Luận văn: Những nhân tố tác động và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay - Pdf 21

Luận văn

Những nhân tố tác động và biện
pháp xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam hiện nay

LỜI GIỚI THIỆU
1. Bối cảnh nghiên cứu
Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một
bức tranh tổng thể là thế giới với gần một nửa số dân sống dưới 2USD
*
/ngày
và cứ 8 trong số 100 trẻ em không sống được đến 5 tuổi. Vì vậy một phong
trào sôi nổi và rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào để đẩy lùi
nghèo đói. Còn Việt Nam thì sao? Trong những năm gần đây, Việt Nam được
đánh giá là một trong những nước có công tác xoá đói giảm nghèo tốt nhất
theo tiêu chuẩn và phương pháp xác định đường nghèo khổ của WB, tỷ lệ
nghèo ở Việt Nam giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 và
hiện nay còn khoảng 30%. Theo tiêu chuẩn quốc gia tỷ lệ nghèo đói của nước

hơn. Thông qua các ngưỡng nghèo, các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo như chất
lượng của cuộc sống, mức nghèo đến đâu, tình trạng giáo dục ra sao, sự đảm
bảo y tế như thế nào, tình trạng giáo dục ra sao, sự đảm bảo y tế như thế nào.
Nó sẽ xác định được các đối tượng rơi vào diện nghèo, diện đói.
4. Các câu hỏi nghiên cứu
Để đánh giá chính xác về tình trạng của nghèo đói ta cần trả lời các câu
hỏi:
- Đói nghèo là gì?
- Đói nghèo được biểu hiện ở những khía cạnh nào?
- Các chỉ tiêu và chuẩn mực để xác định và đánh giá đói nghèo?
- Thực trạng đói nghèo của Việt Nam trong những năm gần đây?
- Các nhân tố tác động đến tình trạng nghèo đói?
- Các biện pháp khắc phục?
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích được tình trạng nghèo đói thì ta cần dùng một số phương
pháp như phân tích, đánh giá, so sánh, thống kê và mô tả nhằm phân tích xoáy
sâu vào các nhân tố tác động đến sự nghèo khó, đánh giá xem mức độ nghèo
đói đến đâu, diễn biến của nó như thế nào là phạm vi ảnh hưởng của nó ra
sao. Mặt khác cần phải có sự kết hợp với các số liệu thống kê để phản ánh
tình trạng nghèo đói một cách trung thực hơn, chính xác hơn. Qua đó cho
phép ta so sánh được các người nghèo, các nhóm dân cư nghèo, các vùng
nghèo và các quốc gia nghèo khác nhau.
6. Kết cấu của đề tài:
Đề tài sẽ được chia làm 3 phần:
Chương 1: Đói nghèo - các nguyên nhân dẫn tới đói nghèo.
Chương 2: Những nhân tố tác động đến đói nghèo ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm xoá đói giảm nghèo.
Do phạm vi nghiên cứu rộng, năng lực và kinh nghiệm bản thân có hạn,
đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em mong nhận được
sự chỉ dẫn, gợi ý, nhận xét của thầy cô để bổ sung và hoàn chỉnh hơn.

quan niệm này còn rất nhiều hạn chế.
 Quan điểm hiện nay
Hiện nay do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo
đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và cũng có thể được hiểu theo các cách tiếp
cận khác nhau:
- Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực châu Á Thái Bình Dương
do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái
niệm về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập
quán của địa phương.
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức
trung bình của cộng đồng.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng
cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ
yếu là trong lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực,
một vùng.
- Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo nhan đề “khắc phục sự
nghèo khổ của con người” đã đưa ra những định nghĩa về nghèo.
+ Sự nghèo khổ của con người: thiếu những quyền cơ bản của con người
như biết đọc, biết viết, được tham gia vào các quyết định cộng dồng và được
nuôi dưỡng tạm đủ.
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng
chi tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.

