QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 21

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÁO CÁO TIÊU LUẬN
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
Ở VIỆT NAM VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GVHD: PGS.TS LÊ THANH HẢI
HVTH: Trần Thành Đạt 201210014
Nguyễn Minh Hồng Nga 1280100059
Phạm Thị Vân 201210038
Trần Thị Thanh Nhạn 201210023
Trần Tây Nam 201110036
Tháng 06/2013
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lịch sử phát triển làng nghề ở Việt Nam 1
1.1 Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam 1
1.2 Sự phân bố của các làng nghề ở Việt Nam 1
1.3 Xu thế phát triển các loại hình làng nghề 2
1.4 Sự phát triển làng nghề và sức ép môi trường 3
1.4.1 Vai trò của các làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương, vùng miền và cả nước 3
1.4.1.1 Vai trò trong phát triển kinh tế và giải quyết lao động, việc làm 3
1.4.1.2 Các vấn đề xã hội 3
1.4.2 Các áp lực tới môi trường từ hoạt động của các làng nghề 4
CHƯƠNG 2 – QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG
2.1 Công cụ chính sách 6
2.1.1 Việc đầu tư và sử dụng ngân sách cho công tác quản lý môi trường tại làng nghề 6
2.1.2 Xã hội hóa công tác quản lý môi trường đối với làng nghề 7
2.1.3 Công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT đối với các
làng nghề 7

3.2.1.4 Tình trạng xử lý nước thải 18
3.2.2 Hiện trạng ô nhiễm rác thải rắn. 19
3.2.2.1 Khối lượng rác thải 19
3.2.2.2 Thành phần rác thải 19
3.2.2.3 Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải 19
3.2.2.4 Về việc xử lý rác thải: 19
3.3 Ảnh hưởng của sự ô nhiễm môi trường đến tình trạng sức khỏe của cư dân khu vực 19
3.4.1.1 Đối với rác thải: 19
3.4. Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ô nhiễm 19
3.4.1 Hướng giải quyết chung đối với thực trạng môi trường của làng nghề Mỹ Lồng 19
3.4.1.2 Đối với nước thải 19
3.4.2 Các giải pháp cụ thể 20
3.4.2.1 Giải pháp quy hoạch không gian làng nghề gắn với bảo vệ môi trường 20
3.4.2.2 Giải pháp quản lý và phối hợp sự tham gia của cộng đồng 21
3.4.2.3 Một số giải pháp khác 23
CHƯƠNG 4 - KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lịch sử phát triển làng nghề ở Việt Nam
1.1. Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam
Từ xa xưa, hoạt động sản xuất nghề thủ công đã là một trong những nét văn hóa đặc thù trong đời
sống của người dân nông thôn Việt Nam. Theo thời gian, các hoạt động sản xuất đơn lẻ dần dần gắn
kết với nhau, hình thành nên các làng nghề, xóm nghề, trong đó có nhiều làng mang tính truyền thống,
tồn tại lâu đời, trở thành một hình thức kết cấu kinh tế - xã hội của nông thôn. Bên cạnh sự đóng góp to
lớn vào đời sống kinh tế, hoạt động sản xuất nghề còn giúp người dân gắn bó với nhau, tạo ra những
truyền thống, nét đẹp trong đời sống văn hóa, tinh thần cho nông thôn Việt Nam.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làng nghề nước ta cũng đang có tốc độ phát triển mạnh
thông qua sự tăng trưởng về số lượng và chủng loại ngành nghề sản xuất mới. Một số làng nghề từng
bị mai một trong thời kỳ bao cấp thì nay cũng đang dần được khôi phục và phát triển. Nhiều sản phẩm

có khoảng 2.017 làng nghề. Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường được tổng hợp từ báo cáo chính thức
của UBND, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tính đến tháng 7 năm 2011 thì tổng
số làng nghề và làng có nghề trên toàn quốc là 3.355 làng, trong đó có 1.318 làng nghề đã được công nhận và 2.037
làng có nghề chưa được công nhận.
Do đặc điểm phân bố nêu trên, tại các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, với đặc điểm diện tích
chật hẹp, mật độ dân cư cao, hoạt động sản xuất quy mô công nghiệp và bán công nghiệp gắn liền với
sinh hoạt, nên các hậu quả của ô nhiễm môi trường là rõ rệt nhất. Trong khi đó, tại các tỉnh miền Trung
và miền Nam, do phân bố các làng có nghề khá thưa thớt, diện tích đất rộng, nên tuy vẫn nằm xen kẽ
trong các khu dân cư nhưng hậu quả môi trường là chưa đáng báo động. Hơn nữa, do đặc điểm phát
triển nên tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, làng nghề vẫn mang đậm nét thủ công truyền thống,
tận dụng nhân công nhàn rỗi tại chỗ và nguyên vật liệu địa phương, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của
cộng đồng dân cư quanh vùng, nên thực chất, phát triển làng nghề một cách có định hướng tại các khu
vực này là hết sức cần thiết.
1.3 Xu thế phát triển các loại hình làng nghề
Số lượng các làng nghề ở các vùng nói chung có xu hướng tăng lên, chỉ có ngành khai thác, sản
xuất vật liệu xây dựng có xu thế giảm do chính sách của nhà nước cũng như hậu quả của ô nhiễm môi
trường đến cộng đồng dân cư, và quan trọng hơn cả là chất lượng không cạnh tranh được với các sản
phẩm sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là nơi có số lượng làng
nghề lớn nhất trên cả nước thì số lượng vẫn tiếp tục tăng so với các khu vực khác nên khu vực này
được coi là đại diện nhất của bức tranh về ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam. Trong khi đó, tại
các vùng Đông Bắc và Tây Bắc số lượng có chiều hướng giảm dần trong những năm gần đây.
Dự báo cho xu thế phát triển làng nghề trong những năm tiếp theo được thể hiện trong bảng sau:
Các xu thế phát triển chính của làng nghề Việt Nam đến năm 2015
Vùng kinh tế
Dệt nhuộm,
ươm tơ,
thuộc da
Chế biến lương
thực, thực phẩm,
chăn nuôi, giết mổ

từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng. Mức thu
nhập của người lao động sản xuất nghề cao gấp 3 - 4 lần so với thu nhập của sản xuất thuần nông.
Nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện năm 2004 chỉ ra rằng, tỷ lệ hộ
nghèo trong số hộ sản xuất thủ công nghiệp là 3,7%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước là
10,4%. Như vậy có thể thấy, làng nghề đóng một vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, trực
tiếp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần đáng kể trong việc
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Bên cạnh đó, làng nghề còn có một ý nghĩa
gián tiếp đặc biệt quan trọng khác, đó là hạn chế việc di dân tự do từ khu vực nông thôn vào khu vực
thành thị trong thời kỳ nông nhàn, để tìm kiếm công ăn, việc làm và thu nhập.
Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng
30% lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% nhân lực
lao động của cả làng. Mức thu nhập từ sản xuất nghề cao hơn nhiều so với nguồn thu từ nông nghiệp,
đặc biệt là đối với vùng đất chật người đông như đồng bằng sông Hồng. Tại các làng nghề quy mô lớn,
trung bình mỗi cơ sở, doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm ổn định cho khoảng 30 lao động thường
xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao
động thời vụ. Đặc biệt tại các làng nghề dệt, thêu ren, mây tre đan thì mỗi cơ sở, vào thời kỳ cao điểm,
có thể thu hút 200-250 lao động. Bên cạnh những tích cực đã nêu ở trên, việc thu hút lao động ở những
địa phương khác tập trung vào các làng có nghề sẽ kéo theo những tác động tiêu cực đến xã hội và môi
trường khu vực nông thôn, các tác động này sẽ được phân tích ở những phần sau.
Đặc biệt đối với các làng nghề mà nhất là các làng nghề truyền thống, hoạt động sản xuất còn có
một ý nghĩa xã hội tích cực khác là sử dụng được lao động là người cao tuổi, người khuyết tật, những
người rất khó kiếm việc làm từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp tập trung cũng như
các ngành kinh doanh, dịch vụ khác. Sự phát triển của làng nghề đã và đang đóng góp đáng kể vào
GDP, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Làng nghề truyền thống được xem như một nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật
thể đầy tiềm năng. Nhiều tên tuổi sản phẩm đã gắn với thương hiệu của các làng nghề từ Nam đến Bắc,
được người tiêu dùng trong nước và nước ngoài ưa chuộng như gốm sứ Bình Dương; gốm Bát Tràng,
Hà Nội; gốm Chu Đậu, Hải Dương; gốm Phù Lãng, Bắc Ninh; đồ gỗ Đồng Kỵ, Bắc Ninh; đồ gỗ Gò
Công, Tiền Giang; dệt Vạn Phúc, Hà Nội; cơ khí Ý Yên, Nam Định; mây tre đan Củ Chi, Thành phố
Hồ Chí Minh; mây tre đan Chương Mỹ, Hà Nội; chạm bạc Đồng Xâm, Thái Bình; đúc đồng Đại Bái,

cũng bị tác động, xuống cấp mạnh.
Ngoài các doanh nghiệp, hợp tác xã, công ty TNHH trong làng nghề, thì đa số các cơ sở sản xuất
trong làng nghề đều mang những nét đặc thù về mặt xã hội như sau: do quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn
ở quy mô hộ gia đình (chiếm 72 % tổng số cơ sở sản xuất), nên nếp sống, suy nghĩ còn mang đậm tính
chất tiểu nông của người chủ sản xuất; quan hệ sản xuất ảnh hưởng đậm nét của quan hệ gia đình,
dòng tộc, làng xã, hoặc các mối quan hệ quen biết, nên hình thức giao việc chủ yếu là tự thỏa thuận,
cam kết, hầu như không có hợp đồng lao động, bảo hiểm lao động và thực hiện các chính sách xã hội
thỏa đáng đối với người lao động, nhất là trong những trường hợp rủi ro, tai nạn nghề nghiệp xảy ra;
công nghệ, kỹ thuật, thiết bị sản xuất phần lớn lạc hậu, chắp vá, ít quan tâm đến phòng chống cháy nổ
và an toàn lao động; khả năng đầu tư của các hộ sản xuất làng nghề rất hạn chế, nên khó có điều kiện
phát triển hoặc đổi mới công nghệ theo hướng tiên tiến, ít chất thải, thân thiện với môi trường; lực
lượng lao động chủ yếu là lao động thủ công, trình độ người lao động thấp, thậm chí nhân lực mang
tính thời vụ, không ổn định nên hiểu biết, kiến thức, nhận thức của chủ cơ sở nói chung và người lao
động nói riêng về khoa học, công nghệ, luật pháp và các quy định về BVMT là rất hạn chế.
1.4.2 Các áp lực tới môi trường từ hoạt động của các làng nghề
Với sự phát triển ồ ạt và thiếu quy hoạch của làng nghề tại nông thôn, cùng với sự mất cân bằng
giữa nhu cầu phát triển sản xuất và khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng, và sự lỏng lẻo trong quản lý
nói chung và quản lý môi trường nói riêng, hoạt động của các làng nghề đã và đang gây áp lực rất lớn
đến chất lượng môi trường tại các khu vực làng nghề, đặc biệt là các làng nghề thuộc Đồng bằng sông
Hồng, quan trọng phải kể đến như sau:
- Kết cấu hạ tầng nông thôn như hệ thống đường sá, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý nước
thải, điểm tập kết chất thải… rất yếu kém hoặc không đáp ứng được nhu cầu của phát triển sản xuất,
chất thải không được thu gom và xử lý, dẫn đến nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng, cảnh quan
bị phá vỡ;
- Quy mô sản xuất nhỏ, việc mở rộng sản xuất lại rất khó vì mặt bằng sản xuất chật hẹp, xen kẽ
với sinh hoạt; chất thải phát sinh không bố trí được mặt bằng để xử lý, lại ở trên một phạm vi hẹp, nên
đã tác động trực tiếp đến môi trường sống, ảnh hưởng tới điều kiện sinh hoạt và sức khỏe của người
dân;
- Quan hệ sản xuất mang nét đặc thù là quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng xã, đặc biệt là ở các làng
nghề truyền thống, nên sử dụng lao động mang tính chất gia đình, sản xuất theo kiểu “gia truyền” dẫn

