Thực trạng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội - Pdf 21



Luận văn
Thực trạng hoạt động và
hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty Thiết bị
đo điện Hà Nội LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 1

LỜI NÓI ĐẦU

LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 2

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

I. Lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập
trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác
các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tiền vốn ) và trình độ chi phí các nguồn
lực đó trong quá trình tái sản xuất để đạt được các mục tiêu kinh doanh.
Nếu ký hiệu: H – Hiệu quả kinh doanh
K – Kết quả đạt được
C – Hao phí nguồn lực gắn với kết quả đó
Thì ta có công thức sau để mô tả hiệu quả kinh doanh
K
H =
C
Như vậy hiệu quả kinh doanh là thước đo ngày càng trở nên quan trọng
của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện
mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao
động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật
thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế. Để đạt được mục tiêu kinh doanh các

trong khu vực và trên thế giới ổn định là cơ sở, tiền đề thuận lợi giúp các
doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đạt
hiệu quả cao.
Môi trường kinh tế quốc dân bao gồm môi trường chính trị, pháp luật
và môi trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, điều kiện tự nhiên và cơ
sở hạ tầng, trình độ Khoa học kĩ thuật công nghệ. Đây là các nhân tố vô
cùng quan trọng tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường ngành: Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, trong
hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, môi trường ngành là nhân tố góp phần ảnh
hưởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó bao gồm các doanh
nghiệp trong ngành, khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp khác, các
sản phẩm thay thế, người cung ứng và khách hàng. Trong đó khách hàng là
vấn đề vô cùng quan trọng và được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú
ý.
2. Các nhân tố bên trong
Bao gồm cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, đặc tính về sản phẩm, công
tác tiêu thụ sản phẩm, công tác đảm bảo Nguyên vật liệu, cơ sở vật chất kỹ
thuật, tình hình Tài chính, Lao động, Tiền lương và Môi trường làm việc.
Đặc tính về Sản phẩm: Ngoài chất lượng của sản phẩm những đặc tính
mang hình thức bên ngoài của sản phẩm như mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu là
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 4

những yếu tố cạnh tranh không thể thiếu được. Các đặc tính của sản phẩm là
nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, góp
phần lớn vào việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm cơ sở
cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên có ảnh hưởng rất lớn tới

nghiệp.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 5

Môi trường làm việc: Bao gồm môi trường văn hoá và môi trường
thông tin, hai yếu tố này cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp.
III. Hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
1. Hiệu quả kinh doanh tổng hợp .
Để đánh giá Hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của toàn doanh
nghiệp người ta thường dùng các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu Doanh thu một đồng chi phí trên cho biết với một đồng Chi phí
bỏ ra, doanh nghiệp tạo ra được mấy đồng Doanh thu.
Doanh thu trên Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
một đồng chi phí
=
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ

Chỉ tiêu Doanh thu trên một đồng vốn kinh doanh phản ánh một đồng
Vốn kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng Doanh thu.
Doanh thu trên một Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

đồng vốn kinh doanh

=

Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ

Doanh thu tiêu thụ thuần
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Lao động là yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất, hiệu quả sử dụng lao
động góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp. Chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả sử dụng lao động trong mỗi doanh nghiệp sẽ mang lại
hiệu quả cao hay thấp. Hầu hết doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị
trường đều phải sử dụng lao động, nhưng việc sử dụng lao động đó sẽ mang
lại hiệu quả ra sao thì ta cần đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 6

Chỉ tiêu năng suất lao động cho biết bình quân một lao động trong một
kỳ kinh doanh sẽ có khả năng đóng góp sức mình vào sản xuất để thu lại
được bao nhiêu giá trị sản lượng cho doanh nghiệp.
Giá trị sản xuất
Năng suất lao động

=
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu sức sản xuất của lao động cho biết bình quân một lao động
trong một kỳ kinh doanh làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Doanh thu tiêu thụ sản xuất trong kỳ Sức sản xuất của
lao động
=