việc cực nhọc nhưng thu nhập chẳng được là bao. Hơn thế nữa, những công
việc này lại thường rất bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc
vào thời vụ và có tính rủi ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn
như mưa, nắng, lũ lụt, hạn hán, động đất ). Các nghề thuộc về nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên
việc chi tiêu cho cuộc sống của những người nghèo là rất hạn chế. Hầu hết
các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con người như cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ
được đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn không đủ. Nhiều người rơi
vào cảnh thiếu ăn liên miên: chưa nói đến vấn đề đủ dinh dưỡng, riêng việc
đáp ứng lượng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con người để có thể duy trì hoạt
động sống bình thường họ cũng chưa đáp ứng được, hoặc đáp ứng một cách
khó khăn. Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác như làm giảm sức
khoẻ của người nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu nhập
cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà người nghèo rất khó thoát ra
được.
Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những người nghèo.
Tài sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con người, tài sản tự nhiên, tài
sản tài chính, tài sản xã hội. Tài sản con người thể hiện ở khả năng có được
sức lao động cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt. Như đã trình bày ở trên, do thu
nhập thấp nên người nghèo không thể đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu về
lương thực thực phảam. Ăn uống cực kì thiếu thốn cộng với lao động nặng nề
đã làm giảm sức khoẻ của người nghèo do đó cũng không đảm bảo được các
kỹ năng cũng như sức lao động cơ bản. Tài sản tự nhiên như đât đai, thiếu tài
sản tự nhiên có nghĩa là thiếu, không có hoặc có nhưng đất đai quá cằn cỗi,
không thể canh tác được. Tài sản vật chất ở đây như nhà ở, phương tiện sản
xuất - người nghèo có rất ít hoặc hầu như không có các phương tiện sản xuất.
Điều này đã hạn chế khả năng lao động của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so
với những người có đủ phương tiện sản xuất nó cũng làm giảm thu nhập của
họ. Còn về nhà ở, đại đa số người nghèo sống trong những căn nhà tạm bợ,
dột nát, chật chội. Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo đảm

Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng thất vọng.
Hầu hết những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn. Tỷ lệ
thất học, mù chữ ở hộ nghèo, đói cao. Có tình trạng như vậy là do các gia
đình này không thể trang trải được các chi phí về họctập của con cái họ như
tiền học phí, tiền sách vở đi học, họ sẽ mất đi một lao động trong gia dình.
Những người nghèo cũng đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của học thức
với nghèo đói nhưng vấn đề học phí của con em họ quả là vấn đề quá khó
khăn với tình hình tài chính của gia đình. Một phụ nữ đã nói: “Các con tôi đã
sẵn sàng tới trường vào tháng 9, nhưng tôi không biết làm thế nào để có thể
cho cả ba đứa tới trường. Ở một số nước, trẻ em phải thôi học bởi lỡ hạn nộp
học phí đến đúng vào lúc mà gia đình không có khả năng thanh toán nhất.
Tóm lại, y tế - giáo dục là vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ
cũng đã hiểu rõ tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân họ cũng như
tương lai của họ và gia đình nhưng do thu nhập thấp, không đủ trang trải, học
phí, viện phí, họ đành phải để con cái thôi học, người bệnh không được khám
và chữa chạy đúng mức, kịp thời, hầu hết các người nghèo không được tiếp
cận với các dịch vụ y tế. Điều này đã làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ,
giảm sức khoẻ cũng như hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau.
 Nguy cơ dễ bị tổn thương
Ở những người nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thương là nhân tố luôn đi kèm
với sự khốn cùng về vật chất và con người. Vậy nguy cơ dễ bị tổn thương là
gì? Nó chính là nguy cơ mà người nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
như bị ngược đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách
khác, những rủi ro mà người nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của
họ chính là nguyên nhân khiến họ rất dễ bị tổn thương. Những người nghèo
do tài sản ít, thu nhập thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu
cầu thiết yếu nhất của cuộc sống. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn
thương và rất khó vượt qua được các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính
tạm thời mà những người có nhiều tài sản hơn dễ dàng vượt qua được. Do thu
nhập thấp, người nghèo có rất ít khả năng tiếp cận với các cơ hội tăng trưởng