hoặc không có. Tại các bộ/ngành, địa phương, trong khoản chi 1% tổng chi ngân sách nhà nước cho
BVMT hàng năm cũng chỉ dành một phần nhỏ kinh phí để triển khai các hoạt động BVMT làng nghề,
tuy nhiên, có rất ít báo cáo từ các Bộ, ngành và địa phương đề cập chính xác đến con số này, vì vậy
không thể tổng hợp được con số thực chi từ ngân sách nhà nước cho hoạt động BVMT làng nghề,
những số liệu được nêu tại Phụ lục V chỉ mang tính chất đại diện.
Bên cạnh đó, việc đầu tư và sử dụng các nguồn kinh phí cho hoạt động xử lý chất thải và BVMT
làng nghề còn dàn trải, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả. Từ nguồn ngân sách nhà nước và hỗ trợ của
các dự án quốc tế, tại một số Bộ, ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Khoa học và
Công nghệ; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; Liên hiệp các Hội Khoa
học và Kỹ thuật Việt Nam; Hội Nông dân Việt Nam….) và địa phương, các mô hình thử nghiệm về xử
lý chất thải, quản lý môi trường, huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác BVMT, đã
được triển khai và một số mô hình đạt kết quả tốt, được cộng đồng và chính quyền địa phương hoan
nghênh, đánh giá cao, nhưng việc duy trì tính bền vững và nhân rộng mô hình lại rất khó khăn và bất
cập. Nguyên nhân chủ yếu là do khi xây dựng Dự án chưa tính đầy đủ các yếu tố bền vững: nhiều dự
án không bền vững hoặc không thể nhân rộng do không xác định rõ trách nhiệm của các bên liên quan;
một số dự án không thành công vì công nghệ chưa phù hợp; một số dự án không hiệu quả do làng nghề
thay đổi công nghệ hoặc chuyển đổi ngành nghề sản xuất; còn phổ biến là do ý thức của người dân
thấp, nên không vận hành hoặc không đóng góp chi phí cho vận hành dự án.
Một ví dụ điển hình là “Mô hình xử lý nước thải cho một cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm kết
hợp chăn nuôi” tại thôn Xuân Lôi, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Trong quá trình xây
dựng dự án, cơ quan chủ trì (Tổng cục Môi trường) đã khảo sát rất kỹ, làm việc với người dân và chính
quyền địa phương, xây dựng các cam kết, thỏa thuận về tiếp nhận, vận hành, bảo quản công trình. Mô
hình sau khi thử nghiệm có hiệu quả đã được tổ chức bàn giao cho chủ hộ sản xuất có sự chứng kiến
của người dân và chính quyền địa phương, được tuyên truyền trên website của Bộ Tài nguyên và Môi
trường để các địa phương cùng tham khảo, học tập. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn sau khi bàn
giao, mô hình đã ngừng hoạt động. Nguyên nhân là do chủ cơ sở không muốn chi phí cho việc vận
hành mô hình (mặc dù đã cam kết trước đó). Đây cũng là một bài học khá phổ biến không chỉ đối với
làng nghề mà cả đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện nay ở Việt Nam; qua đó, để quản lý môi
trường hiệu quả, đòi hỏi phải triển khai áp dụng đồng bộ các công cụ quản lý: bên cạnh truyền thông,
giáo dục nâng cao nhận thức; các chính sách hỗ trợ, ưu đãi; áp dụng đúng mức các công cụ kinh tế;…

