LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề môi trường hiện nay đang là chủ đề được cả thế giới quan tâm.
Nhận thức về việc bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao và được cụ
thể hóa bằng những quy định, hành động. Các doanh nghiệp sản xuất phải chú
trọng đến những vấn đề xử lý rác thải, độ an toàn của sản phẩm, vấn đề ô
nhiễm môi trường. Người tiêu dùng thế giới khi lựa chọn sản phẩm không chỉ
quan tâm đến chất lượng, mẫu mã, giá cả của hàng hóa mà còn căn cứ vào sự
thân thiện đối với môi trường của sản phẩm. Để định hướng, điều chỉnh hành
vi, hoạt động của các doanh nghiệp và đánh giá độ an toàn của sản phẩm với
môi trường, thế giới đã xây dựng các hệ thống tiêu chuẩn môi trường. Những
tiêu chuẩn môi trường này mang tính quốc tế và ngày càng được các nước áp
dụng rộng rãi. Trong xu thế toàn cầu hóa và tự do thương mại như hiện nay,
khi các hàng rào thuế quan dần dần bị dỡ bỏ thì những tiêu chuẩn môi trường
này lại càng có ý nghĩa quan trọng, trở thành rào cản mới cho hàng hóa xuất
nhập khẩu.
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, xuất khẩu
là một trong những động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Mặc dù sản
phẩm của Việt Nam đa dạng, phong phú, có khả năng xuất khẩu nhưng thực
tế chưa xứng với tiềm năng do chưa đạt được tiêu chuẩn khắt khe của thị
trường nhập khẩu, đặc biệt là những tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Chúng ta
đã được nghe rất nhiều về chuyện Nhật Bản trả Việt Nam lô hàng tôm xuất
khẩu do vượt quá dư lượng kháng sinh cho phép, hay lô chè xuất khẩu vượt
dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hay những sản phẩm dệt may bị trả lại do sử
dụng nhiều thuốc nhuộm ảnh hưởng tới môi trường,… Những thiếu sót này
không chỉ gây thiệt hại nặng nề về tài chính mà còn ảnh hưởng lớn uy tín của
hàng Việt Nam, làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam. Vì
1
vậy, để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, một trong những biện pháp cần thiết là
đẩy mạnh việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường đối với hàng hóa xuất khẩu
Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Áp dụng các tiêu chuẩn môi trường nhằm nâng cao sức cạnh tranh của
nhà nước có thẩm quyền quy định là căn cứ để quản lý và bảo vệ môi
trường”.
Có nhiều cách phân loại tiêu chuẩn môi trường. Thứ nhất, có thể phân
chia tiêu chuẩn môi trường thành tiêu chuẩn về chất lượng nước (chất lượng
nước, tiêu chuẩn nước thải), chất lượng không khí (nồng độ chất độc hại trong
không khí, tiêu chuẩn khí thải), tiêu chuẩn tiếng ồn, độ rung, chất lượng đất
(dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất). Đó là cách phân chia của Tiêu
chuẩn môi trường Việt Nam. Thứ hai, tiêu chuẩn môi trường được nhóm lại
trong các bộ tiêu chuẩn quốc tế áp dụng trong thương mại như tiêu chuẩn ISO
14000, HACCP, Tiêu chuẩn về phương pháp sản xuất chế biến… Trong
những tiêu chuẩn này có chứa các nội dung liên quan đến việc bảo vệ môi
3
trường trong quá trình sản xuất, giới hạn tác động xấu của sản xuất, thương
mại. Những bộ tiêu chuẩn này được áp dụng phổ biến trên thế giới, các doanh
nghiệp muốn đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa phải quan tâm đến các
tiêu chuẩn này.
Trong giới hạn của khóa luận này nghiên cứu các tiêu chuẩn môi
trường liên quan đến thương mại quốc tế nên sẽ đi vào phân tích các tiêu
chuẩn môi trường quốc tế mang tính quản lý, chính sách.
