tháng áp dụng “Chính sách cộng thời chiến” đã hình
thành quan niệm về khả năng quá độ trực tiếp lên CNXH. Nhiều chủ trương,
biện pháp quá đáng ra đời từ quan niệm này là một trong những nguyên
nhân làm tăng nguy cơ khủng hoảng. Mô hình kinh tế xã hội theo quan điểm
trực tiếp lên XHCN. Không qua các giai đoạn trung gian, không qua các
hình thức quá độ. Mô hình đó không phải dừng lại ở quan niệm mà đã thể
hiện trong thực tế sau khi chiến tranh kết thúc “một cuộc thí nghiệm không

nhân đã giảm 1/2, trong đó một bộ phận chuyển về nông thôn. Nông dân
ngày càng không bằng lòng với các chính sách của Đảng. Sai lầm trong lĩnh
vực hoạt động kinh tế gây ra hậu quả chính trị nặng nề: liên minh công nông
đứng trước nguy cơ tan rã, chuyên chính vô sản không được củng cố, vai trò
lãnh đạo của Đảng yếu đi. Tình trạng an ninh chính trị và an toàn ngày càng
xấu.
Ngược lai, với tình trạng trên đây, tình hình kinh tế và chính trị được cải
thiện nhanh chóng sau khi ban hành NEP vào tháng 3/1921. ngay sau đó, vụ
thuế lương thực đầu tiên đạt 96% (mặc dù tỉ xuất thu đã được hạ thấp và
năm 1921 là năm bị hạn hán và lạn đói hoành hành mạnh nhất). Thắng lợi
đầu tiên ấy chứng tỏ NEP là cong đường đi đúng đắn. Còn sau đó, giữa năm

11
1922 đến năm 1925, nông nghiệp phát triển mạnh, trong đó sản xuất lương
thực từ 56,3 triệu tấn tăng lên 74,7 triệu tấn. Nông thôn hoạt động sôi nổi.
Nông nghiệp được phục hồi và phát triển kéo theo sự khôi phục công nghiệp
và thương nghiệp. Đời sống nhân dân lao động được ổn định trở lại sau một
năm thi hành chính sách kinh tế mới, Lênin nói “ Nông dân lấy làm hài lòng
với tình trạng của họ hiện nay. Chúng tôi có thể mạnh dạng khẳng định như
thế.”
Sau bốn năm rưỡi thi hành chính sách NEP, nước Nga Xô Viếtkhông chỉ
khắc phục được hậu quả của chiến tranh và nạn đói mà sản xuất còn vượt
mức chiến tranh. “ Từ nước Nga của chính sách kinh tế mới sẽ nảy ra nước
Nga XHCN ”.
Tính chất đúng đắn của NEP đã được lịch sử chứng minh. Ngày nay muốn
vận dụng NEP và có kết quả cần phải đi sâu vào nội dung cơ bản của NEP.
B. nội dung và các biện pháp chủ yếu của chính sách kinh tế mới (NEP).

Xem xét toàn diện các nhân tố của cuộc khủng hoảng Lênin đã chỉ ra
nguyên nhân chủ yếu của cuộc khủng hoảng là nguyên nhân bên trong
những sai lầm về lãnh đạo quản lý, trước hết và chủ yếu là lĩnh vực kinh tế.
Vì vậy, những nội dung chủ yếu của NEP thực chất không phải là một số
các biện pháp tổng thể các biện pháp, mà là một cơ chế kinh tế. Mục tiêu
trước mát và cấp bách mà cơ chế trong NEP thực hiện là ổn định và cải thiện
đời sống của những người lao động ( kể cả biện pháp cấp bách xuất 10
triệu rúp vàng để nhập lương thực và hàng tiêu dùng) và các biện pháp nhằm
bảo vệ và củng cố chính quyền Xô Viết được coi là mục tiêu hàng đầu. Các
nội dung của NEP là một hệ thống gồm nhiều mắt xích liên hoàn nhau, có
mối quan hệ bên trong như một dây chuyền, không thể thiếu khâu nào. Tất
cả các khâu tạo thành một cơ chế kinh tế cho phép nhà nước tháo gỡ khó
khăn, điều hành sự vận động kinh tế xã hội.
Sau đây là những nội dung chủ yếu của cơ chế kinh tế NEP.
1. Thuế lương thực
Trong điều kiện nước Nga lúc bấy giờ, giai cấp công nhân và nông nghiệp là
nguồn nuôi sống xã hội. Sản xuất và đời sống xã hội phụ thuộc vào nông
nghiệp. Khó khăn lớn nhất mà Nhà nước vấp phải là thiếu lương thực. Nạn