quyết định được vấn đề gì dù rằng vấn đề đó liên quan đến lợi ích của chính
họ.
Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những người phụ nữ
bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ. Người phụ nữ không có
quyền quyết định việc gì và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chồng của
họ.
1.2. Các thước đo chuẩn mực đánh giá đói nghèo
1.2.1. Các thước đo đói nghèo.
Đo lường đói nghèo thông qua các chỉ tiêu như thu nhập, chỉ số về giáo
dục và y tế, nguy cơ dễ bị tổn thương, không có tiếng nói và quyền lực cho
phép có được một cách nhìn tổng thể về đói nghèo. Nó phản ánh chính xác
các nguyên nhân gây ra đói nghèo, từ đó chính phủ hay cộng đồng quốc tế có
các biện pháp thích hợp để hành động.
 Đói nghèo theo thu nhập
Sử dụng thước đo thu nhập hay tiêu dùng bằng tiền để xác định và đo
lường đói nghèo là một phương pháp đã được áp dụng từ lâu. Từ năm 1899
Seebohm Rowntree đã sử dụng phương pháp này để đo lường đói nghèo. Qua
các cuộc khảo sát về thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình ông đã đưa ra
định nghĩa: “Đói nghèo là mức tổng thu nhập không đủ trang trải nhu cầu
thiết yếu tối thiểu để duy trì sức lực cơ bắp thuần tuý”. Nhu cầu thiết yếu đó
bao gồm thực phẩm, tiền thuê nhà và một số thứ khác. Từ đó ông đã đi đến
ước tính về đói nghèo của mình. Tuy cách làm này còn nhiều hạn chế song nó
cũng phản ánh được phần lớn tình trạng nghèo khổ của người dân lúc bấy giờ.
Hiện nay WB vẫn sử dụng phương pháp và cách tiếp cận giống như của
Rowntree. Cách làm này cũng được nhiều quốc gia áp dụng vì nó có nhiều ưu
điểm. Điều tra hộ gia đình thu được nhiều thông tin, là căn cứ để tìm ra các
mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của đói nghèo, từ đó đưa ra các
giải pháp hữu hiệu. Ngoài ra, thước đo đói nghèo theo thu nhập và tiêu dùng
đã xác định được ngưỡng nghèo. Đây là ranh giới quan trọng về thu nhập hay
tiêu dùng mà dưới đó, các cá nhân và hộ gia đình bị coi là nghèo. Cách làm

x100
-
Tỷ lệ bà mẹ có thai; tiêm uốn ván đủ mũi
=
Số phụ nữ có thai
tiêm đủ mũi uốn ván;Tổng số phụ nữ sinh con trong năm
x100
-
Tỷ lệ hộ có giếng nước;hợp vệ sinh
= Error!x100
-
Tỷ lệ hộ có hố xí;hợp vệ sinh
= Error! x 100
-
Tỷ lệ tử vong; trẻ sơ sinh
= Error!
-
Tỷ lệ tử vong;của sản phụ
= Error!
- Tuổi thọ bình quân là số năm trung bình một người có thể sống được.
- Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là tỷ lệ phụ nữ đang thực hiện
hay bạn đời của họ đang thực hiện bất kỳ hình thức tránh thai nào.
+ Về giáo dục:
-
Tỷ lệ trẻ đến trường; đúng độ tuổi
= Error! x 100
-
Tỷ lệ trẻ ngoài; trường học
= Error! x 100
-