2. Tiêu chuẩn môi trường trong hoạt động thương mại
2.1. Tiêu chuẩn ISO 14000
Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 (đặc biệt là các tiêu chuẩn ISO 14001 và ISO
14004 về Hệ thống quản lý môi trường) là các tiêu chuẩn quản lý môi trường
đầu tiên được đưa ra áp dụng ở phạm vi toàn cầu đã được ban hành vào tháng
9 năm 1996. Rất nhiều các doanh nghiệp đã áp dụng và bắt đầu xin chứng
nhận phù hợp tiêu chuẩn này để có thể sản xuất ra các sản phẩm hoặc là thực
hiện các quá trình thân thiện với môi trường dựa trên việc sử dụng các công
nghệ sản xuất sạch hơn. Nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt nam đã
chấp nhận các tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường này thành các tiêu
chuẩn quốc gia.
hướng đến việc xuất khẩu.
Một nội dung đáng lưu ý khác của Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 trong mối
quan hệ đối với thương mại là vấn đề nhãn môi trường. Đây là nội dung quan
trọng nhất của ISO 14000 đối với sản phẩm, hàng hóa. Các kế hoạch cấp nhãn
hiệu sinh thái, chú yếu là dựa trên những khởi xướng của chính phủ, nhằm
gây ảnh hưởng vào các quyết định tiêu thụ để chọn lựa những sản phẩm thân
thiện về mặt môi trờng và thúc đẩy việc tạo ra những sản phẩm như vậy. Đối
với khu vực tư nhân, các nhãn hiệu sinh thái là thuộc mối quan tâm từ triển
vọng tiếp thị. Chúng là phương thức chứng tỏ chất lượng môi trường của một
5
sản phẩm, có tác động tích cực đến việc quyết định lựa chọn một sản phẩm.
Các tiêu chuẩn về cấp nhãn hiệu sinh thái có tác dụng đưa ra một cách tiếp
cận phù hợp giữa các quốc gia nhằm đánh giá các đặc tính môi trường của
một sản phẩm và cung cấp thông tin đó tới người tiêu dùng. Các tài liệu dự
thảo tiêu chuẩn ISO xác định ba kiểu cấp nhãn hiệu:
Nhãn sinh thái kiểu I – ISO 14024: Đây là chương trình tự nguyện mà
nhà sản xuất hay các doanh nghiệp không bị bắt buộc tham gia. Những doanh
nghiệp nào muốn nâng cao uy tín sản phẩm của mình, hoặc muốn thể hiện
tính ưu việt của sản phẩm có thể tham gia chương trình. Sản phẩm muốn đăng
ký Nhãn sinh thái sẽ được bên thứ 3 kiểm định vòng đời của sản phẩm. Nếu
như sản phẩm hội đủ các tiêu chí sẽ được cấp giấy chứng nhận Nhãn sinh
thái.
Kiểu II – ISO 14021: Nhãn sinh thái kiểu II là do nhà sản xuất hoặc các
đại lý bán lẻ tự nghiên cứu, đánh giá và công bố cho mình, đôi khi còn được
gọi là “Công bố xanh”, có thể công bố bằng lời văn, biểu tượng hoặc hình vẽ
lên sản phẩm do nhà sản xuất hoặc các đại lý bán lẻ quyết định. Việc công bố
này không có sự chứng nhận của bên thứ ba độc lập.
Kiểu III – ISO 14025: Đây là chương trình mang tính chất tự nguyện
do một ngành công nghiệp hoặc một tổ chức độc lập xây dựng nên. Mỗi
ngành công nghiệp hay mỗi nhóm hàng có thể thành lập tổ chức có chức năng
sinh, khả năng tái chế, v.v…
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người
tiêu dùng biết là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các quy
định và tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái đang được sử dụng như một công cụ
định hướng đối với các chính sách môi trường.
