ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THI ̣ HIÊN
KIỂM TRA VÀ XƢ̉ LÝ
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
(QUA THƢ̣C TIỄN TỈNH BẮC GIANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THI ̣HIÊN
KIỂM TRA VÀ XƢ̉ LÝ
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
(QUA THƢ̣C TIỄN TỈNH BẮC GIANG)
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về kiểm tra, xử lý văn bản
quy phạm pháp luật
9
1.1.
Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật
9
1.1.1.
Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
9
1.1.2.
Các dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật
11
1.2.
Khái quát chung về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
22
1.2.6.
Thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
25
1.3.
Xử lý văn bản quy phạm pháp luật
26
1.3.1.
Khái niệm xử lý văn bản quy phạm pháp luật
26
1.3.2.
Nguyên tắc xử lý văn bản quy phạm pháp luật
29
1.3.3.
1.3.4.
1.3.5.
2.1.1.
Ưu điểm
37
2.1.2.
Những hạn chế của hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật
Thực tiễn công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật tại tỉnh Bắc
Giang
Ưu điểm trong công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm
pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
42
Kết quả xử lý văn bản sau khi kiểm tra
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng, ban
hành, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc
Giang
66
2.4.1.
Nguyên nhân từ các quy định của hệ thống pháp luật
67
78
KẾT LUẬN
99
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.3.
2.4.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
5
46
46
55
67
75
75
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ trương lớn của
Đảng và nhà nước ta, điều đó đã được thể chế tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã
bản trái luật vẫn chưa thực sự được chú trọng một cách đúng mức, công tác kiểm
tra văn bản chưa được tiến hành thường xuyên, thiếu quy định trong thực hiện,
triển khai các công việc; việc bố trí đội ngũ cán bộ, công chức và tổ chức bộ máy
phục vụ cho kiểm tra văn bản chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, dẫn
đến tình trạng “thả lỏng” việc kiểm tra văn bản, vẫn còn ban hành văn bản trái
pháp luật, sai về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản, vi phạm thẩm quyền ban
hành văn bản…
Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật là trách nhiệm của các cơ quan hành pháp nhằm hoàn thiện các văn
bản quy phạm pháp luật, trước hết là các văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành,
đảm bảo văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới địa
phương, tôn trọng thứ bậc hiệu lực của văn bản pháp luật - một trong những
nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền.
Ngày 25/12/2001 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số
51/2001/QH10, theo đó Viện kiểm sát không còn thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật đối với văn bản quy phạm pháp luật của cấp Bộ và
chính quyền địa phương ban hành. Nhiệm vụ này được chuyển giao hoàn toàn
cho các cơ quan hành chính nhà nước. Đây là một bước chuyển trong công tác
kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động này của chính quyền địa phương. Thực tế cho thấy, hệ thống văn bản pháp
luật của chúng ta chưa thực sự hoàn chỉnh, còn chồng chéo, mâu thuẫn. Nghị
định của Chính phủ chưa cụ thể để chấp hành, vẫn tồn tại hiện tượng chờ văn
bản hướng dẫn. Trước nhu cầu quản lý, số lượng văn bản quy phạm pháp luật
của chính quyền địa phương, nhất là cấp tỉnh ban hành ngày càng nhiều, do đó
khả năng tồn tại mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên, thậm chí vi phạm pháp luật là khó tránh khỏi. Trong 10
năm qua, trên cơ sở thực hiện Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003
7
8
quy phạm pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp.
- Bài viết của PGS.TS Vũ Thư: “Tính hợp pháp và hợp lý của văn bản
pháp luật và các biện pháp xử lý các khiếm khuyết của nó”.
- GS.TS. Lê Minh Tâm, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
năm 2003.
- PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan, Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
- Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Phương Lan với tên gọi "Kiểm tra và
xử lý văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ở
nước ta hiện nay", Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007.
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Mai Hương với tên gọi “Kiểm tra và xử
lý văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009.
Ngoài ra, còn có một số bài báo, công trình nghiên cứu khác đăng trên
các tạp chí chuyên ngành: Tạp chí Quản lý nhà nước; Tạp chí Cộng sản; Tạp
chí luật học…
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều góc độ của văn
bản quy phạm pháp luật, quyết định quản lý nhà nước. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách riêng lẻ, cụ thể về vấn đề kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật ở địa phương một cách cập nhật nhất (tính đến
thời điểm hiện nay) và ở một địa bàn cụ thể: tỉnh Bắc Giang.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp
luật nói chung, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng trên tinh thần Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng.