mang tính rủi ro ít hơn hoạt động nông nghiệp. Vì vậy đa dạng hoá thu nhập
là thước đo khả năng chống chọi lại các rủi ro liên quan đến thời tiết.
- Mối liên hệ với mạng lưới an sinh. Đánh giá nguy cơ dễ bị tổn thương
của hộ gia đình dựa vào các khoản hỗ trợ trông thấy mà họ sẽ được nhận khi
khủng hoảng, từ các nhóm hay hiệp hội mà họ là thành viên.
- Tham gia mạng lưới an sinh chính thức: Nguy cơ tổn thương của hộ gia
đình sẽ giảm bớt nếu hộ đủ tiêu chuẩn nhận được sự trợ giúp xã hội bảo hiểm
thất nghiệp, lương hưu và các khoản trợ cấp khác do nhà nước cấp.
- Tiếp cận thị trường tín dụng. Tương tự, nguy cơ tổn thương của hộ gia
đình sẽ giảm nếu hộ tiếp cận được nguồn tín dụng một cách nhẹ nhàng.
Kết hợp tất cả góc độ này với nhau ta sẽ có được một bức tranh tổng thể
về nguy cơ dễ bị tổn thương của những người nghèo, nó cho biết khả năng
chống chọi của hộ khi có những biến động trong cuộc sống.
Việc đo lường nguy cơ dễ bị tổn thương trên thực tế gặp nhiều khó khăn
do nó là một khía niệm động nên việc đo lường rất phức tạp, tốn nhiều tiền
của và công sức. Không thể đo lường nó bằng cách quan sát các hộ gia đình
mà phải có cuộc điều tra, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt được
những thông tin cơ bản và tính biến động và nguy cơ dễ bị tổn thương mà
người nghèo là rất quan trọng.
 Không có tiếng nói và quyền lực
Không có tiếng nói và quyền lực có thể được đo lường bằng cách sử
dụng kết hợp các biện pháp có sụ tham gia của người dân, phỏng vấn và điều
tra quốc gia về các vấn đề như mức tự do dân sự, tự do chính trị. Không có
tiếng nói và quyền lực thể hiện ở chính mức độ được trao quyền của người
dân. Tức là, xem xét khả năng tham gia vào các quyết định của gia đình, của
cộng đồng vì những người nghèo thường bị khinh miệt, đối xử và thậm chí
còn bị hạn chế một số quyền mà những người bình thường khác nghiễm nhiên
được hưởng. đo lường mức độ không có tiếng nói và quyền lực nó phản ánh
nỗi khổ đau mà những người nghèo cam lòng gánh chịu. Họ không có cả
những quyền tham gia vào những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi của

cháo, ăn độn khoai sắn Như vậy những hộ đói thì thường con cái của họ thất
học, nhà cửa dột nát, đồ dùng trong nhà không đáng kể, không còn lương thực
dự trữ trong nhà, song cũng không có tiền để mua lương thực trong ngày, mặc
dù trên thị trường không thiếu lương thực.
Hiện nay Bộ Lao động - Thương binh xã hội mới đưa ra chuẩn nghèo
mới áp dụng cho giai đoạn 2001-2005. Theo tiêu chuẩn này thì có hai phương
án để lựa chọn:
Khu vực áp dụng Chuẩn nghèo (đồng/người/tháng)
Phương án 1 (thấp) Phương án 2 (cao)
Thành thị 135.000 150.000
Nông thôn đồng bằng 70.000 100.000
Nông thôn miền núi 45.000 80.000
Các chuẩn mực trên có thể đúng trên tổng thể song không thể áp dụng
cho từng đối tượng, từng vùng cụ thể được. Nếu lấy mức bình quân
800.000đồng/khẩu/năm là hộ nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì có thể lại là
hộ giàu ở vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Vì vậy để chọn và phân loại hộ
đói nghèo ở Việt Nam có thể phải xem xét các đặc trưng cơ bản có nó như:
Thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lượng khoán, nợ thuế triền
miền, vay nặng lãi, con em không có điều kiện đến trường (mù chữ hoặc bỏ
học), thậm chí phải cho con hoặc tự bản thân đi làm thuê cuốc mướn để kiếm
sống qua ngày hoặc đi ăn xin Nếu đưa các chuẩn mực này ra để xác định thì
rất dễ biết hộ đói nghèo ở nông thôn
Bảng 1.1. Các chỉ tiêu đánh giá nghèo cấp hộ gia đình
Lĩnh vực Chỉ tiêu
I. Nhu cầu ăn 1. Số lượng gạo tối thiểu (12kg/người/tháng)
2. giá trị khẩu phần ăn tối thiểu một ngày ( đ/người/tháng)