Nhãn mác môi trường có thể phân chia thành hai loại. Loại thứ nhất
bao gồm các dạng nhãn mác tiếp thị vì an toàn môi trường, là loại mà thông
7
qua đó nhà sản xuất và nhà bán lẻ muốn tuyên bố rằng sản phẩm mang nhãn
mác đó có những thuộc tính hoặc chất lượng vì môi trường riêng biệt nhất
định. Trong một số trường hợp, để đảm bảo với người tiêu dùng về độ chính
xác của các tuyên bố đó, chúng sẽ được chứng nhận bởi các phòng thí nghiệm
và các cơ quan thanh tra độc lập. Loại thứ hai là loại mà giấy phép sử dụng
nhãn hiệu do các cơ quan được chính phủ bảo trợ, hoặc các cơ quan độc lập
cấp, khi các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp thỏa mãn được các tiêu chuẩn và
điều kiện của cơ quan cấp giấy phép. Các nhãn hiệu thuộc loại hai này thường
được gọi là "nhãn hiệu sinh thái".
Chương trình nhãn sinh thái trên thế giới được khởi xướng áp dụng lần
đầu tiên ở Đức vào năm 1978 với nhãn sinh thái loại 1. Năm 1993, tổ chức
quốc tế về tiêu chuẩn hóa (ISO) bắt đầu quá trình xây dựng tiêu chuẩn về
nhãn môi trường. Đến năm 1994, Tổ chức Nhãn sinh thái toàn cầu ra đời
(GEN). Tổ chức ISO 14020 (1999) và ISO 14021 về Nhãn môi trường loại I
và loại II (2000), ban hành tiêu chuẩn ISO 14025 về Nhãn môi trường loại III.
Đến nay, nhãn loại I là loại được áp dụng phổ biến hơn cả, với khoảng 40
quốc gia tham gia với các tên gọi khác nhau như: Dấu xanh (Green Seal) ở
Mỹ, Sự lựa chọn Môi trường, Biểu trưng sinh thái ở Cannada, Ôxtraylia, Niu
Di Lân, Dấu Sinh thái (Ecomark) ở Nhật, Ấn Độ, Nhãn xanh (Green
Mark/Label) ở EU. Tại 4 nước dẫn đầu là Mỹ, Canada, Nhật và Hàn Quốc có
khoảng 20-30% sản phẩm có hoạt động môi trường tốt nhất được cấp nhãn
sinh thái loại I
tất cả các mối nguy tiềm tàng và các biện pháp phòng ngừa đối với các mối
nguy đó cho mỗi sản phẩm cụ thể từ khâu nguyên liệu đến sản phẩm cuối
9
cùng. Kết quả của việc phân tích này tốt nhất nên được thể hiện ngay trên sơ
đồ của quá trình sản xuất.
Nguyên tắc 2: Nhận biết các điểm kiểm soát quan trọng trong quá trình:
Khi tất cả các mối nguy và các biện pháp phòng ngừa đã được nhận biết và
được lập thành văn bản thì nhóm HACCP cần xác định xem công đoạn nào
cần phải có các biện pháp kiểm soát đặc biệt để đảm bảo độ an toàn của sản
phẩm. Những công đoạn này khi đó được gọi là các kiểm soát quan trọng
(CCP).
Nguyên tắc 3: thiết lập các ngưỡng tới hạn cho các CCP: Các ngưỡng
tới hạn này là các giới hạn tuyệt đối, nó là ranh giới phân biệt giữa sự an toàn
và mất an toàn của sản phẩm. Do vậy, ngưỡng tới hạn này phải là một đại
lượng có thể đo được. Các ngưỡng tới hạn này được nhóm HACCP đặt ra sau
khi xem xét, cân nhắc đến mức độ rủi ro có thể xảy ra cho thực phẩm.
Nguyên tắc 4: Xác định các thủ tục giám sát và tần suất giám sát.
Nhóm HACCP cần phải xác định rõ trách nhiệm và các hoạt động cụ thể để
thực hiện nguyên tắc này.