* Nhiệm vụ của luận văn:
10
- Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành, kiểm
tra văn bản quy phạm pháp luật;
- Phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật từ khảo sát thực tiễn tại tỉnh Bắc Giang, phân tích nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế;
- Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật nói chung, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng.
* Ý nghĩa của luận văn
- Có ý nghĩa thực tiễn góp phần hoàn thiện hoạt động kiểm tra, xử lý văn
bản quy phạm pháp luật;
- Đóng góp cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động xây
dựng và ban hành, xử lý văn bản quy phạm pháp luật nói chung, trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm
pháp luật
1.1. Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật
1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
1.1.2. Các dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật
1.2. Khái quát chung về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1. Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.2. Mục đích của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.3. Ý nghĩa của hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
12
2.4.1. Nguyên nhân từ các quy định của hệ thống pháp luật
2.4.2. Nguyên nhân từ thực tiễn
Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND các cấp ban hành
3.1. Giải pháp tổng quát
3.2. Giải pháp cụ thể
3.2.1. Giải pháp về phía địa phương
3.2.2. Giải pháp về phía trung ương
13
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA, XỬ LÝ
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1.1. Khái quát chung về văn bản quy phạm pháp luật
1.1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng xã hội, ra đời, tồn tại và phát
triển trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, luôn có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Nhà nước không thể tồn tại nếu thiếu pháp luật, và ngược lại pháp
luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệu quả bằng con đường nhà nước.
Pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước quản lý xã hội một cách
phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội. Pháp luật do Nhà nước ban
hành được tồn tại dưới những hình thức nhất định, trong đó văn bản QPPL được
coi là hình thức pháp luật cơ bản và tiến bộ nhất.
Với tư cách là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, văn bản quy phạm
pháp luật nói chung có vai trò đặc biệt quan trọng trong đảm bảo sự ổn định và
phát triển năng động của xã hội. Điều đó được quy định tại Hiến pháp 1992 của
Ba loại văn bản trên có sự khác nhau cơ bản, đó là: văn bản quy phạm
pháp luật đề ra các quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn
đời sống và việc thực hiện văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó; văn
bản cá biệt được ban hành dựa trên cơ sở văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng
văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết những việc cụ thể, đối với đối tượng
cụ thể, trong lĩnh vực cụ thể, như: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính,
quyết định khen thưởng, kỷ luật, quyết định nâng bậc lương, quyết định bổ
nhiệm chức vụ… Văn bản hành chính thông thường là những văn bản mang
tính thông tin, điều hành nhằm thực thi các văn bản quy phạm pháp luật hoặc
dùng để giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi,
ghi chép công việc trong các cơ quan, tổ chức, như: kế hoạch, báo cáo, chương
trình, công văn… Các loại văn bản trên có mối quan hệ ràng buộc với nhau.
Trong đó văn bản quy phạm pháp luật đóng vai trò quan trọng, là cơ sở cho việc
ban hành các văn bản cá biệt hoặc các loại văn bản, giấy tờ hành chính khác.
Văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền ban hành, hình thức, nội
dung của văn bản hành chính cá biệt hoặc các loại văn bản, giấy tờ hành chính
15
khác.
Việc phân biệt ba loại văn bản trên có ý nghĩa trong công tác ban hành
cũng như kiểm tra, xử lý văn bản. Vì hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ
lãnh đạo cũng như công chức, viên chức làm công tác văn bản có nhận thức
chưa đúng và đầy đủ về văn bản quy phạm pháp luật, không phân biệt được văn
bản quy phạm pháp luật với các loại văn bản khác, dẫn đến ban hành và quản lý
văn bản sai.