Tổng số lao động bình quân trong kỳ
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Tài sản cố định (TSCĐ)
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ, người ta thường sử dụng các chỉ

chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ hiệu suất sử dụng TSLĐ cao.
Vòng quay TSLĐ

Doanh thu thuần trong kỳ
Trong kỳ
=

TSLĐ bình quân trong kỳ
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 7

Hiệu quả sử dụng TSLĐ phản ánh khả năng sinh lợi của TSLĐ. Nó cho
biết mỗi đơn vị TSLĐ có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị Lợi nhuận sau
thuế.
Lợi nhuận sau thuế Hi
ệu quả sử dụng
TSLĐ trong kỳ
=

TSLĐ sử dụng bình quân trong kỳ

Mức đảm nhiệm TSLĐ cho biết để đạt dược mỗi đơn vị doanh thu,
doanh nghiệp phải sử dụng bao nhiêu phần trăm đơn vị TSLĐ. Chỉ tiêu này
càng thấp càng chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao.

TSLĐ bình quân trong kỳ Mức đảm nhiệm
TSLĐ
=

Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta thường so sánh kết
quả đầu ra so với chi phí đầu vào trong một quá trình. Do vậy, muốn nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ về chi
phí đầu vào của quá trình sản xuất và làm sao phải giảm chi phí đầu vào
xuống mức thấp nhất có thể. Có như vậy thì quá trình sản xuất kinh doanh
mới đạt hiệu quả cao.
Chi phí đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, thường bao gồm:
Chi phí sản suất , chi phí lưu thông sản phẩm và các chi phí Bán hàng ,quản
lý doanh nghiệp. Chi phí sản suất là các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra
để đạt được mục tiêu kinh doanh. Do vậy, có thể nói chi phí sản xuất là các
chi phí của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các hao phí về
vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản suất sản phẩm
trong một thời kỳ nhất định. Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện
các định mức chi phí ,tính toán được kết quả tiết kiệm chi phí ở từng bộ
phận sản xuất và toàn doanh nghiệp. Cần phải tiến hành phân loại chi phí
sản xuất. Việc phân loại chi phí sản xuất có tác dụng để kiểm tra và phân
tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩm. Từ đó ta
có thể xem xét để giảm chi phí ở từng loại, góp phần hạ giá thành sản phẩm
sản xuất ra.
Trong quá trình sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường, việc tiêu thụ
sản phẩm đối với một doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Để thực hiện việc
tiêu thụ sản phẩm , doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định, đó là
chi phí lưu thông sản phẩm bao gồm chi phí trực tiếp đến việc tiêu thụ sản
phẩm (như : chi phí đóng gói, bao bì, vận chuyển,….) và chi phí marketinh
(như chi phí điều tra nghiên cứu thị trường, chi phí giới thiệu sản phẩm, chi
phí bảo hành,…). Ngoài ra chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp cũng là bộ phận cấu thành nên chi phí đầu vào của quá trình sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp .
Việc phân loại chi phí một cách rõ ràng kết hợp với việc giảm các loại
chi phí một cách hợp lý sẽ góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tính

đo và đếm điện.
Cho tới nay, Công ty đã đạt được nhiều thành công rực rỡ. Không
những đứng vững trước khó khăn do cơ chế thị trường, mà còn tận dụng
được những lợi thế của nó để phát triển. Công ty đã trở thành một trong số
những Công ty dẫn đầu trong ngành chế tạo Thiết bị điện ở Việt Nam và
luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao với quy mô năm sau cao hơn
năm trước.
2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, Công ty Thiết bị đo điện Hà
Nội đã luôn phấn đấu, đầu tư mở rộng sản xuất, không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm. Để có thể đứng vững trong nền kinh tế đang có nhiều biến
động và cạnh tranh gay gắt hiện nay, Ban lãnh đạo Công ty đã đề ra những
chức năng và nhiệm vụ chính sau:
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 10

 Xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh.
 Thực hiện chế độ hạch toán độc lập.
 Chấp hành đúng các chính sách, chế độ của nhà nước
 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân viên trẻ có năng lực
 Nghiên cứu, áp dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới, lập quy
hoạch và tiến hành nâng cấp cơ sở hạ tầng.
3. Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
3. 1. Đặc điểm tổ chức sản xuất của Công ty
Cơ cấu sản phẩm của Công ty Thiết bị đo điện khá đa dạng và phức tạp
(Bao gồm công tơ một pha, công tơ ba pha, máy biến dòng hạ thế và đồng
hồ vôn. Ampe. . ). Tuy nhiên các sản phẩm này đều có quy trình gia công

ế
t

Lắp
giáp bộ
phận
cuối
cùng

Hiệu
chuẩn
kỹ
thuật
Sản
xuất
chi
tiết
Bao
gói
nhập
kho
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 11

- Phân xưởng 6: Là phân xưởng sản xuất phụ chuyên sản xuất các loại
dụng cụ phục vụ cho các phân xưởng sản xuất khác, sửa chữa các hệ
thống Thiết bị cho toàn Công ty.
Về đặc điểm dây chuyền công nghệ: Toàn bộ dây chuyền sản xuất của

Phó Giám đốc
Trưởng ban Đảm bảo
chất lượng
Phòng Tổ chức
Phòng kế hoạch
Phòng Vật tư
P. Quản lý chất

ợng

Phân xưởng cơ
d
ụng

Phân xưởng Đột
Phòng Lao Động
Phân xưởng ép
Phân xưởng Cơ khí
p
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 12

3.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
Giám đốc: là người có quyền hành cao nhất, có trách nhiệm tổ chức
hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Công ty theo điều lệ doanh nghiệp
được Hội đồng Tổng Công ty phê duyệt. Trực tiếp ký nhận vốn, tài sản của
Tổng Công ty giao cho (kể cả đất đai và các nguồn lực khác) để quản lý, sử
dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh. Duyệt chiến lược phát triển, kế
13

Phòng tài vụ: Xây dựng các kế hoạch Tài chính, giá cả cho các yêu
cầu sản xuất, quản lý tài sản cố định và lưu động. Tổ chức và sử dụng các
nguồn vốn có hiệu quả. Tổ chức thực hiện và hướng dẫn việc ghi chép ban
đầu, mở sổ sách hạch toán kế toán và thống kê tổng hợp. Thanh toán và
hạch toán kịp thời, đầy đủ, đúng hạn mỗi khoản thu, chi Tài chính, xuất
nhập vật tư, sản phẩm được biểu hiện bằng tiền.
Phòng lao động: Xây dựng kế hoạch qũy lương được cấp trên phê
duyệt. Xây dựng và hoàn thiện các định mức lao động, đơn giá trả lương,
các phương pháp trả lương, quản lý, tổ chức thực hiện và phân tích hiệu quả
kinh tế của các định mức đó. Xây dựng kế hoạch lao động hàng năm. Duy
trì và kiểm tra việc chấp hành nội quy, quy chế và kỷ luật lao động.
Phòng Bảo Vệ: Tổ chức xây dựng và bảo vệ các kế hoạch về bảo vệ
trật tự trị an và tài sản xã hội chủ nghĩa, Xây dựng hoàn thiện nội quy và
quy chế trong công tác bảo vệ trong Công ty.
Phòng hành chính: Tổ chức thực hiện công tác quản trị các công trình
công cộng và tài sản ngoài sản xuất như: Nhà cửa, đất đai, môi trường và
các phương tiện sản xuất khác, bố trí nhà ở cho cán bộ công nhân viên theo
chủ trương của hội đồng phân phối nhà ở Công ty và có biện pháp cao nhất
trong việc sử dụng các công trình và tổ chức thực hiện trong Công ty các
chính sách của nhà nước.
3. 3. Đặc điểm về Nguyên vật liệu và Sản phẩm của Công ty
3.3.1 Đặc điểm Nguyên vật liệu
Chủng loại vật tư của Công ty hiện lên tới 1600 loại khác nhau như:
dây điện từ, tôn silic, điốt, điện trở, vòng bi . Mà thị trường trong nước thì
chưa đáp ứng được yêu cầu chất lượng, bởi vậy Công ty phải nhập khẩu
phần lớn Nguyên vật liệu(80%) thông qua các Công ty ủy thác xuất nhập