II. Nhu cầu mặc 3. Không đủ quần áo, chăn ấm trong mùa rét
4. Không đủ màn chống muỗi
III. Nhà ở 5. Hộ gia đình ở lều, lán và nhà tạm bợ

nghèo, vấn đề đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất cho người nghèo là vấn đề
nan giải. Đồng thời cũng cho thấy tính tương đối khi xác định chuẩn nghèo
đói ở mỗi nơi là khác nhau. Vì vậy để đánh giá được chính xác nghèo đói thì
phải biết được mức độ nghèo đói đến đâu? nghèo hay rất nghèo. Thực tế nước
ta vẫn tồn tại một bộ phận dân cư ở tình trạng thiếu ăn, đói về lương thực
(nhiệt lượng chỉ đạt 1500 Calo/người/ngày). Do đó khi đánh giá nghèo ở Việt
Nam nên phân thành hai cấp độ nghèo và đói vì nó phản ánh đúng hiện thực
khách quan.
 Chỉ tiêu đánh giá nghèo ở cấp cộng đồng
Để đánh giá các vùng nghèo, ở nước ta thường dùng hai chỉ tiêu chính:
- Tỷ lệ các hộ nghèo tuyệt đối trên tổng số hộ của vùng.
- Thu nhập bình quân một thành viên trong một hộ gia đình của vùng.

*
370USD là tính theo PPP
Ngoài ra còn có thể kết hợp với một số chỉ tiêu khác như:
- Bình quân lương thực tính trên một nhân khẩu nông nghiệp
- Số kilômét đường giao thông trên một nhân khẩu nông nghiệp
- Tổng mức hàng hoá lưu thông (nhập, xuất) trong vùng tính theo đầu
người.
- Tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ trẻ em đến trường.
- Tỷ lệ y, bác sĩ, giường bệnh trên một nghìn người dân.
- Tuổi thọ bình quân.
Các chuẩn mực để xác định vùng nghèo:
- Tỷ lệ các hộ nghèo từ 60% trở lên.
- Bình quân thu nhập của một thành viên trong hộ gia đình của cả vùng
hơn mức thu nhập trung bình của một thành viên của một hộ gia đình trong cả
nước.
Ngoài ra cũng có thể dùng thêm một số chỉ tiêu phụ như:
- Bình quân lương thực tính trên đầu người dân nông nghiệp dưới

8. Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh
9. Có hay không trạm y tế xã
10. Số nhân viên y tế (cả công, tư cả y và dược) tính trên
1000 dân.
V. Giáo dục 11. Tỷ lệ người lớn mù chữ
12. Tỷ lệ trẻ em 6-10 tuổi không đi học
13. Số giáo viên hoạt động trên địa bàn tính trên 1000 dân
VI. Nhà ở vệ
sinh
VII: Văn hoá và
giao tiếp
14. Tỷ lệ hộ gia đình ở lều lán và nhà tạm bợ trong tổng số
hộ
15. Tỷ lệ hộ có nguồn nước sạch (giếng, ống dẫn nước sạch)
16. Tỷ lệ hộ có nhà tắm
17. Tỷ lệ hộ có nhà xí hợp vệ sinh
18. Số Kw/h điện tiêu dùng tính trên đầu người/tháng
19. Có hay không có công trình văn hoá quan trọng (nhà văn
hoá, thư viện, loa truyền thanh)
20. Có hay không có chợ.
21. Số máy điện thoại tính trên 1000 dân
VIII. Sự tham
gia của nhân dân
vào các hoạt
động xã hội.
22. Tỷ lệ số thành viên các tổ chức chính trị, xã hội (Đảng,
Đoàn thanh niên, phụ nữ, mặt trận tổ quốc, các hội nghề

