kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở việt nam hiện nay - Pdf 21


1
Bộ Giáo dục và Đào tạo bộ t pháp
trờng đại học luật hà nội

đoàn thị tố uyên
KIM TRA V X Lí VN BN QUY PHM
PHP LUT VIT NAM HIN NAY

luận án tiến sĩ luật học

ban hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Từ khâu phân tích chính sách phản ánh
nhu cầu điều chỉnh đối với các quan hệ xã hội để đưa vào chương trình xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) cho đến soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông
qua, ban hành văn bản. Nếu chỉ quan tâm nâng cao chất lượng từng bước trong quy
trình xây dựng và ban hành trên đây, thì hệ thống pháp luật vẫn tiềm ẩn sự không
hoàn thiện bởi các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật luôn vận
động không ngừng. Vì vậy, quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật rất cần được
thực hiện một cách đồng bộ cùng quá trình xây dựng, ban hành. Có rất nhiều hoạt

3
động của Nhà nước được triển khai thực hiện sau khi văn bản QPPL được ban hành
có chung mục đích đảm bảo sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật như rà soát, hệ
thống hóa, theo dõi, đánh giá thi hành và nhất là hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản
QPPL. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL
đã phát huy khá tốt vai trò, ý nghĩa của mình trong việc "làm sạch" hệ thống văn
bản QPPL, tạo lập được lòng tin của người dân đối với Nhà nước. Thông qua hoạt
động kiểm tra, xử lý rất nhiều văn bản QPPL có nội dung mâu thuẫn, chồng chéo,
không phù hợp với nội dung văn bản QPPL của cấp trên; ban hành trái thẩm quyền,
vi phạm về thủ tục xây dựng và ban hành văn bản, thiếu tính khả thi… đã được phát
hiện và xử lý. Có thể khẳng định, kiểm tra và xử lý văn bản QPPL là hoạt động
không thể thiếu trong quy trình hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu quản
lý nhà nước một cách có hiệu quả.
Kiểm tra văn bản QPPL là nhiệm vụ mới được chuyển giao từ Viện kiểm
sát nhân dân sang hệ thống cơ quan hành pháp theo quy định tại Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, Viện
kiểm sát nhân dân không còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc ban hành văn bản QPPL mà chuyển giao cho các cơ quan hành chính nhà
nước (Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này). Vì lẽ đó, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 135/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/11/2003 về kiểm
tra và xử lý văn bản QPPL. Năm 2008 với sự ra đời của Luật Ban hành văn bản

Với những lý do đó tôi lựa chọn "Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản
QPPL ở Việt Nam hiện nay.
Kiểm tra và xử lý văn bản QPPL là đề tài nghiên cứu có nội dung rất rộng,
khá phức tạp nhưng trong giới hạn của luận án tiến sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu
với phạm vi sau đây:

5
- Nghiên cứu hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL trong phạm vi
không gian ở Việt Nam, thời gian từ năm 2002 đến nay (khi chuyển giao kiểm tra từ
Viện kiểm sát nhân dân sang Chính phủ đảm nhận chức năng kiểm tra văn bản QPPL.
- Nghiên cứu hoạt động kiểm tra và xử lý của các cơ quan nhà nước đối với
văn bản QPPL do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Hội
đồng nhân dân (HĐND), Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp ban hành.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án:
Thông qua việc phân tích cơ sở lý luận về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL,
đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực trạng hoạt động kiểm tra, xử lý hiện
nay và đề xuất các giải pháp, luận án đã xây dựng luận cứ khoa học và thực tiễn cho
việc nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL ở Việt Nam hiện
nay đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Để đạt được mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân tích cơ sở lý luận của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL
bằng việc làm rõ khái niệm kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, thẩm quyền tiến hành,
quy trình, thủ tục thực hiện, nội dung của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL
đồng thời làm rõ khái niệm văn bản QPPL, xác lập các tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng văn bản QPPL là đối tượng, tiêu chí cho hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản
QPPL. Trong quá trình phân tích, hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL được

điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu và mục đích của quản lý nhà nước.
Phương pháp phân tích được sử dụng để xem xét, đánh giá cụ thể, sâu sắc
hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL với các khía cạnh khác nhau. Đối với
hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản QPPL, luận án đã xem xét dựa trên cơ sở khoa
học và cơ sở pháp lý để từ đó phân tích về khái niệm, ý nghĩa, nội dung, thẩm
quyền và thủ tục tiến hành hoạt động này trong việc góp phần nâng cao chất lượng
văn bản QPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngoài ra phương pháp phân tích
còn được sử dụng để đánh giá thực trạng của hoạt động kiểm tra, xử lý và nhất là lý