Từ phân tích trên đây, theo tác giả nên định nghĩa văn bản quy phạm
pháp luật như sau: Văn bản QPPL là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định, trong đó có quy
phạm pháp luật, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện
buộc chung của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là bắt buộc đối với mọi
chủ thể khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản quy phạm pháp luật quy
định. Văn bản quy phạm pháp luật không đặt ra quy định cho đối tượng cụ thể,
xác định mà nhằm tới các đối tượng khái quát, trừu tượng (mọi đối tượng hoặc
một nhóm đối tượng) như công dân, tổ chức xã hội, phụ nữ, người có công với
cách mạng... Đây là điểm khác biệt so với văn bản áp dụng pháp luật, vì đối
tượng thi hành của văn bản này luôn xác định, cụ thể. Cần lưu ý rằng, đối tượng
thi hành chung khác với thuộc tính "nhiều đối tượng". Có những văn bản áp
dụng cho nhiều đối tượng trong cùng khoảng thời gian nhưng nội dung tác động
đến từng đối tượng riêng lẻ chỉ một lần duy nhất thì không phải là văn bản
QPPL. Cũng vì tính bắt buộc chung của văn bản QPPL mà văn bản QPPL luôn
được thực hiện nhiều lần trên thực tế. Dấu hiệu áp dụng nhiều lần được hiểu,
quy phạm pháp luật luôn được các chủ thể áp dụng pháp luật lựa chọn làm cơ
sở pháp lý để triển khai thực hiện hoặc giải quyết những công việc cụ thể xảy ra
trên thực tế, nên được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần. Còn văn bản áp dụng
pháp luật chỉ được thực hiện duy nhất một lần. Có nghĩa văn bản QPPL có khả
năng tác động trong khoảng thời gian lâu dài.
Thứ ba, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng hình thức
pháp luật quy định
Văn bản QPPL được ban hành đúng hình thức có nghĩa là đúng tên loại
17
văn bản và đúng thể thức, kỹ thuật trình bày. Theo quy định của Luật Ban hành
văn bản QPPL năm 2008, những cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ban
hành văn bản QPPL với tên gọi xác định: Quốc hội ban hành Hiến pháp, luật,
nghị quyết; Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết; Chủ
tịch nước ban hành lệnh, quyết định; Chính phủ ban hành nghị định; Thủ tướng
Chính phủ ban hành quyết định; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành
thông tư; Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết;
bởi chủ thể có thẩm quyền, nội dung hoàn toàn đúng quy định pháp luật nhưng
trong quá trình ban hành không tuân thủ đúng quy định về thủ tục, trình tự ban
hành đều làm ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản QPPL. Vì thế, những văn
bản QPPL được ban hành không đúng thủ tục đều trở thành đối tượng bị xử lý.
Ví dụ: UBND tỉnh ban hành quyết định quy định về khuyến khích đầu tư nước
ngoài nhưng không qua thủ tục thẩm định của Sở Tư pháp, khi thực hiện mới
phát hiện quyết định này có nội dung trái với Luật Đầu tư năm 2005, UBND
phải ban hành văn bản để bãi bỏ quyết định đó.
Thứ năm, văn bản quy phạm pháp luật được nhà nước đảm bảo thực
hiện
Thông thường việc bảo đảm này được thực hiện bằng một loạt các biện
pháp khác nhau như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục bằng công tác thuyết
phục, bằng việc tạo điều kiện về cơ chế tổ chức thực hiện và cơ sở tài chính
nhất định trong trường hợp cần thiết, áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc
thực hiện và chế tài xử lý nếu có hành vi vi phạm.
1.2. Khái quát chung về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1. Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 cũng như
Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ quy định về kiểm
tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa đưa ra khái niệm kiểm tra văn bản
quy phạm pháp luật mà chỉ đưa ra mục đích, nội dung, nguyên tắc của hoạt động
kiểm tra này. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện những nội
dung trái pháp luật của văn bản để kịp thời đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi
bỏ, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật,
19
đồng thời, kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ
quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
So sánh với hoạt động kiểm tra nói chung có thể thấy, với hoạt động
kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có sự khác biệt bởi chính đối tượng và nội
dung của hoạt động này. Đối tượng của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
chính là văn bản quy phạm pháp luật - hình thức pháp luật tiến bộ nhất so với
tập quán pháp và tiền lệ pháp, bao gồm nghị định của Chính phủ, quyết định
của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ, thông tư liên tịch của các bộ, cơ quan ngang bộ, của bộ với Tòa án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nghị quyết của HĐND các
cấp và quyết định, chỉ thị của UBND các cấp. Với kiểm tra nói chung đối tượng
không chỉ là văn bản QPPL, văn bản áp dụng pháp luật mà còn là hành vi của
các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật. Như vậy, kiểm tra để đảm bảo
cho văn bản quy phạm pháp luật hợp pháp và hợp lý tạo ra cơ sở pháp lý đúng
đắn cho các cơ quan nhà nước tiếp tục kiểm tra tính hợp pháp đối với văn bản
áp dụng pháp luật cũng như hành vi của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân
trong việc thi hành, áp dụng và tuân thủ pháp luật.
Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có tính chủ động cao
Chủ thể kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (khác với chủ thể tự kiểm
tra) phải là chủ thể độc lập với đối tượng chịu sự kiểm tra. Trong việc kiểm tra
văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan kiểm tra độc lập với cơ quan ban hành
văn bản. Tính độc lập này giúp cơ quan kiểm tra có thể chủ động thực hiện
quyền kiểm tra đối với bất kỳ một văn bản nào thuộc thẩm quyền kiểm tra của
mình. Tính độc lập của cơ quan kiểm tra không đồng nghĩa với việc cơ quan
kiểm tra không cần nhận sự hợp tác, phối hợp của các cơ quan có liên quan mà
các cơ quan phải tạo điều kiện cho cơ quan kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ. Các
cơ quan kiểm tra được pháp luật trao cho những quyền hạn nhất định để hoàn
thành nhiệm vụ được giao như có quyền xử lý văn bản ở một cấp độ nhất định
theo quy định.
1.2.2. Mục đích của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
21
22
hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật. Thông qua
hoạt động kiểm tra, những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, lạc hậu, bất hợp
pháp được loại bỏ làm cho hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và đảm bảo
tính hợp pháp. Nếu coi hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật là biện pháp "phòng" những dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý
của văn bản quy phạm pháp luật thì kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật sau
khi ban hành là biện pháp "chống". Bởi thông qua kiểm tra văn bản quy phạm
pháp luật, các cơ quan nhà nước phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng
chéo, lạc hậu, trái pháp luật của văn bản mà các cơ quan có thẩm quyền thẩm
định, thẩm tra có thể không hoặc chưa phát hiện được hết. Hơn nữa hoạt động
thẩm định, thẩm tra chỉ mang tính chất khuyến nghị nên không thể xử lý triệt để
những mâu thuẫn, chồng chéo trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Ngoài ra, hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có thể phát hiện và xử
lý nhanh chóng, kịp thời những văn bản khiếm khuyết vì hoạt động này được
tiến hành thường xuyên ngay sau khi văn bản được ban hành và có sự tham gia
của nhiều chủ thể.
Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng
trong việc duy trì trật tự quản lý nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức. Thực tế cho thấy, một số văn bản quy phạm pháp luật có
dấu hiệu bất hợp pháp, bất hợp lý được ban hành đã xâm phạm đến trật tự quản
lý nhà nước, làm suy giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước và
ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Vì vậy,
thông qua hoạt động kiểm tra văn bản, các cơ quan nhà nước đã kịp thời phát
hiện, đề xuất chủ thể có thẩm quyền xử lý, khắc phục sai sót, điều này cũng có
nghĩa phần nào bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tạo
lập lòng tin của người dân đối với nhà nước.
Hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật góp phần tạo dựng môi
xét trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm tra sau khi văn bản được ban hành.
1.2.4. Nguyên tắc và phƣơng thức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.4.1. Nguyên tắc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Để đạt được mục đích của việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là
nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản để kịp thời đình chỉ
24
việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống
nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời, kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền
xác định trách nhiệm của cơ quan, người đã ban hành văn bản trái pháp luật, góp
phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật, khi tiến hành kiểm tra văn bản cần phải tuân theo những nguyên tắc
cơ bản được quy định tại Điều 4 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010
của Chính phủ quy định về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể
là:
1. Việc kiểm tra văn bản văn bản trái pháp luật được tiến hành
thường xuyên, toàn diện, kịp thời; khách quan, công khai, minh bạch;
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; kết hợp giữa việc kiểm tra của cơ
quan có thẩm quyền với việc tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản,
bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan.
2. Nghiêm cấm các cơ quan, tổ chức, cá nhân lợi dụng việc kiểm
tra văn bản vì mục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động bình thường
của cơ quan, người đã ban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý
văn bản trái pháp luật.
3. Sau khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra văn bản phải có kết luận về
việc kiểm tra và thông báo cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban
hành văn bản được kiểm tra theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý văn bản chịu trách nhiệm về
kết luận kiểm tra, xử lý của mình; nếu quyết định xử lý trái pháp luật thì