giới là rất lớn. Xét theo từng khu vực mức độ này có khác nhau nhưng vẫn nói
lê tính nghiêm trọng của tình hình nghèo đói của từng khu vực cũng như toàn
thế giới. Số liệu thống kê của LHQ năm 1998 cho thấy: Tại Nam Á, có 560
triệu người nghèo (chiếm một nửa tổng số người nghèo trên thế giới). 600
triệu dân đang suy dinh dưỡng, 250 triệu người không được sống trong những
điều kiện vệ sinh cơ bản. Có 1/3 trẻ sơ sinh thiếu cân, 80% số phụ nữ mang
thai lại thiếu máu, 1,8 triệu trẻ em không được tới trường học. Lực lượng trẻ
em phải lao động kiếm sống rất cao. Ví dụ, ở Ấn Độ có khoảng từ 14 đến 100
triệu trẻ em phải lao động. Đông Á là khu vực có GDP tính trên đầu người
tăng trung bình 5%, mức cao nhất thế giới. Tuy vậy, khu vực này vẫn có 170
triệu người nghèo khổ. Tại miền Nam Châu Phi - Xahara có 215 triệu người
nghèo, hơn 80 triệu trẻ em đến tuổi tới trường không được đi học. Hàng năm
có 1,3 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang. Tại các nước Ả Rập, từ năm
1960 đến năm 1993, thu nhập thực tế là 3%/năm, nhưng hiện nay vẫn còn 73
triệu người nghèo, 60 triệu người mù chữ. Tại Mĩ la tinh và vùng Caribê, 150
triệu người nghèo, 56% nông dân không có nước sạch để uống. Tại các nước
nông nghiệp phát triển, GDP thực tế tăng hơn 3%/năm, tuy nhiên vãn có hơn
100 triệu người nghèo, hơn 5 triệu người không có nhà ở và hơn 30 triệu
người nghèo không có việc làm.
Qua những số liệu trên, ta thấy nghèo đói toàn cầu vẫn đang là vấn đề
mang tính bức xúc. Điều này còn được thể hiện ở sự bất bình đẳng cao trên
thế giới, theo số liệu của WB, thu nhập trung bình của 20 nước giàu nhất gấp
37 lần mức thu nhập trung bình của 20 nước nghèo nhất (khoảng cách này đã
tăng gâp đôi trong vòng 40 năm qua). Nếu phân chia toàn bộ dân số thế giới,
và chiếm một lượng của cải vật chất và trình độ tương ứng với mỗi nhóm thì
ta có thể thấy: 20% dân số giàu nhất thế giới chiếm dụng 87,5% GNP; 84,2%
thương mại thế giới; 85,0% tích luỹ; 85,0% đầu tư trong khi đó 20% dân số
nghèo nhất chiếm các chỉ tiêu tương ứng là 1,46%; 0,9%; 0,7% và 0,9%. Rõ
ràng là một nhóm người thì có tất cả còn nhóm kia coi như không có gì.
Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, hiện nay, loài người thực tế đã sản xuất

của xung đột. Vì vậy, giảm bớt và đi đến xoá đói nghèo đói đã trở thành tiêu
điểm chú ý của toàn nhân loại, trở thành mục tiêu và nhiệm vụ nặng nề của
các tổ chức phi chính phủ và các chính phủ trên thế giới. Tất cả đã và đang áp
dụng mọi biện pháp nhằm ngăn chặn sự gia tăng nghèo đói trên hành tinh
chúng ta.