7
giải cụ thể những nguyên nhân có được thành tựu, nguyên nhân dẫn đến hạn chế,
bất cập làm cơ sở để đề ra giải pháp.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa, rút ra những nhận
xét, kết luận về từng nội dung của luận án. Xem xét về chất lượng của văn bản
QPPL trong quá trình kiểm tra và xử lý được nhìn nhận không xuất phát từ những
biểu hiện đơn lẻ mà mang tính phổ biến, điển hình về những khía cạnh cả tính hợp
pháp, tính hợp lý của văn bản QPPL. Đồng thời, khi nghiên cứu về hoạt động kiểm
tra những nhận định rút ra luôn được đặt trong tổng thể với các hoạt động hoàn
thiện pháp luật khác như rà soát, hệ thống hóa, theo dõi thi hành văn bản QPPL.
Để đảm bảo tính khách quan, toàn diện và thuyết phục, luận án còn sử dụng
phương pháp thống kê và điều tra xã hội học quá trình đánh giá về thực tiễn nhất là
tìm hiểu sâu về nguyên nhân có được thành tựu, nguyên nhân dẫn đến hạn chế của
hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL.
Các phương pháp nghiên cứu trên đây luôn được sử dụng kết hợp với nhau
với mục đích bảo đảm cho nội dung nghiên cứu của luận án vừa có tính khái quát,
vừa có tính cụ thể cần thiết để xem xét, đánh giá một cách toàn diện về kiểm tra và
xử lý văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay.
5. Điểm mới và ý nghĩa của luận án
Điểm mới của luận án:
Luận án là công trình nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về

bản chất, nghiệp vụ của hoạt động kiểm tra, cách thức lựa chọn và hậu quả pháp lý
của từng biện pháp xử lý để vận dụng đúng theo quy định pháp luật và phù hợp với
mỗi dấu hiệu khiếm khuyết của văn bản QPPL cụ thể. Trong điều kiện hiện nay, khi
Hiến pháp năm 1992 đang được nghiên cứu sửa đổi, đề tài này cũng đem lại ý nghĩa
nhất định trong việc phân định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước từ trung ương
đến địa phương, trong đó có thẩm quyền ban hành, kiểm tra và xử lý văn bản QPPL.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

9
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật.
Chương 3: Thực trạng của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm
tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

10
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT
Nghiên cứu về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, tôi đã có dịp tiếp xúc với
một số công trình nghiên cứu quan trọng, có giá trị cao trong khoa học pháp lý. Với
mục tiêu của hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL là hướng tới hoàn thiện hệ
thống pháp luật, trong quá trình triển khai đề tài, khá nhiều công trình nghiên cứu
khoa học về hệ thống pháp luật cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được các

đảm bảo phát triển bền vững. Nhóm tác giả đã nghiên cứu thông qua việc tiếp cận
vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay để phân tích
cơ sở lý luận về xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm phát triển bền vững,
đánh giá thực trạng pháp luật và công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật ở nước ta,
nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm phát triển bền
vững của một số nước trên thế giới và đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện
pháp luật Việt Nam trong thời gian tới. Tuy cuốn sách không đề cập sâu về kiểm tra
và xử lý văn bản QPPL với vai trò là công cụ để hoàn thiện pháp luật, nhưng nội
dung của cuốn sách đã đem lại nhiều giá trị bổ ích để luận giải có tính hệ thống về
kiểm tra và xử lý văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay.
Năm 2011, Viện nghiên cứu lập pháp đã cho ra mắt cuốn sách Bảo đảm
tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam do PGS.TS.Phan Trung Lý chủ
biên. Các tác giả đã tiếp cận về tính thống nhất cũng như các điều kiện bảo đảm tính
thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam từ yêu cầu và thực trạng bảo đảm tính
thống nhất; các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm tính thống nhất của
hệ thống pháp luật và so sánh với việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp
luật một số nước.
Cuốn sách đã luận giải về khái niệm hệ thống pháp luật, tính thống nhất của
hệ thống pháp luật và phân biệt với tính hợp hiến, hợp pháp. Tác giả đã khẳng định
trong mối quan hệ giữa tính thống nhất với tính hợp hiến, hợp pháp cho thấy tính
thống nhất đặt ra đối với hệ thống pháp luật còn tính hợp hiến và hợp pháp chỉ đặt
ra với các văn bản QPPL, các quy phạm pháp luật cụ thể. Tôi cho rằng quan niệm