động “xây dựng hệ thống xử lý chất thải” và “Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng BVMT các KCN,
CCN làng nghề”.
Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như chưa có tổ chức, cá nhân nào “mạnh dạn” đầu tư cho làng nghề,
nguyên nhân là do khả năng thu hồi vốn, khả năng duy trì, vận hành các công trình đầu tư là khó khăn,
kể cả những dự án đã được hỗ trợ đầu tư từ ngân sách nhà nước. Mặt khác, các thủ tục hành chính để
nhận được sự ưu đãi trong nhiều trường hợp còn phức tạp, khó khăn.
Tại nhiều địa phương, các Hợp tác xã, Tổ vệ sinh môi trường,… đã được thành lập với nhiệm vụ
chủ yếu là thu gom chất thải rắn để vận chuyển ra các điểm lưu giữ tạm thời, hoặc các bãi chôn lấp.
Kinh phí hoạt động của tổ chức này do người dân đóng góp, trung bình mỗi hộ sản xuất đóng góp
khoảng 7.000-15.000 đồng/tháng để thu gom rác thải, còn các hoạt động làm sạch đường làng ngõ
xóm, dọp dẹp kênh mương cống rãnh, ao hồ hay nhắc nhở người dân các quy định về vệ sinh môi
trường thì chưa được thực hiện. Trong thời gian tới, cần có các quy định hoặc hướng dẫn cụ thể, chi
tiết về vai trò, trách nhiệm cũng như quyền lợi của các tổ chức này, để khuyến khích địa phương hình
thành và phát triển các Tổ chức tự quản về BVMT một cách đúng quy định.
Tại một số nơi, hương ước của làng nghề đã ra đời, trong đó có các thỏa thuận về trách nhiệm đối
với giữ gìn vệ sinh môi trường, trách nhiệm nộp các khoản kinh phí chung, và đây là một hình thức tự
cam kết của cộng đồng thực sự có hiệu quả. Tuy nhiên, tại một số địa phương đã xây dựng và ký kết
hương ước, nhưng không được tổ chức thực hiện, không có sự theo dõi, giám sát việc thực hiện. Một
trong các nguyên nhân chính ở đây là do thiếu sự quan tâm thường xuyên và đúng mức của cấp ủy,
chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, một quy định về thủ tục hành chính hiện hành là hương ước
phải được UBND cấp huyện phê duyệt cũng cần được nghiên cứu, xem xét lại. Bản thân hương
ước/quy ước có tính chất tự nguyện, không bị điều chỉnh bởi các quyết định hành chính. Nó gắn liền
với đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư làng, xóm, nhưng lại yêu cầu được pháp lý hóa
kèm theo những thủ tục hành chính; đã gây tâm lý ngại xây dựng hương ước/quy ước hoặc xây dựng
mang tính hình thức ở rất nhiều địa phương.
Kết quả xã hội hóa công tác quản lý môi trường đối với làng nghề còn rất hạn chế, mang nặng tính
chất tự phát, phụ thuộc rất nhiều vào mức độ quan tâm của chính quyền cơ sở.
2.1.3 Công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BVMT đối
với các làng nghề
Trong thời gian qua, công cụ “giáo dục, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức đối với chính

- Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật BVM.
Từ sau khi có Luật BVMT năm 1993 và nhất là từ sau khi Luật BVMT năm 2005 ra đời, hàng loạt
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã được xây dựng và ban hành.
Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BVMT đã được xây dựng để áp dụng cho mọi
đối tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, không phân biệt nằm trong khu vực nông thôn, làng nghề, khu
đô thị, công nghiệp hay các khu vực khác. Do chưa tính tới những yếu tố đặc thù và khách quan của
làng nghề, nhiều văn bản khi áp dụng vào khu vực sản xuất làng nghề không khả thi, hiệu lực triển
khai rất thấp.
- Các văn bản có liên quan:
+ Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số
chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó quy định các đối tượng, loại hình
ngành nghề nông thôn được khuyến khích, hình thức khuyến khích (ưu tiên, ưu đãi về đất đai; đầu tư,
tín dụng; thuế, phí; thông tin thị trường; khoa học, công nghệ và môi trường ), cũng như giao trách
nhiệm cho các ngành, các cấp chính quyền địa phương và cơ sở sản xuất về xử lý chất thải, bảo đảm vệ
sinh môi trường, thực hiện việc di chuyển cơ sở gây ô nhiễm môi trường đến địa điểm thích hợp.
+ Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 về Phát triển ngành nghề
nông thôn, trong đó quy định một số nội dung liên quan đến BVMT như: quy hoạch tổng thể phát triển
ngành nghề nông thôn gắn với BVMT; các dự án đầu tư đòi hỏi nghiêm ngặt về xử lý ô nhiễm môi
trường, bảo đảm yêu cầu nghiên cứu, sản xuất sản phẩm mới thì được ưu tiên giao đất có thu tiền sử
dụng đất hoặc thuê đất tại các KCN, CCN tập trung; các cơ sở, ngành nghề nông thôn di dời ra khỏi
khu dân cư đến địa điểm quy hoạch được ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và
hỗ trợ kinh phí để di dời. Về đầu tư, tín dụng có quy định: “ngân sách địa phương hỗ trợ một phần kinh
phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông
thôn”.
+ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT- BNN ngày
18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006
của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số
113/2006/TT-BTC ngày 28/12/2006 về việc hướng dẫn một số nội dung về ngân sách nhà nước hỗ trợ
phát triển ngành nghề nông thôn theo Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ
trong đó có quy định một trong các nội dung được hưởng hỗ trợ bao gồm “Đầu tư xây dựng cơ sở hạ

môi trường xung quanh.
Bảng tổng hợp các Tiêu chuẩn/Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được thể hiện tại Phụ
lục III.
Tuy nhiên, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được ban hành và áp dụng cho mọi đối
tượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; không phân biệt đối tượng có nằm trong làng nghề hay không.
Khi xây dựng các quy chuẩn này, mục tiêu là tập trung vào các đối tượng là cơ sở sản xuất công
nghiệp. Vì vậy, trên thực tế khi áp dụng các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với các cơ
sở tiểu thủ công nghiệp trong làng nghề đã gặp nhiều khó khăn do năng lực xử lý chất thải của các cơ
sở này rất hạn chế. Nếu căn cứ theo quy chuẩn thải hiện hành để áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm
hành chính đối với các cơ sở trong làng nghề thì tất cả các cơ sở đều bị xử phạt, thậm chí không ít
trường hợp, mức xử phạt còn vượt quá năng lực thi hành của các cơ sở sản xuất. Hơn nữa, dù có vi
phạm và bị xử phạt, các cơ sở đang vi phạm do những điều kiện chủ quan và khách quan cũng không
thể khắc phục ngay được tình trạng xả thải vượt quy chuẩn trong một thời gian ngắn. Chính điều này
đã ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi và hiệu lực pháp lý của các quy định hiện hành.
Trong thời gian tới, cần nghiên cứu và ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường
phù hợp với thực trạng năng lực sản xuất và khả năng đầu tư, xử lý chất thải của làng nghề (thông qua
các hệ số và lộ trình áp dụng Quy chuẩn).
2.2.2 Tổ chức bộ máy, năng lực quản lý nhà nước về BVMT các cấp đối với làng nghề
Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về BVMT nói chung và môi trường làng nghề nói riêng hiện
nay còn quá mỏng về số lượng và hạn chế về trình độ.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Tổng cục Môi trường tiến hành năm 2010, số lượng cán bộ
tham gia vào công tác quản lý môi trường trên phạm vi toàn quốc ở địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) là
2.601 cán bộ.
Trên đây là con số thống kê về nhân lực tham gia vào công tác quản lý môi trường, lực lượng cán
bộ này phải triển khai đồng thời rất nhiều nội dung, công việc như: thanh tra, kiểm tra; thẩm định phê
duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT, đề án BVMT; kiểm soát ô nhiễm và
quản lý chất thải; thẩm định phí BVMT; quan trắc môi trường và xây dựng báo cáo hiện trạng,…Có
thể nói số lượng cán bộ tham gia và thời gian đầu tư trực tiếp cho công tác BVMT làng nghề còn rất
khiêm tốn và cũng chưa có số liệu thống kê chi tiết cho tới nay.
Số liệu thống kê cũng chỉ ra rằng, khoảng 95% cán bộ quản lý môi trường cấp huyện không có