13
đói 1921 càng tăng thêm khó khăn đó. Vì vậy, mục đích trực tiếp của thuế
lương thực là một trong những “biện pháp cấp tốc cương quyết nhất, cấp
thiết nhất để cải thiện đời sống của người nông dân và nâng cao lực lượng
sản xuất của họ “
(1)
Thực hiện thuế lương thực, xoá bỏ chế độ trưng thu
lương thực thừa có nghĩa là chuyển từ biện pháp hành chính thuần tuý sang

với các bộ phận nông dân: đối với bần nông thì thu thuế bằng 1,2% thu
nhập, trung nông thu 3,5% thu nhập còn đối với phú nông thì thu 5,6% thu
nhập.
Do mức thuế thấp nên năm 1921, nhà nước chỉ thu được 240 triệu pút lúa
mỳ sao với 423 triệu pút trưng thu trước đây. Nhưng để bù lại, do nông dân
hăng hái sản xuất, mở rộng diện tích nên tổng sản lượng lương thực của xã
hội và các nông sản khác tăng lên. Nhà nước qua con đường trao đổi có
được khối lượng lương thực nhiều hơn. Ngoài ra, ro mức thuế ổn định người
nông dân nào cũng biết trước số thuế phải nộp và cố gắng để sản xuất vượt
quá mức đó. Nhà nước càng thu thuế dễ dàng, thuận lợi.
Thuế lương thực là đòn xéo mạnh mẽ để khôi phục nền nông nghiệp sau
chiến tranh, biểu hiện yêu cầu của tính quy luận đầu tiên của quá trình khôi
phục kinh tế, bởi vì “Thuế lương thực sẽ giúp vào việc cải thiện đời sống
nông dân. Bây giờ nông dân sẽ bắt tay vào việc một cách yên tâm hăng hái
hơn đó chính là điều chủ yếu ”.
2. Khôi phục và phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp thông
qua trao đổi sản phẩm giữa nông nghiệp và công nghiệp.
Muốn cải thiện đời sống nông dân và công nhân thì không thể dựa vào nền
nông nghiệp gia trưởng mang tính chất tự cấp tự túc mà chỉ có thể dựa vào
một nền nông nghiệp hàng hoá. Trong thời kì áp dụng chính sách cộng sản
thời chiến, xu hướng hiện vật hoá nền nông nghiệp được duy trì và tăng lên
xu hướng kinh tế hóa bị kìm hãm. ý nghĩa và tác dụng cần có của thuế lương
thực không thể phát huy được trong nền nông nghiệp tự cung tự cấp, vì số
nông sản tăng lên một mức độ nào đó nếu không có trao đổi thì nó mất tác
dụng kích thích. Do đó, “thuế lương thực là một bước quá độ từ chế độ cộng
sản thời chiến đến chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình thường về sản
phẩm”.

đứng sự phát triển ấy là có hại cho cách mạng. Nhưng không được coi nhẹ

16
buông lỏng sự kiểm tra, kiểm soát sự phát triển ấy của xu hướng tư bản chủ
nghĩa, nhất là đấu tranh chống nạn đầu cơ, muốn vậy phải sử dụng hình thức
kinh tế “CNTB nhà nước”, Lênin nói: “CNTB nhà nước không đáng sợ, mà
đáng mong đợi. Học tập CNTB nhà nước”
(1)
. Và vì lợi ích của xã hội phải
phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước và tự do buôn bán để phát triển lực
lượng sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và để chống tệ quan liêu với điều
kiện là hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, là sự củng cố khu vực kinh tế
nhà nước có hiệu quả.
3. Khôi phục và tổ chức lại nền sản xuất công nghiệp phù hợp với yêu cầu
của nông nghiệp
Khôi phục sản xuất nông nghiệp có hai yêu cầu quan trọng:
Một là, có đủ hàng hoá trao đổi với nông dân để kích thích nông nghiệp.
Hai là, tập hợp lại giai cấp công nhân đang bị phân tán vì đói và thiếu việc
làm, củng cố kĩ thuật lao động, duy trì mức năng suất lao động cần thiết, để
phát huy vai trò của công nghiệp và giai cấp công nhân
Để thực hiện những yêu cầu đó phải sắp xếp, lựa chọn lại những ngành công
nghiệp phục vụ thiết thực cho xã hội, đặc biệt là chú ý phát triển tiểu thủ
công nghiệp, là thứ công nghiệp mà ta có thể dễ dàng tìm được nguyên vật
liệu để sản xuất.
Nhìn một cách tổng quát, quá trình khôi phục sản xuất công nghiệp có
những đặc điểm có tính quy luật:
- Một là, khôi phục công nghiệp trên cơ sở kĩ thuật cũ.