12
này chưa thực sự thuyết phục bởi lẽ tính thống nhất không chỉ là tiêu chí để đánh
giá sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà còn là tiêu chí để đánh giá chất lượng
của văn bản QPPL. Nội dung của văn bản QPPL không chỉ đáp ứng về tính hợp
hiến, hợp pháp mà còn đảm bảo tính thống nhất trong nội tại văn bản đó. Sự thống
nhất này biểu hiện thống nhất giữa hình thức và nội dung, thống nhất giữa các quy
phạm pháp luật với nhau. Vì vậy, tính thống nhất không chỉ bao trùm tính hợp hiến,

quy định và quan trọng nhất là nội dung của văn bản đó phải là quy tắc xử sự chung.
Tôi cho ràng nội dung văn bản QPPL là quy tắc xử sự chung vẫn chưa bao quát
được toàn bộ nội dung của văn bản QPPL. Vì ngoài quy tắc xử sự chung là tế bào
của văn bản QPPL, nội dung của văn bản QPPL còn có những quy phạm khác như
quy phạm nguyên tắc, quy phạm giải thích…
Trực tiếp đề cập đến hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL có Giáo
trình Xây dựng văn bản pháp luật của Trường đại học Luật Hà Nội. Giáo trình đã
dành một chương riêng đề cập đến hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản. Tuy nhiên,
Giáo trình này tiếp cận kiểm tra và xử lý rộng hơn so với nội dung luận án. Kiểm tra
và xử lý được xem xét, phân tích với đối tượng là văn bản pháp luật bao gồm cả văn
bản QPPL và văn bản áp dụng pháp luật. Những vấn đề cơ bản nhất về kiểm tra văn
bản pháp luật như khái niệm, nguyên tắc, phương thức kiểm tra; thẩm quyền và
nghiệp vụ kiểm tra văn bản pháp luật được đề cập khá cụ thể. Ngoài ra, giáo trình
này còn phân tích và lý giải khá sâu sắc về hoạt động xử lý văn bản pháp luật như
khái niệm, các dạng khiếm khuyết của văn bản pháp luật, thẩm quyền và biện pháp
xử lý đối với văn bản pháp luật khiếm khuyết. Dù tiếp cận hoạt động kiểm tra và xử
lý văn bản pháp luật nói chung nhưng nội dung của giáo trình này đã đem lại ý
nghĩa thiết thực để luận giải về kiểm tra và xử lý văn bản QPPL.
1.2.2. Các sách và đề tài nghiên cứu
Cuốn sách Cải cách cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản hành
chính ở Trung Quốc của tác giả Meng Sheng do Đinh Văn Minh và Nguyễn Văn
Toàn biên dịch đã đề cập những kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc đánh giá
tính hợp pháp, tính đúng đắn của một văn bản cũng như một việc làm của cơ quan
hành chính. Cơ chế kiểm tra tính hợp pháp của văn bản hành chính được tác giả
phân tích cụ thể, sâu sắc với xuất phát điểm từ mối quan hệ giữa nền hành chính

14
Trung Quốc với công chúng để luận giải về các cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên
ngoài và tự kiểm tra đối với văn bản hành chính; các hình thức pháp lý của kiểm tra
văn bản hành chính; cải cách cơ chế kiểm tra văn bản hành chính từ cách tiếp cận