dụng các hình thức xử phạt bổ sung khác. Chính điều đó đã tạo điều kiện để một số cơ sở công nghiệp
“chui” vào làng nghề.
Từ kết quả kiểm tra, thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như chính quyền địa
phương các cấp cho thấy, hầu hết các làng nghề không có cơ sở hạ tầng phù hợp để thu gom, xử lý
chất thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Các cơ sở trong làng nghề không
thực hiện các hồ sơ, thủ tục về môi trường; không phân loại, xử lý chất thải. Nhận thức của người dân,
chủ cơ sở đối với các quy định về BVMT còn hạn chế. Việc áp dụng các quy định pháp luật hiện hành
để xử lý vi phạm hành chính đối với các đối tượng sản xuất trong làng nghề thực sự gặp nhiều khó
khăn, bất cập. Nếu áp dụng theo quy định tại Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực BVMT thì tất cả các hộ, cơ sở sản xuất đều thuộc đối tượng bị xử lý, thậm chí phải
đóng cửa hoặc tạm thời dừng hoạt động để khắc phục hậu quả; số tiền phải nộp phạt được tính trên
tổng mức các hành vi vi phạm nên rất cao dẫn đến cơ sở không có khả năng nộp phạt cũng như đầu tư
kinh phí để xây dựng hệ thống, công trình xử lý chất thải.
Đối với một số làng nghề thuộc Danh mục kèm theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22
tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng, hiện đang phải áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường, hoặc dần
thu hẹp quy mô hoạt động tiến tới chuyển đổi hoàn toàn ngành nghề sản xuất, điển hình như Làng
nghề tái chế chì Đông Mai, tỉnh Hưng Yên.
Bên cạnh đó, do tâm lý họ hàng, dòng tộc, làng xã nên các hộ dân (kể cả có sản xuất nghề và
không sản xuất nghề) mang nặng tâm lý e ngại, nể nang, quen chịu đựng và sợ va chạm, nên không tố
giác các hành vi vi phạm pháp luật nói chung, và vi phạm pháp luật về BVMT nói riêng. Tại một số
địa phương, người dân còn liên kết chống đối lại các cơ quan chức năng khi bị kiểm tra (như rào
đường, đóng cổng,…) và che dấu các hành vi vi phạm của các hộ sản xuất.
Nhìn chung, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật các cơ sở trong làng nghề gần
như bị “bỏ trống” trong khi các hành vi vi phạm lại rất phổ biến.
2.4 Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các làng nghề
2.4.1 Tình hình thực hiện các chính sách, pháp luật về BVMT đối với các làng nghề
Như trên đã phân tích, do năng lực, nguồn lực hạn chế, nên hầu hết các địa phương còn chậm
trong việc quán triệt và triển khai các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về BVMT tới chính
quyền địa phương cấp huyện, cấp xã và đặc biệt là các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề. Nhiều hộ, cơ

xử lý số lượng các khu vực ô nhiễm gấp đôi, thậm chí gấp ba lần con số hiện tại trong vòng vài năm
tới.
2.4.2. Hiện trạng chất lượng môi trường xung quanh và chất thải, nước thải, khí thải tại các làng
nghề.
Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số đặc điểm sau: (i) Là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm
vi một khu vực (thôn, làng, xã…). Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen với khu sinh hoạt nên
đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát; (ii) Mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản
xuất theo ngành nghề sản xuất, mùa vụ sản xuất, loại hình sản phẩm và tác động trực tiếp tới môi
trường nước, khí, đất trong khu vực; (iii) Mức độ ô nhiễm khá cao tại khu vực sản xuất và ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe người lao động do sinh hoạt ngay trong khu vực sản xuất. Tác động của ô nhiễm
là tác động “cộng hưởng” của nhiều nguồn ô nhiễm trong cùng một khu vực (gồm nhiều hộ sản xuất
gia đình).
Trên thực tế, mức độ “tác động” đến môi trường do hoạt động sản xuất làng nghề rất khác nhau,
phụ thuộc vào loại hình sản xuất và đặc điểm phân bố theo vùng, miền. Ví dụ như các làng nghề dệt
thổ cẩm ở vùng núi phía Bắc, các làng nghề thêu ren, đan tay, các làng có nghề không sử dụng hóa
chất công nghiệp ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ; hoặc các làng nghề dệt nhuộm có sử dụng thuốc
nhuộm có nguồn gốc thực vật, thì các tác nhân ảnh hưởng đến chất lượng môi trường là không đáng
kể.
2.4.2.1 Hiện trạng chất lượng môi trường nước và nước thải của các làng nghề
Theo đặc trưng chất gây ô nhiễm trong nước thải của từng loại hình sản xuất có thể phân loại ô
nhiễm môi trường nước như sau: (i) Ô nhiễm chất hữu cơ tại các làng nghề chế biến lương thực, thực
phẩm, chăn nuôi và giết mổ. Đây là các loại hình sản xuất có nhu cầu sử dụng nước rất lớn và nước
thải có độ ô nhiễm hữu cơ rất cao. Hàm lượng các chất ô nhiễm, đặc biệt là COD và BOD
5
, SS, Tổng
N, Tổng P vượt QCVN hàng chục lần. Đặc biệt là nước thải từ khâu lọc tách bã, tách bột đen của quá
trình sản xuất tinh bột từ sắn và dong giềng có độ pH thấp, hàm lượng BOD
5
, COD vượt trên 200 lần
3