Nguyên tắc 5: Các thủ tục tiến hành khắc phục phòng ngừa khi giới hạn
tại các điểm CCP bị vi phạm: Đôi khi trong quá trình sản xuất, các giới hạn
tại các điểm CCP bị vi phạm. Khi đó các hành động khắc phục cần phải được
thực hiện để đưa quá trình trở về dưới sự kiểm soát và các biện pháp xử lý đối
với các sản phẩm đã được sản xuất ra trong lúc quá trình bị vi phạm, cũng cần
phải được lập thành văn bản.
Nguyên tắc 6: Thiết lập các thủ tục lưu giữ hồ sơ của hệ thống HACCP:
Nguyên tắc 6 đảm bảo rằng hoạt động đảm bảo an toàn trong sản xuất thực
phẩm có thể được thể hiện với bên ngoài và có thể truy xét khi cần thiết. Nó
10
cũng duy trì các bằng chứng khách quan về những gì đã xảy ra có thể chấp
những nguyên tắc được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an
toàn, sạch sẽ, thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như
chất độc sinh học (vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng) và hóa chất (dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, hàm lượng nitrat), đồng thời sản phẩm
phải đảm bảo an toàn tư ngoài đồng đến khi sử dụng.
GAP bao gồm việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, việc sử
dụng đất đai, phân bón, nước, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hái, đóng gói, tồn
trữ, vệ sinh đồng ruộng và vận chuyển sản phẩm,v.v… nhằm phát triển nền
nông nghiệp bền vững với mục đích đảm bảo :
+ An toàn cho thực phẩm
+ An toàn cho người sản xuất
+ Bảo vệ môi trường
+ Truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm
2.5.2. Các tiêu chí của tiêu chuẩn GAP về thực phẩm an toàn
Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất
Mục đích là càng sử dụng ít thuốc BVTV càng tốt, nhằm làm giảm
thiểu ảnh hưởng của dư lượng hóa chất lên con người và môi trường.
+ Quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp (Intergrated Pest Management =IPM)
+ Quản lý mùa vụ tổng hợp (Intergrated Crop Management =ICM)
+ Giảm thiểu dư lượng hóa chất (MRL=Maximum Residue Limits)
trong sản phẩm.
Tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm
Các tiêu chuẩn này gồm các biện pháp để đảm bảo không có hóa chất,
nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch:
+ Nguy cơ nhiễm sinh học: virus, vi khuẩn, nấm mốc
12
+ Nguy cơ hóa học
+ Nguy cơ về vật lý
Môi trường làm việc
Mục đích là để ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân:
tại địa phương.
- Về môi trường: các trại nuôi phải đảm bảo các yêu cầu bảo vệ rừng
ngập mặn: trong trường hợp cần thiết và được phép chặt rừng thì trại phải
trồng lại gấp 3 lần diện tích rừng đã bị chặt. Quản lý chất lượng nước: Các
trại nuôi định kỳ giám sát chất lượng nước theo quy định đáp ứng các tiêu
chuẩn BAP. Các chỉ tiêu về chất lượng nước phải đáp ứng cả tiêu chuẩn BAP
và tiêu chuẩn theo quy định của địa phương. Các trại nuôi phải thực hiện tiêu
chuẩn BAP cuối cùng trong vòng 5 năm. Quản lý chất thải rắn: từ các ao
nuôi, kênh mương và các ao lắng, không làm mặn hoá hoặc gây hại tới hệ
sinh thái của đất và nước ở vùng xung quanh. Bảo vệ đất và nước: Xây dựng
trại và các hoạt động sản xuất không được làm mặn hoá đất và nước hoặc làm
suy kiệt nguồn nước ngầm ở khu vực xung quanh. Nguồn giống: không được
sử dụng con giống thu ngoài tự nhiên và phải tuân theo các quy định của
chính phủ về nhập tôm giống có nguồn gốc bản địa hoặc giống ngoại nhập.