Chỉ tiêu
2001 2002 2003
Số
người
% Số người %
1.Tổng số LĐ

810 825 850 15 1,85 25 3,03
2.Cơ cấu LĐ
+LĐ gián tiếp 120 125 135 5 4,17 10 8,00
+LĐ trực tiếp 690 700 715 10 1,45 15 2,14
3.Trình độ
+Đại học 98 100 110 2 2,04 10 10
+Trung học 300 300 15 0 0 15 5,00
+Công nhân 412 425 425 13 3,15 0 0

Là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh , cho nên lao động trực tiếp
trong Công ty thường chiếm một tỷ lệ lớn, tới 84,8% trong tổng số lao động.
Số lao động trong Công ty có trình độ đại học hầu hết giữ vị trí quan trọng
trong Công ty. Tuy số lượng lao động có trình độ đại học không nhiều,
nhưng cũng đủ đáp ứng nhu cầu quản lý quá trình sản xuất kinh doanh của
Công ty.
3.5. Đặc điểm về thị trường
Tất cả sản phẩm của EMIC chủ yếu được các ngành điện sử dụng (có
7 ngành điện trong cả nước). Giá của sản phẩm của Công ty rẻ hơn so với
sản phẩm cùng loại nhập ngoại, mặt khác chất lượng sản phẩm lại tốt và các
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 15

lưu động lại chiếm một tỷ lệ như vậy là chưa hợp. Điều này cho thấy, nó có
thể ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của công ty. Do đó, công ty
cần phải có giải pháp nhằm nâng cao tỷ trọng Vốn lưu động trong tổng
nguồn vốn.
Thông qua 4 năm từ 2000-2003, nhìn chung Nợ phải trả của công ty
vẫn luôn chiếm một tỷ lệ lớn, thường là 45%- 50% trong tổng nguồn vốn.
Điều này nó sẽ ảnh hưởng tới chi phí sản xuất của công ty, từ đó làm ảnh
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 16

hưởng tới lợi nhuận của công ty. Trong 4 năm liên tiếp từ 2000- 2003, thì dư
có năm 2000 nhìn chung tình hình tài chính là tốt hơn cả. Nguồn vốn từ 32,7
tỷ năm 2001 tăng lên tới 37 tỷ trong năm 2002, tăng 13,3% tỷ trọng. Nguồn
vốn chủ sở hữu cũng tăng mạnh từ 49,79% năm 2001 lên 54,5% năm 2002.
Điều đó cũng đồng nghĩa với việc tỷ trọng nợ phải trả giảm.
II. Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội
1. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là thước đo để đánh giá
đúng năng lực trình dộ của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có năng
động nhạy bén và hoạt động có hiệu quả hay không được thể hiện qua
những chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 17