- Năm là, chuyển từ cơ cấu quản lý kinh tế tập trung bằng mệnh lệnh sang
cơ chế hoạch toán kinh tế nguyên tắc tập trung dân chủ. Phương pháp quản
lý bằng chỉ thị trước đây được thay bằng sự kết hợp tối ưu, phương pháp
hành chính với phương pháp kinh tế. Sự chuyển biến trong quản lý công
nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
+ Quá độ sang hoạch toán kinh tế. Các xí nghiệp hoạch toán kinh tế được
quyền tổ chức cung ứng, quyuền tiêu thụ sản phẩm của mình trên thị trường.
Muốn chuyển sang hoạch toán kinh tế, không những phải đảm bảo quyền tự
chủ của xí nghiệp về sản xuất mà còn thực thực hiện quyền tự chủ tài chính,
nhất là phân phối lợi nhuận và tiền lương. Việc thực hiện quyền tự chủ về
sản xuất tài chính phụ thuộc vào chính sách giá cả mà vấn đề then chốt là

18
quan hệ tỷ giá hàng công nghiệp so với hàng nông sản. Chính sách điều tiết
giá cả theo hai hướng: Các xí nghiệp thương nghiệp quốc doanh và hợp tác
xã giảm giá hàng bán cho nông thôn đồng thời nhà nước tăng giá mua đáng
kể những nông sản quan trọng nhất. Thực hiện nhiều biện pháp để giảm giá
bán công nghiệp. Bằng các cuộc vận động củng cố kĩ thuật lao động, tiết
kiệm nguyên liệu vật tư, chống lại cách làm ăn kinh tế đã làm tăng năng suất
lao động. Kết quả là lợi nhuận của công nghiệp quốc doanh tăng lên hơn 4
lần.
Nhờ chính sách giá cả tích cực, nhà nước dành được thị trường nông thôn.
trong năm 1924, đã thiết lập được tương quan giá trị giữa hai ngành công
nghiệp và nông nghiệp, bảo đảm cho hai ngành phát triển ổn định, với nhịp
độ khá cao.
+ Đổi mới cơ chế quản lý vĩ mô trong công nghiệp.
Khi các xí nghiệp quá độ sang hoạch toán kinh tế, sử dụng ngày càng rộng

- Phát triển quan hệ tín dụng.
Người vạch rõ nhiệm cụ của bộ máy quản lý kinh tế: “chúng ta phải học tập
những quan hệ buôn bán trên phạm vi cả nước, đó là một nhiệm vụ khó
khăn, nhưng quyết không phải là không thể làm được.”
Phương hướng quản lý lưu thông là: “căn cứ vào thị trường hiện có tính toán
đến các quy luật của nó, chiếm lĩnh thị trường và bằng những biện pháp kinh
tế thương xuyên có cân nhắc và được xây dựng trên sự kiểm kê chính xác
quá trình của thị trường mà nắm vững việc điều tiết thị trường và lưu thông
tiền tệ”.
Nội thương trở thành mắt xích đặt biệt cần nắm vững trong dây truyền quản
lý, điều tiết hoạt động của kinh tế. Thương nghiệp trở thành mắt xích trong
triển khai NEP vì: Mục đích cao nhất của NEP là thiết lập liên minh kinh tế.
Vì thế thương nghiệp là mối liên hệ kinh tế duy nhất, là điều kiện tái sản
xuất; hơn nữa không có hoạt động thương nghiệp thì không thể sử dụng các
hình thức quá độ trong sản xuất và lưu thông.
Một trong nhữn vấn đề quan trọng nhất của NEP là phải chiếm các vị chí chỉ
huy trong thương nghiệp khi triển khai quá trình lưu chuyển hàng hoá, đồng
thời hướng quá trình lưu thông đó đi thẳng tới nhu cầu của nông thôn và