xuất vật liệu xây dựng tại một số địa phương vượt QCVN là 3 - 8 lần, hàm lượng SO
2
có nơi vượt 6,5
lần
5
.
Một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ còn phát sinh ô nhiễm
mùi do quá trình phân huỷ các chất hữu cơ trong nước thải và các chất hữu cơ trong chế phẩm thừa
thải ra tạo nên các khí như SO
2
, NO
2
, H
2
S, NH
3
các khí gây mùi hôi tanh rất khó chịu, điển hình như
Làng trống da Lâm Yên (Đại Lộc, Quảng Nam). Các làng nghề ươm tơ, dệt vải và thuộc da, thường bị
ô nhiễm bởi các thông số như SO
2
, NO
2
. Các làng nghề thủ công mỹ nghệ thường bị ô nhiễm nặng bởi
khí SO
2
phát sinh từ quá trình xử lý chống mốc cho các sản phẩm may tre đan.
Đặc biệt, các làng nghề dệt thường bị ô nhiễm tiếng ồn từ các máy dệt thủ công hoặc bán tự động,
mức ồn vượt TCVN từ 4 - 14 dBA.
2.4.2.3 Chất thải rắn của các làng nghề
Chất thải rắn ở hầu hết các làng nghề chưa được thu gom và xử lý triệt để, nhiều làng nghề xả thải

(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 – Môi trường làng nghề Việt Nam)
CHƯƠNG 3
LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LÀNG NGHỂ MỸ LỒNG
3.1Khái quát làng nghề Mỹ Lồng
3.1.1 Vị trí địa lí
Xã Mỹ Lồng thuộc huyện Giồng Trôm, Tỉnh Bến Tre, nằm ở phía Tây Bắc. Các vị trí tiếp giáp:
- Phía Đông giáp huyện Ba Tri
- Phía Tây giáp thành phố Bến Tre và huyện Châu Thành
- Phía Nam giáp huyện Mỏ Cày Nam, có ranh giới chung sông Hàm Luông
- Phía Bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới chung sông Ba Lai
Bến Tre là tỉnh đồng bằng nằm cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp biển Đông và các tỉnh Tiền
Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long. Trung tâm của tỉnh cách Thành phố Hồ Chí Minh 87 km về phía Tây
(qua Tiền Giang và Long An).
3.1.2 Hiện trạng sản xuất của làng nghề.
Mỹ Lồng xã nằm trong vùng trọng điểm chế biến nông sản của đồng bằng Sông cửu Long. Làng
nghề Mỹ Lồng đã có hơn 40% số hộ chuyên nghề chế biến nông sản. Sản phẩm của làng nghề ngày
một đa dạng, phong phú: tinh bột sắn và tinh bột dong… cung cấp cho các công ty dược, các nhà máy
bánh kẹo; làm mạch nha, miến, bún khô… không chỉ cung cấp cho các thị trường trong nước mà còn
xuất khẩu sang các nước khác như Lào, Campuchia, Trung Quốc,
3.1.2.1 Nguyên liệu chủ yếu cung cấp cho làng nghề
Do đặc thù của nghề chế biến nông sản nên nguyên liệu sản xuất chính vẫn tập trung vào một số
nông sản như: củ sắn, củ dong riềng, đỗ xanh, lạc, vừng. Các ngành sản xuất bánh kẹo, mạch nha lại sử
dụng sản phẩm tinh bột sắn, tinh bột dong, vừng, lạc sơ chế, đỗ xanh bóc vỏ… Các nguyên liệu sắn củ,
dong củ cho hoạt động của làng nghề chủ yếu được mua từ các tỉnh lân cận thuộc đồng bằng sông
Sông cửu Long và một phần không nhiều là từ nông nghiệp của xã.
3.1.2.2 Công nghệ sản xuất
Trong những năm gần đây tốc độ đầu tư để đổi mới công nghệ nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm diễn ra khá nhanh ở hầu hết các lĩnh vực của ngành sản xuất. Tuy nhiên quá trình đầu tư đổi
mới khoa học còn mang tính chắp vá thiếu đồng bộ, công nghệ sản xuất chỉ tập trung đổi mới ở một số

(60 – 100kg)
Bột thành phẩm
Xỉ khô (30kg)
Nước sạch, điện
Xỉ ướt (50kg)
Nước thải
Nguồn: Đặng Kim Chi, 2005
Sắn củ
1 tấn (100%)
Vỏ, đất, cát xả ra
0,05 tấn (5%)
Bột nghiền
0,95 tấn (95%)
Bã sắn
0,4 tấn (40%)
Tinh bột độ ẩm
~ 42%
Theo nước thải
0,05 tấn (5%)
Hình 3.3. Cân bằng vật chất trong chế biến tinh bột sắn
Dong củ
1 tấn (100%)
Vỏ, đất, cát xả ra
0,1 tấn (10%)
Bột nghiền
0,9 tấn (90%)
Bã dong
0,5 tấn (50%)
Tinh bột
0,3 tấn (30%)