Biểu 3 : Kết quả tiêu thụ sản phẩm của Công ty Thiết bị đo điện Hà Nội


4. Lợi nhuận Nghìn đồng

10.992.189 13.900.351 14.004.214 16.154.275
5.Nộp ngân
sách
Nghìn đồng

14.019.723 14.019.723 15.892.961 16.150.671
6.TNBQ đầu
người
Ng.đ/tháng 600 650 750 820
Thông qua biểu 4 ta thấy, các chỉ tiêu Khối lượng sản phẩm sản xuất,
khối lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận liên tục tăng qua các
năm. Đặc biệt, trong năm 2003 các chỉ tiêu là tăng mạnh nhất. Sự tăng lên
của các chỉ tiêu này cho thấy kết quả sản xuất kinh doanh của công ty càng
ngày càng tốt. Sản phẩm của công ty ngày càng chiếm lĩnh được thị trường
và quy mô hoạt động kinh doanh của công ty cũng ngày được mở rộng.
Để có được kết quả như vậy là nhờ sự nỗ lực cao của tất cả cán bộ công
nhân viên trong Công ty. Sự ốn định của thị trường góp phần làm giảm chi
phí do vậy mà lợi nhuận tiêu thụ cũng tăng đáng kể.
2. Phân tích hiệu qủa kinh doanh
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Thiết bị đo điện ta
xem xét hiệu quả trong việc sử dụng lao động trong công ty, sử dụng các
nguồn vốn kinh doanh như thế nào và sử dụng một số các chỉ tiêu khác để
đánh giá hiệu quả kinh tế tổng hợp.
2.1- Hiệu quả kinh tế tổng hợp.
Hiệu quả Kinh tế tổng hợp là một hệ thống chỉ tiêu chung phản ánh về tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm “Doanh thu”, “chi
phí”,“Lợi nhuận” ,”vốn kinh doanh ”.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 20

Qua biểu 5, ta thấy:
- Doanh thu của Công ty năm 2001 cao hơn năm 2000 là 19.959.372
nghìn đồng, tăng 15,6%.Sự tăng Doanh thu này có được là do có sự gia tăng
về khối lượng sản phẩm bán ra trên thị trường trong năm 2001. Hơn thế nữa
Doanh thu của Công ty trong năm 2002 cũng cao hơn năm 2001 với số tuyệt
đối là 38.545.494 nghìn đồng tăng 26%. Sự gia tăng thường xuyên này có
được là do Công ty ngày càng mở rộng thị trường, sản thẩm tiêu thụ ngày
một nhiều và tạo được chỗ đứng vững chắc trên cả thị trường mới và cũ.
- Lợi nhuận của Công ty tăng nhanh, năm 2001 tăng 26,5% so với năm
2000. đến năm 2002 thì lợi nhuận tăng rất chậm chỉ tăng hơn 0.7% so với
năm 2001 tương đương 103.863 nghìn đồng. Lợi nhuận của Công ty tăng
lên như vậy là do chi phí sản xuất giảm.
- Doanh thu trên một đồng chi phí của Công ty tăng lên 2001 nhưng lại
giảm đi trong năm 2002. Cụ thể năm 2001 chỉ tăng lên 0,1% so với năm

triển vốn của Công ty.
2.2- Hiệu quả sử dụng lao động
Để tiến hành nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng lao động của
Công ty, chúng ta cấn xem xét trên ba yếu tố đó là “năng suất lao động ”,
“sức sản xuất của lao động ”, “sức sinh lợi của lao động ”. Các chỉ tiêu này
cho phép chúng ta biết được khả năng sản xuất và khả năng sinh lợi của lực
lượng lao động sống của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh
thông qua mối liên hệ giá trị thu được trên từng lao động.



LuËn v¨n tèt nghiÖp Lª Minh §øc 23

Qua biểu phân tích tình hình lao động ta thấy:
Số lượng lao động của Công ty tăng dần qua 3 năm: năm 2001 số lượng
lao động giữ nguyên là 810 người, sang năm 2002 số lượng lao động tăng
lên 1,9%(từ 810 người lên 825 người). Và đến năm 2003 đã tăng lên đến
850 người.
Vì vậy năng suất lao động của Công ty lại tăng lên năm 2001 hơn năm
2000 là 14,8% và năm 2002 năng suất lao động của Công ty tăng gần gấp
đôi (24,4%) so với năm 2001.
Và sức sản xuất của lao động cũng tăng lên. Năm 2001 sức sản xuất lao
động của Công ty tăng 15,6%, năm 2002 sức sản xuất lao động của Công ty
tăng cao hơn mức tăng của năm 2001 và tăng thêm 23,7% so với năm 2001.
Tuy nhiên sức sinh lợi của lao động trong năm 2002 lại giảm so với
năm 2001. Cụ thể trong năm 2001 sức sinh lợi của lao động là 17.160.927
đồng tăng hơn so với năm 2000 là 26,5% trong khi sang năm 2002 sức sinh
lợi của lao động là 16.974.805 đồng lại giảm hơn so với năm 2001 là 1.1%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status