văn bản quản lý hành chính. Tác giả đã lý giải về khái niệm văn bản quản lý hành
chính nhà nước, về các văn bản quản lý hành chính nhà nước thuộc diện xử lý, khái
niệm xử lý và hình thức, ngôn ngữ của văn bản xử lý văn bản quản lý hành chính
nhà nước khiếm khuyết. Tuy nhiên, cuốn sách đề cập việc xử lý văn bản quản lý
hành chính nhà nước với nhiều loại văn bản bao gồm văn bản QPPL, văn bản áp
dụng pháp luật và văn bản hành chính thông thường nhưng chưa làm nổi bật được
sự khác biệt về xử lý đối với từng nhóm văn bản với nhau. Rất tiếc nhiều vấn đề
liên quan trực tiếp đến hoạt động xử lý văn bản quản lý hành chính nhà nước khiếm
khuyết nhưng chưa được tác giả đề cập sâu trong cuốn sách như thẩm quyền, thủ
tục và biện pháp xử lý. Mặc dù vậy, nội dung cuốn sách vẫn có giá trị trong việc gợi
mở một số vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu và làm sâu sắc thêm dưới góc độ
khoa học pháp lý.
Sau khi có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ban hành văn bản QPPL
năm 2002, cuốn sách Bình luận Luật Ban hành văn bản QPPL với sự hỗ trợ của
Văn phòng UNDP, dự án VIE 02/015 đã được Nxb Tư pháp phát hành. Cuốn sách
đã bình luận khá cụ thể những quy định của Luật Ban hành văn bản QPPL với mục
đích làm rõ ý tưởng, tinh thần của nhà soạn thảo nhằm triển khai thực thi đúng đắn
và có hiệu quả quy định của Luật trong thực tiễn. Cuốn sách có nhiều nội dung liên
quan chặt chẽ và trực tiếp đến đề tài của luận án như khái niệm văn bản QPPL;
kiểm tra, giám sát và xử lý đối với văn bản QPPL sai trái. Về khái niệm và các dấu
hiệu đặc trưng của văn bản QPPL, các tác giả của cuốn sách cho rằng dấu hiệu quan
trọng nhất để nhận biết một văn bản QPPL đó là văn bản đó có chứa quy phạm pháp
luật. Văn bản có chứa đựng quy phạm pháp luật thì mới tuân thủ thẩm quyền, trình
tự, thủ tục và hình thức Luật định. Có thể nói, đây là quan điểm khá nhất quán giữa
các nhà khoa học pháp lý và người soạn thảo. Ngoài ra, các tác giả của cuốn sách
cũng bình luận thuyết phục về hoạt động giám sát, kiểm tra và xử lý văn bản QPPL.
Các tác giả cho rằng giám sát, kiểm tra văn bản QPPL đều là sự xem xét, đánh giá
hình thức và nội dung văn bản để kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống
nhất của văn bản QPPL trong hệ thống pháp luật. Tuy hoạt động kiểm tra mới chỉ


QPPL. Đây cũng là nội dung mà luận án nghiên cứu bởi vì muốn kiểm tra và xử lý

17
đối với văn bản QPPL phải có tiêu chí để nhận biết văn bản QPPL hợp hiến, hợp
pháp. Tất nhiên, nội dung của cuốn sách chỉ liên quan đến một vài khía cạnh của
luận án.
Tìm hiểu trực tiếp về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, chúng tôi
có dịp tham khảo một số công trình nghiên cứu khoa học về đề tài này. Năm 2004,
Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp đã triển khai nghiên cứu đề tài "Cơ chế kiểm tra
văn bản QPPL - thực trạng và giải pháp hoàn thiện" làm cơ sở khoa học cho hoạt
động kiểm tra văn bản QPPL được tiến hành trên thực tế. Đề tài đã nghiên cứu khá
sâu sắc về khái niệm kiểm tra văn bản QPPL, phân biệt kiểm tra văn bản QPPL với
một số khái niệm tương tự để khẳng định kiểm tra văn bản QPPL có những dấu hiệu
đặc thù; phân tích về cơ chế kiểm tra văn bản QPPL và mục đích, ý nghĩa của việc
hoàn thiện cơ chế kiểm tra văn bản QPPL trong thời gian tới. Có thể nói, đây là đề
tài nghiên cứu khoa học đầu tiên về cơ sở lý luận kiểm tra văn bản QPPL cũng như
đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện cơ chế kiểm tra
văn bản QPPL. Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi cơ chế kiểm tra văn bản
QPPL mà không đề cập đến hoạt động xử lý văn bản QPPL.
Năm 2010, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường Kiểm tra, rà soát, xử lý,
hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật với mã số LH-09-08/ĐHL-HN do TS.
Bùi Thị Đào làm chủ nhiệm. Đề tài được nhóm tác giả nghiên cứu công phu với
cách tiếp cận khái niệm kiểm tra rất rộng bao gồm cả kiểm tra trước (thẩm định,
thẩm tra) và kiểm tra sau khi văn bản được ban hành. Đồng thời khái niệm kiểm tra
mà đề tài tiếp cận còn được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hoạt động giám sát
của cơ quan quyền lực Nhà nước và hoạt động kiểm tra của cơ quan hành chính.
Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu về hoạt động rà soát, xử lý và hệ thống hóa văn bản
QPPL theo hướng các hoạt động này tuy có nét khác biệt song cùng chung mục đích
hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành.
1.2.3. Luận án, luận văn và các bài báo