Tại làng nghề Mỹ Lồng, các hoạt động CBNSTP chủ yếu là chế biến tinh bột dong và sắn, làm
miến, sơ chế đỗ xanh, vừng, lạc bóc vỏ, sản xuất mạch nha… Nước thải chủ yếu từ các công đoạn như
rửa, bóc tách vỏ nguyên liệu; lọc tách bã, ngâm ủ, rửa bột…nên có hàm lượng BOD, COD rất lớn, đặc
biệt là nước thải từ sản xuất tinh bột dong có hàm lượng chất hữu cơ cao (bã dong được thải cùng với
dòng nước thải, không được thu gom), sản xuất tinh bột dong cũng tạo ra một lượng nước thải lớn nhất
so với các sản phẩm khác của làng nghề (để sản xuất 1 tấn tinh bột dong thải ra 41 m
3
nước).
Ngoài ra, ngành chăn nuôi, chủ yếu là nuôi lợn với khoảng 33.000 con/năm, có những hộ nuôi tới
hàng trăm con, mỗi ngày thải ra hàng m3 nước từ việc rửa chuồng trại. Nước thải chăn nuôi thường có
hàm lượng coliform cao.
Trước tình trạng nước thải ô nhiễm như trên lại không có hệ thống xử lý nước thải mà đổ trực tiếp
ra các cống rãnh, mương máng rồi hòa vào sông Hàm Luông, Sông Hậu đã làm cho hệ thống nước mặt
của xã và các vùng lân cận bị suy thoái nghiêm trọng về chất lượng. Hàm lượng hữu cơ quá cao dẫn
đến sự phân hủy yếm khí trong các thủy vực, tạo ra các chất như H2S, NH3 tác động đến sự sống của
các loài thủy sinh trong vùng. Đồng thời nước thải ô nhiễm sẽ ngấm xuống đất, ảnh hưởng tới nguồn
nước ngầm của vùng. Nhiều giếng khơi trong vùng đến nay nhiễm bẩn không thể sử dụng được, các hộ
đã phải chuyển sang dùng nước giếng khoan. Những ngày nắng, nhiệt độ cao đã làm bốc mùi các
mương nước, gây mùi hôi thối khắp làng nghề. Lượng vi khuẩn trong nước rất dễ phát tán khắp không
gian môi trường của xã, đó là nguyên nhân gây các loại dịch bệnh, nhất là vào mùa mưa.
3.2.1.4 Tình trạng xử lý nước thải
Với nhu cầu nước và lượng nước thải lớn như Mỹ Lồng, thêm vào đó là đặc trưng của các làng
nghề hiện nay: sản xuất chủ yếu mang tính tự phát, nhỏ lẻ, vốn ít… nên việc đầu tư các công nghệ cho
môi trường hầu như chưa có. Do đó, 100% nước thải được xả trực tiếp ra môi trường tự nhiên mà
không qua xử lý.
Mỹ Lồng là làng nghề CBNSTP, với các hoạt động có lượng nước thải lớn nhất là sản xuất tinh
bột dong, tinh bột sắn, miến, chăn nuôi.
Xã chưa có hệ thống thoát nước thải sinh hoạt và sản xuất riêng biệt, lượng nước xả thải lớn diện
tích cống thì bé và không thường xuyên tu bổ nâng cấp, các đường cống không có nắp đậy rất nhiều.
Vì thế nước thải thường xuyên bị tắc nghẽn, bốc mùi nồng nặc, vào mùa sản xuất chính còn bị tràn lan

3.4.1 Hướng giải quyết chung đối với thực trạng môi trường của làng nghề Mỹ Lồng :
3.4.1.1 Đối với rác thải:
Xã Mỹ Lồng cần nâng cao năng lực hoạt động của tổ VSMT, tiến hành thu gom rác thải thường
xuyên hơn, triệt để hơn tránh tình trạng rác thải, bã thải chất đống ven đường đi, khu vực chợ … Cần
quy hoạch các điểm thu gom rác thải cố định trong các khu dân cư, tu sửa bãi rác nổi miền bãi, tránh
tới mức tối thiểu những ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Đồng thời tuyên truyền, vận động nhân
dân tích cực nâng cao ý thức thu gom và đổ rác đúng nơi quy định.
Nên phân loại rác tại từng hộ dân, rác hữu cơ và rác có thể tái chế được. Phần rác đã phân loại có
thể sử dụng được sẽ được chuyển đến các nhà máy rác để tái sử dụng.
3.4.1.2 Đối với nước thải:
Cần sớm có kế hoạch quy hoạch và tu bổ hệ thống cống, kênh mương dẫn nước thải, xây dựng
một khu vực tập kết và xử lý nước thải (trong khu quy hoạch sản xuất tập trung) cho cả làng nghề sao
cho phù hợp, cần lưu ý tới tải lượng thải hiện tại và lâu dài. Các hộ sản xuất phân tán cũng cần đầu tư
kỹ thuật xử lý nước thải sơ bộ.
3.4.2 Các giải pháp cụ thể
3.4.2.1 Giải pháp quy hoạch không gian làng nghề gắn với bảo vệ môi trường.
* Khái niệm về quy hoạch và quy hoạch bảo vệ môi trường:
Quy hoạch: Hiện nay, có khá nhiều các khái niệm về quy hoạch, song nhìn chung đều phản ánh
bản chất của quá trình này là: “Đó là công cụ có tính chất chiến lược trong phát triển, được coi là
phương pháp thích hợp để tiến tới tương lai theo một phương hướng, mục tiêu do ta vạch ra. Đồng
thời, đó là tất cả những công việc hoặc khả năng kiểm soát tương lai bằng các hoạt động hiện tại nhờ
vào sự ứng dụng các kiến thức về quan hệ nhân quả ( ). Kỹ thuật cơ bản của nó là các báo cáo viết,
kèm theo là dự báo thống kê, trình bày toán học, đánh giá định lượng và sơ đồ (bản đồ) mô tả những
mối liên hệ giữa các phần tử khác nhau của bản quy hoạch” [Vũ Quyết Thắng, 2007].
Quy hoạch bảo vệ môi trường có thể được hiểu là việc “xác lập các mục tiêu môi trường mong
muốn; đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để bảo vệ, cải thiện và phát triển một/những môi
trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất
lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra” [Vũ Quyết Thắng, 2007].
Từ đó có thể hiểu khái niệm quy hoạch không gian làng nghề gắn với bảo vệ môi trường về cơ bản
là việc: Quy hoạch, sắp xếp, bố trí không gian sản xuất cho làng nghề dựa trên hiện trạng về sản xuất,