Bảo quản và huỷ bỏ hàng hoá của trại nuôi: Nhiên liệu, dầu nhờn, hoá chất
nông nghiệp được bảo quản và huỷ bỏ một cách an toàn và có trách nhiệm.
- An toàn thực phẩm:
Quản lý thuốc và hoá chất: Không được sử dụng những thuốc kháng
sinh và các hoá chất khác bị cấm. Thuốc dùng để chữa bệnh được sử dụng
theo hướng dẫn ghi trên nhãn sản phẩm để kiểm soát những bệnh đã được xác
định hoặc theo nhu cầu quản lý ao, không nhằm các mục đích phòng ngừa
14
bệnh. Tôm sẽ được kiểm tra định kỳ các dư lượng thuốc trừ sâu, PCBs và các
kim loại nặng đã được khẳng định là có trong môi trường xung quanh.
Vệ sinh phòng bệnh do vi khuẩn: Không được dùng chất thải của người
và phân động vật chưa qua xử lý cho các ao nuôi tôm. Phải xử lý nước thải
của trại để không làm ô nhiễm khu vực xung quanh.
Thu hoạch và vận chuyển: Tôm được thu hoạch và vận chuyển trong
điều kiện nhiệt độ được kiểm soát, giảm tối đa tổn hại đến thân tôm và nhiễm
bẩn. Trường hợp xử lý bằng sulfite hoặc các chất gây dị ứng khác phải được
bao bì và phế thải bao bì nhằm mục đích hạn chế tối thiểu lượng phế thải bao
bì từ nguồn rác thải sinh hoạt để bảo vệ môi trường sinh thái.
Chỉ thị quy định tỷ lệ kim loại nặng tối đa trong bao bì và đưa ra những
yêu cầu đối với quá trình sản xuất và thành phần của bao bì. Quá trình sản
xuất và thành phần của bảo bì phải tuân theo các yêu cầu sau:
• Bao bì phải được sản xuất theo cách sao cho có thể tích và khối lượng
được giới hạn đến mức tối thiểu nhằm duy trì mức an toàn, vệ sinh
cần thiết đối với sản xuất sản phẩm có bao bì và đối với người tiêu
dùng.
• Bao bì phải được thiết kế, sản xuất, buôn bán theo cách thức cho phép
tái sử dụng hay thu hồi, bao gồm tái chế và hạn chế đến mức tối thiểu
tác động đối với môi trường khi chất phế thải bao bì bị bỏ đi.
• Bao bì phải được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt của
nguyên liệu và chất độc hại do sự phát xạ, tro tàn khi đốt cháy hay chôn
bao bì, chất cặn bã.
Đối với bao bì có thể tái sử dụng, ngoài việc tuân thủ các yêu cầu nêu trên còn
phải đáp ứng được các yêu cầu dưới đây:
16
• Tính chất vật lý và các đặc trưng của bao bì phải được cho phép sử dụng một
số lần nhất định trong điều kiện sử dụng được dự đoán trước là bình thường.
• Quá trình sản xuất bao bì phải đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao
động
• Phải đáp ứng các yêu cầu đặc biệt về thu hồi bao bì khi bao bì không
được tái sử dụng trong thời gian và trở thành phế thải.
Đối với việc thu hồi và tái chế bao bì phải tuân thủ theo các quy định sau:
• Bao bì thu hồi ở dạng vật liệu tái sử dụng được thì phải được sản xuất theo
cách làm để nó có thể chiếm một tỷ lệ phần trăm khối lượng vật liệu được
dùng vào việc sản xuất thành những sản phẩm có thể bán được, chỉ cốt sao
phù hợp với các tiêu chuẩn hiện hành của châu Âu. Việc định ra tỷ lệ này
có thể khác nhau, phụ thuộc vào loại vật liệu làm bao bì.
II. VAI TRÒ CỦA CÁC TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC NÂNG CAO
SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA XUẤT KHẨU
1. Một số khái niệm cơ bản về hàng hóa, sức cạnh tranh của hàng hóa
1.1. Hàng hóa
Hàng hóa hiểu theo nghĩa hẹp là vật chất tồn tại có hình dáng xác định
trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được. Theo nghĩa rộng, hàng
hóa là tất cả những gì có thể trao đổi và mua bán được.