Nghiên cứu lập pháp số 7 năm 2010 đã khẳng định hai dấu hiệu đặc trưng cơ bản
nhất của văn bản QPPL là luôn gắn liền với Nhà nước (do Nhà nước ban hành và
bảo đảm thực hiện) và có chứa quy phạm pháp luật (quy tắc xử sự mang tính bắt
buộc chung). Theo tác giả những dấu hiệu khác của văn bản QPPL như thủ tục,

19
trình tự ban hành và hình thức của văn bản tuân theo quy định pháp luật là những
dấu hiệu không phải là những dấu hiệu quan trọng và bắt buộc. Vì vậy, tác giả cho
rằng Luật ban hành văn bản QPPL chỉ cần định nghĩa văn bản QPPL với hai dấu
hiệu bắt buộc như gắn liền với Nhà nước và có chứa đựng quy tắc xử sự chung là đủ.
Năm 2011, GS.TS. Phạm Hồng Thái đã thể hiện quan điểm của mình trong
bài viết "Văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật về văn bản quy phạm pháp
luật", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7 (232). Trong đó bài viết đã chỉ ra những
điểm bất cập của pháp luật hiện hành về văn bản QPPL, là một trong những nguyên
nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng văn bản QPPL và chất lượng hệ thống pháp
luật. Từ đó tác giả đã đề xuất những giải pháp có ý nghĩa nhằm nhận diện chính xác
văn bản QPPL hiện nay.
Đối với tiêu chí đánh giá tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản pháp luật
nói chung và văn bản QPPL nói riêng đã được PGS.TS. Vũ Thư bàn luận trong bài
viết Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản pháp luật và các biện pháp xử lý khiếm
khuyết của nó, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1, năm 2003. Tác giả đã phân tích
rất sâu sắc và cụ thể về các biểu hiện tính hợp pháp và tính hợp lý của văn bản pháp
luật để từ đó thấy được giữa tính hợp pháp và tính hợp lý luôn có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, trong hợp pháp đã có hợp lý và ngược lại. Đồng thời bài viết còn bình
luận khá lôgic, rõ ràng về từng biện pháp xử lý đối với văn bản pháp luật khiếm khuyết.
Về các biện pháp xử lý, tôi được tiếp cận với khá nhiều bài viết có giá trị
của tác giả Bùi Thị Đào như "Về bãi bỏ và hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật" tạp
chí Luật học, số 5/2001, Văn bản quy phạm trái pháp luật và xử lí văn bản quy
phạm trái pháp luật, Tạp chí Luật học, số 10/2007. Tác giả phân tích khái niệm văn
bản quy phạm trái pháp luật, các trường hợp cụ thể, thẩm quyền và hình thức xử lí.

mọi khía cạnh của kiểm tra và xử lý văn bản QPPL.Vì vậy, nghiên cứu một cách
chuyên sâu hơn, đầy đủ, toàn diện và có hệ thống hơn về hoạt động kiểm tra và xử
lý văn bản quy phạm pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là thực sự cần thiết.

21
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

2.1. VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
2.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội, ra đời, tồn tại và phát
triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn có mối quan hệ mật thiết
với nhau. Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, và ngược lại pháp luật chỉ
hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả bằng con đường nhà nước. Pháp luật
luôn là công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước quản lý xã hội một cách phù hợp với lợi
ích của Nhà nước và của toàn xã hội. Pháp luật do Nhà nước ban hành được tồn tại
dưới những hình thức nhất định, trong đó văn bản QPPL được coi là hình thức pháp
luật cơ bản và tiến bộ nhất.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn triển khai hoạt động
xây dựng và hoàn thiện pháp luật, khái niệm văn bản QPPL vẫn còn những điểm
chưa được hiểu thống nhất, còn là đề tài tranh luận khá sôi nổi. Vì vậy, việc nghiên
cứu để hiểu rõ khái niệm và đặc điểm của văn bản QPPL có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình xây dựng, ban hành và đặc biệt trong quá trình kiểm tra, xử lý nhằm hoàn
thiện chúng. Khi tiến hành hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản QPPL, các chủ thể
phải xác định, nhận diện chính xác văn bản QPPL, phân biệt nó với những văn bản
áp dụng pháp luật và văn bản hành chính nhằm thực hiện có hiệu quả hoạt động này.
Trước hết cần xem xét định nghĩa văn bản QPPL xuất phát từ quy định của
Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban

Một là, văn bản QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và
bảo đảm thực hiện. Như vậy, dấu hiệu đầu tiên để khẳng định văn bản QPPL là văn
bản đó phải được ban hành bởi những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm:
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối

23
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND các cấp, UBND các cấp. Ngoài ra, theo
quy định của pháp luật văn bản QPPL còn được ban hành bởi cơ quan trung ương
của tổ chức chính trị, xã hội phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.
Trước đây, Luật ban hành văn bản QPPL năm 1996 đã trao quyền ban hành
văn bản QPPL cho Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ. Đến năm 2002, Luật năm
1996 được sửa đổi, bổ sung trong đó trao quyền cho Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư là văn bản QPPL và bỏ đi thẩm quyền của
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ trên cơ sở các quy định của Hiến pháp 1992
(được sửa đổi năm 2001). Hiện nay, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 cũng
có một số quy định thay đổi thẩm quyền ban hành văn bản QPPL. Theo đó, Luật đã
loại bớt một số loại văn bản QPPL trước đây do một số chủ thể ban hành với mục
đích đơn giản hóa hình thức như: nghị quyết của Chính phủ; chỉ thị của Thủ tướng
Chính phủ; quyết định, chỉ thị của chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Như
vậy, hiện nay những văn bản này chỉ còn được ban hành với tư cách văn bản áp
dụng pháp luật. Bên cạnh đó, Luật quy định thêm thẩm quyền ban hành văn bản
QPPL cho Tổng kiểm toán Nhà nước phù hợp với Luật Kiểm toán Nhà nước được
Quốc hội ban hành năm 2005.
Với đặc điểm này cho thấy, không phải cơ quan nhà nước, cá nhân nào
cũng có thẩm quyền ban hành văn bản QPPL. Đây cũng là cơ sở để nhận diện văn
bản QPPL và phân biệt nó với văn bản được ban hành bởi những chủ thể không có
thẩm quyền. Ví dụ: Quyết định của Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; quyết

ở vị trí trung gian giữa nguyên tắc và quy phạm pháp luật cụ thể. Định hướng thể
hiện các quan điểm, chính sách của nhà nước về những vấn đề quan trọng cần được
triển khai thực hiện trong một thời gian tương đối dài. Thực tế, định hướng pháp
luật được biểu hiện thông qua chủ trương, chính sách của Nhà nước.
Ngoài ra, mục đích pháp luật cũng có thể được thể hiện trong văn bản
QPPL. Mục đích pháp luật chính là mục tiêu bảo đảm sự an toàn, công lý và lợi ích.
Việc xác định các mục đích rất cần được coi trọng vì các mục đích pháp luật luôn là
yếu tố quan trọng phản ánh nội dung và là tiêu chí để đánh giá giá trị của pháp luật.
Thực ra, suy đến cùng những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, chủ trương, chính sách

25
pháp luật và mục đích pháp luật chính là các quy phạm pháp luật "đặc biệt". Đặc
biệt bởi vì những quy phạm pháp luật này không điều chỉnh trực tiếp hành vi của
con người, tức là không đặt ra quy định cấm đoán, bắt buộc hay trao quyền mà là cơ
sở định hướng để cơ quan nhà nước đặt ra quy tắc xử sự chung đó. Như vậy, nội
dung của văn bản QPPL không chỉ là quy tắc xử sự mà còn chứa đựng những
nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật.
Vì văn bản QPPL chứa đựng quy phạm pháp luật nên văn bản QPPL luôn
có tính chất bắt buộc chung, được thực hiện nhiều lần trong cuộc sống. Tính bắt
buộc chung của văn bản QPPL được hiểu là bắt buộc đối với mọi chủ thể khi ở vào
điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản QPPL quy định. văn bản QPPL không đặt ra quy
định cho đối tượng cụ thể, xác định mà nhằm tới các đối tượng khái quát, trừu
tượng (mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng) như công dân, tổ chức xã hội, các
Chủ tịch tỉnh, doanh nghiệp, người có công với cách mạng Đây là điểm khác biệt
so với văn bản áp dụng pháp luật, vì đối tượng thi hành của văn bản này luôn xác
định, cụ thể. Cần lưu ý rằng, đối tượng thi hành chung khác với thuộc tính "nhiều
đối tượng". Có những văn bản áp dụng cho nhiều đối tượng trong cùng khoảng thời
gian nhưng nội dung tác động đến từng đối tượng riêng lẻ chỉ một lần duy nhất thì
không phải là văn bản QPPL. Ví dụ, quyết định trợ cấp một lần đối với những cán
bộ, công chức nghỉ việc do sắp xếp lại tổ chức. Cũng vì tính bắt buộc chung của văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status