(1)
Xem báo Nhân dân, 9/1/1996
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói ở Việt Nam
2.1. Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam
Nghèo đói đang là một trong những vấn đề bức xúc ở Việt Nam cũng
như nhiều nước trên thế giới, đòi hỏi nhà nước và xã hội cần đặc biệt quan
tâm. Sau 15 năm đổi mới xây dựng kinh tế theo hướng nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, khuyến khích các thành
phần kinh tế phát triển, Việt Nam đã và đang thu được những kết quả đáng
khích lệ, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bộ mặt nông thôn có những thay đổi
lớn. Một bộ phận nghèo đói không biết cách làm ăn nhờ sự giúp đỡ của cồng
đồng nay đã thoát khỏi cảnh nghèo. Phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục từng
bước được cải thiện và phát triển đảm bảo nhu cầu ngày càng tốt hơn của xã
hội, đặc biệt là nhóm người nghèo đã có sự thay đổi rất lớn. Theo báo cáo của
WB trong cuộc toạ đàm về chuẩn nghèo đói ở Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội,
15-16/2/2000 thì tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam năm 1993 là 58,1% giảm xuóng
34,4% năm 1998 và hiện nay còn khoảng 30%. Theo Bộ LĐTBXH thì tỷ lệ
nghèo đói của Việt Nam là 26,0% năm 1993 giảm xuống 15,7% năm 1998 và
hiện nay còn khoảng 11%. Qua các số liệu thống kê trên ta thấy, dù đánh giá
tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam bằng phương pháp nào thì Việt Nam vẫn có tốc
độ giảm nghèo rất nhanh, đã từng được cộng đồng quốc đánh giá có một trong
những nước có, tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới. Tuy nhiên, xét trên
tổng thể, Việt Nam vẫn là một nước nghèo, phân hoá giàu nghèo giữa các
vùng, giữa các thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có

6. Đông Nam Bộ 116.728 6,17 103.900 5,50 91.400 4,75
7. Đồng bằng sông
Cửu Long
502.912 16,25 190.750 15,60 189.090 15,37
Cả nước 2.857.122 19,23 2.622.906

17,68 2.387.050

15,7
Nguồn: Nguyễn Hải Hữu “Nghèo đói ở Việt Nam. Chính sách và giải
pháp”. Hội thảo, toạ đàm về chuyển đổi nông nghiệp ở Việt Nam. Việc làm
và xoá đói giảm nghèo. Bộ LĐTB-XH, năm 1999.
Qua số liệu trên cho thấy tỷ lệ nghèo đói ở các vùng cũng có sự khác biệt
đáng kể. Vùng Bắc Trung Bộ (24,62%) và vùng Tây Nguyên (25,65%) là hai
vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất, vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ nghèo đói thấp
nhất 4,75%. Ở đây có sự chênh lệch giữa các vùng có tỷ lệ nghèo đói cao với
vùng có tỷ lệ nghèo đói thấp gần 5 lần. Đồng thời cũng dễ dàng nhận thấy
người nghèo tập trung nhiều nhất ở vùng trung du và miền núi phía Bắc
570.145 hộ chiếm 23,9%, tiếp đến vùng Bắc Trung Bộ có 500.225 hộ chiếm
20,9%, Đồng bằng sông Cửu Long có 489.050 hộ chiếm 20,51%, cả bốn vùng
còn lại chỉ chiếm 34,7%.
Xét trong từng vùng, giữa các tỉnh tỷ lệ nghèo đói cũng sự khác biệt. Tại
vùng Tây Nguyên, tỷ lệ nghèo đói của Lâm Đồng là 15,89%; Đắc Lắc là
26,44%; nhưng Gia Lai là 44,85% và Kon Tum là 54,4%. Tỷ lệ này chênh
lệch tới 3,4 lần giữa tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao nhất so với tỉnh có tỷ lệ nghèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status