Theo Điều 3, Luật Thương mại 2005, hàng hóa bao gồm
+ Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai
+ Những vật gắn liền với đất đai
1.2. Sức cạnh tranh của hàng hóa
Cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh có thể hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay
gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng
hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng, thông qua đó tiêu thụ được
hàng hóa và thu được lợi nhuận cao, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất
phát triển. Cạnh tranh có thể đem lại lợi ích cho cá nhân, doanh nghiệp này
nhưng gây thiệt hại cho các nhân, doanh nghiệp khác. Song, xét dưới giác độ
lợi ích toàn xã hội, cạnh tranh có tác động tích cực, là phương thức phân bổ
các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc
đẩy nền kinh tế phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và
phát triển được, các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải luôn nâng
cao sức cạnh tranh của mình để giành được ưu thế tương đối so với đối thủ.
Có 3 cấp độ cạnh tranh: sức cạnh tranh quốc gia, sức cạnh tranh của
doanh nghiệp và sức cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ.
Sức cạnh tranh của hàng hóa
Sức cạnh tranh của hàng hóa là “sức mạnh” hoặc “tính vượt trội” của
hàng hóa đó trên thị trường, nó có thể thay thế hàng hóa cùng loại do doanh
19
nghiệp khác cung cấp để chiếm lấy vị trí thống lĩnh tại cùng một thời điểm.
Những chứng chỉ, công nhận, nhãn sinh thái do các tổ chức cấp cho hàng hóa
là bằng chứng xác thực uy tín của hàng hóa, tạo niềm tin cho người tiêu dùng.
Người tiêu dùng, nhà nhập khẩu sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm có
uy tín cao. Thông thường, những hàng hóa an toàn với môi trường thì cũng an
toàn đối với sức khỏe của con người. Thực phẩm, hải sản không chứa chất
bảo quản có hại, không vượt hàm lượng kháng sinh, chè, cà phê, hay rau
không chứa thuốc bảo vệ thực vật vượt quá hàm lượng cho phép,… với sự
chứng nhận của các tổ chức về an toàn vệ sinh thực phẩm hay tổ chức bảo vệ
môi trường tạo niềm tin cho người tiêu dùng, khuyến khích họ sử dụng các
sản phẩm so với những sản phẩm cùng loại khác chưa được chứng nhận.
2.3. Tiêu chuẩn môi trường góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của
doanh nghiệp, của quốc gia trên trường quốc tế
Vấn đề bảo vệ môi trường hiện được cả thế giới quan tâm, vì vậy,
những doanh nghiệp, quốc gia chú trọng, áp dụng tốt các tiêu chuẩn môi
trường trong quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa sẽ được mọi người quan
tâm, hưởng ứng. Người tiêu dùng biết đến các doanh nghiệp hay quốc gia đó
với tư cách là doanh nghiệp sản xuất sạch hay thân thiện với môi trường. Đó
cũng là một hình thức quảng bá thương hiệu, một cách định vị mới. Một khi
vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thế giới được nâng cao, được nhiều
người biết đến, điều tất nhiên là hàng hóa do các doanh nghiệp, công ty này
sản xuất sẽ có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường.