nhiều
150 - Hộ sản xuất có mức
tiêu thụ ≥ 1 tấn
nguyên liệu/ngày
- Công đoạn lọc tinh
bột
-Riêng đối với
sản xuất tinh bột
dong cần có hệ
thống lọc bã sơ
bộ
-Công đoạn làm bột
thô với mức tiêu thụ
≤ 0.5 tấn nguyên
liệu/ngày
2 Sản xuất miến, bún khô:
Nước thải khá nhiều,
cần nhiều diện tích
100 -Hộ sản xuất có mức
tiêu thụ ≥ 0.5 tấn
nguyên liệu/ngày
-Công đoạn đóng gói
sản phẩm
3 Sản xuất mạch nha: Rác
thải trung bình, cần
nhiệt lượng nhiều, ô
nhiễm không khí
50 -Hộ sản xuất có mức
tiêu thụ ≥ 0.5 tấn
nguyên liệu/ngày

- Có bộ phận chuyên
trách về vấn đề moi
trường của khu sản
xuất
- Cần thường
xuyên kiểm định
chất lượng các
sản phẩm nhằm
đảm bảo vệ sinh
an toàn thực
phẩm cho người
tiêu dùng,
hướng tới phát
triển bền vững.
- Những cơ sở có
năng suất thấp
- Nhà cửa và khu vực
sản xuất phải bố trí
hợp lý, tránh ảnh
hưởng tới sức khỏe.
- Xử lý cục bộ tại các
hộ sản xuất.
- Nâng cấp hệ thống
thoát nước của làng,
đảm bảo thông thoát
cả khi mùa mưa và
vụ sản xuất chính.
3.4.2.2. Giải pháp quản lý và phối hợp sự tham gia của cộng đồng:
* Nâng cao năng lực quản lý môi trường
Trước tiên cần nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý môi trường cho địa phương. Nhanh chóng

làng nghề:
Cộng đồng làng nghề là những người trực tiếp tham gia sản xuất, cũng là tác nhân cơ bản nhất
gây ô nhiễm môi trường, đồng thời lại là những người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả của việc ô
nhiễm. Do đó, cộng đồng có vai trò quan trọng và quyết định đối với vấn đề nâng cao năng lực sản
xuất và bảo vệ môi trường. Có thể nói ở đây đang tồn tại một mâu thuẫn: Đó là giữa nhận thức về hiện
trạng môi trường và hành động nhằm bảo vệ môi trường của cộng đồng.
Cách thức để thực hiện giải pháp:
Cần nâng cao nhận thức của người dân: Qua khảo sát thấy rằng, người dân nhận biết được môi
trường đang ô nhiễm, song lại chưa ý thức được đầy đủ những hậu quả của nó nên chưa có những hành
động giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Vì vậy, cần tích cực giáo dục môi trường cho cộng đồng
với nội dung chính: Môi trường là nơi chúng ta sống và lao động hàng ngày, nếu môi trường bị ô
nhiễm sẽ thu hẹp không gian sống của con người; là nguyên nhân lây nhiễm các loại bệnh tật, giảm
tuổi thọ của người già, thậm chí có thể gây đột biến gen, dẫn đến nguy cơ tàn tật bẩm sinh cho trẻ sơ
sinh nếu môi trường bị nhiễm các chất độc hại…
Lên kế hoạch và lồng ghép thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường cho cộng đồng làng nghề,
với các nội dung chính gồm:
- Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi ở, nơi sản xuất cũng như đường làng, ngõ xóm.
- Thu gom rác đúng nơi quy định của địa phương, không vứt rác bừa bãi ra các nơi công cộng.
- Vận động người dân tham gia các chương trình sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn (nạo vét, khơi thông kênh mương, cống rãnh; dọn vệ sinh đường phố định kỳ;…)
- Trong quá trình sản xuất, có kế hoạch tận thu các sản phẩm phụ để tái sản xuất, vừa tăng thu
nhập, vừa giảm nguồn thải.
- Người sản xuất cần nâng cao ý thức tôn trọng vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chú ý tới việc
“sản xuất sạch hơn”, vừa nâng cao uy tín, chất lượng sản phẩm, vừa bảo vệ môi trường. Như vậy là tự
bảo vệ cho sức khỏe của mình, cộng đồng làng nghề cũng như người tiêu dùng sản phẩm…
Việc giáo dục môi trường cho người dân có thể tiến hành đa dạng dưới mọi hình thức: Tuyên
truyền qua chương trình phát thanh của xã, qua các cuộc thi tìm hiểu về sản xuất và môi trường; có thể
lồng ghép với các dịp lễ hội (trung thu, tết nguyên đán…); và nên kết hợp giáo dục cho học sinh ngay
tại trường học các cấp của xã qua các buổi học ngoại khóa, các cuộc thi viết, thi thuyết trình;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status