20
thành thị. Để nắm chắc các vị trí thương nghiệp và làm chủ thị trường, nhà
nước chú ý đặc biệt đến củng cố mối liên hệ chặt chẽ giữa công nghiệp quốc
doanh với thương nghiệp quốc doanh và thương nghiệp tập thể để nắm quỹ
hàng hoá công nghiệp dùng làm phương tiện điều tiết thị trường. Nhà nước
sử dụng nhiều hình thức thương nghiệp với một cơ cấu thương nghiệp đảm
bảo vai trò của thương nghiệp Nhà nước, đấu tranh bằng cạnh tranh với tư
bản thương nghiệp.

thể thực hiện trên cơ sở tổ chức việc trao đổi hàng hoá đúng đắn.
Những quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với quy luật tái sản xuất và quy luật
khác của kinh tế hàng hoá được thực hiện trọng điều kiện chuyên chính vô
sản. Lênin cũng đã nêu ra những nguyên tắc cơ bản của tài chính XHCN
như sau:
- Vai trò của chính sách tài chính có ý nghĩa quyết định thắng lợi của công
cuộc cải tạo và xây dựng trong thời kì quá độ.
- Chính sách tài chính phải thống nhất, được quy định rõ ràng và các quy tắc
phải được chấp hành từ trên xuống dưới. Quan điểm về tập trung tài chính,
không mâu thuẫn với yêu cầu phát huy chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong
hoạt hoạt động thực tiễn.
- Hoạch toán kinh tế và kinh doanh theo nguyên tắc xí nghiệp hoàn toàn
chịu trách nhiệm về mặt tài chính đối với kết quả hoạt động kinh tế của
mình.
- Nguyên tắc cân đối ngân sách, công tác tài chính gắn với công tác ngân
hàng và thương nghiệp.
Vận dụng các quan điểm đó vào việc giải quyết những khó khăn về tài
chính, cụ thể là làm thế nào để tăng thu, giảm chi bằng những biện phát cụ
thể thuộc lĩnh vực tài chính trong cuộc khủng hoảng tài chính.
Để giảm chi, chính quyền Xô Viết đã thực hiện mấy biện pháp chủ yếu:
giảm biên chế nhà nước, thi hành những quy định về các khoản chi tiêu ở
mức tối thiểu, không cấp ngân sách cho các xí nghiệp.
Để tăng thu, các cơ sở kinh tế nhà nước chuyển sang hoạch toán kinh tế phải
tích nộp lợi nhuận và khấu hao cho ngân sách, xây dựng lại hệ thống thuế
(thuế công thương nghiệp, thuế thu nhập, thuế tài sản, thực hiện cải cách

22

23
- Bước ba: hoàn thành cải cách tiền tệ
Nhà nước ban hành đạo luật phát hành giấy bạc mới. Củng cố và phát triển
hệ thống ngân hàng. Mở rộng hệ thống tín dụng băng cách thành lập các
ngân hàng khác. Ngân hàng công thương nghiệp, ngân hàng chuyên nghiệp
và năng lượng, ngân hàng trung tâm của sự nghiệp công cộng và xây dựng
nhà ở. Bên cạnh hệ thống ngân hàng là một hệ thống hợp tác xã tín dụng
rộng khắp ở nông thôn.
Thắng lợi vững chắc của cuộc cải cách tiền tệ đã góp phần quan trọng thực
hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của NEP. Trong đó thắng lợi cơ bản nhất là
ổn định đời sống nhân dân, củng cố liên minh công nông, điều chỉnh lại
phân phối thu nhập quốc dân.
Thời kì 1921 đến 1924 là sự thử thách lớn, gay go đối với chính quyền Xô
Viết trẻ tuổi. Thắng lợi của NEP trong thời kì này biểu hiện khá đầy đủ sức
sống của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

24
C. Ý nghĩa của NEP và bài học thành công
Chính sách kinh tế mới NEP có ý nghĩa cực kì quan trọng. Trước hết nó
khôi phục được nền kinh tế Xô Viết sau chiến tranh. Chỉ trong một thời gian
ngắn đã tạo ra một bước phát triển quan trọng biết một nước Nga bị tàn phá
năng lề sau chiến tranh trở thành một đất nước có nguồn lương thực dồi dào.
Từ đó, nó khắc phục khủng hoảng chính trị, củng cố lòng tin của nhân dân
vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của CNXH theo nguyên lý mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status