2.4. Tiêu chuẩn môi trường giúp giảm chi phí sản xuất và kinh doanh
Theo quan niệm thông thường, việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường
sẽ làm tăng chi phí sản xuất sản phẩm do phải đầu tư vào công nghệ máy
móc. Tuy nhiên, đây là khoản đầu tư cố định ban đầu, là vốn bỏ ra nhưng
trong thời gian lâu dài, việc triển khai hiệu quả sẽ đem lại lợi ích to lớn. Quy
21
trình sản xuất mới, công nghệ mới, chương trình quản lý môi trường giúp tiết
kiệm nguồn nguyên liệu đầu vào, tiết kiệm điện, nước, giảm lượng khí thải,
rác thải ra môi trường, giúp doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm có sức
hơn. Ở phạm vi quốc gia, những doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn môi
trường, có những hành động thiết thực bảo vệ môi trường trong quá trình sản
xuất, được cấp các chứng chỉ như ISO 14000, HACCP sẽ được nhà nước ưu
đãi hơn trong việc cấp tín dụng, giảm lãi suất. Nhờ đó họ có điều kiện cải
thiện công nghệ sản xuất, chế biến, cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng
sản phẩm, thúc đẩy xuất khẩu. Ở bình diện quốc tế, những quốc gia có ý thức,
nỗ lực trong viêc áp dụng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sẽ được các tổ
chức tài chính quốc tế IMF, WB ghi nhận, hỗ trợ vốn, công nghệ, nâng vị thế
cạnh tranh trên trường quốc tế, mở đường cho hàng hóa xuất khẩu
3. Một số tác động tiêu cực của các tiêu chuẩn môi trường đối với sức
cạnh tranh của hàng hóa
Mọi vấn đề đều có 2 mặt của nó, bên cạnh những tác động tích cực,
trên một số phương diện, và trong một vài trường hợp, các tiêu chuẩn môi
trường lại có tác động tiêu cực đối với xuất khẩu hàng hóa.
3.1. Áp dụng các tiêu chuẩn môi trường có thể làm tăng chi phí sản xuất
của sản phẩm.
Để có thể triển khai áp dụng tiêu chuẩn môi trường như ISO 14000,
HACCP đòi hỏi phải đầu tư khoa học công nghệ, quy trình sản xuất sạch. Đây
là những khoản đầu tư cố định ban đầu tương đối lớn. Ngoài ra còn phải mất
một khoản vào việc thuê chuyên gia tư vấn, đào tạo cán bộ, tất cả những
khoản này đều được tính vào chi phí sản xuất sản phẩm. Vì vậy, đối với các
nước đang phát triển, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc triển khai áp dụng
công nghệ sản xuất sạch là điều không đơn giản.
23
3.2. Các tiêu chuẩn môi trường có thể tạo rào cản trong thương mại quốc
tế
Về bản chất các tiêu chuẩn môi trường xuất phát từ ý thức bảo vệ môi
trường với mục đích trong sáng. Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại, nhiều
quốc gia lại xem nó như một rào cản hữu hiệu để bảo hộ hàng hóa trong nước.
Việc bảo hộ mậu dịch thông qua các hàng rào phi thuế quan đang được nhiều
một cố gắng của Indonesia trong việc thích nghi dần với môi trường cạnh
tranh mới. Nhãn hiệu sinh thái quốc gia Indonesia cấp cho các sản phẩm gỗ
và các sản phẩm có nguồn gốc đa dạng sinh học khác. Điều này đã hạn chế
được sức ép nhập khẩu gỗ từ Indonesia. Hiện tại ở Indonesia đã sử dụng hai
loại nhãn đối với sản phẩm gỗ: (1) dán nhãn toàn bộ căn cứ vào việc phân tích
toàn bộ vòng đời sản phẩm. Tức là đánh giá tác động môi trường của sản
phẩm đó từ khi còn là nguyên liệu thô cho đến khi trở thành phế liệu và (2)
Nhãn sinh học đơn, tức là chỉ xác định ảnh hưởng môi trường của sản phẩm
tại một giai đoạn nhất định. Tuy nhiên việc áp dụng này đã làm hạn chế
thương mại ngành gỗ do tăng chi phí ở khâu chứng nhận mác sinh học và
kiểm định chất lượng rừng trồng.
Riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt
hải sản, Indonesia ngoài việc quan tâm tới việc nâng cao chất lượng, đa dạng
hoá sản phẩm, còn đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường và bảo tồn
tài nguyên thiên nhiên. Indonesia đã có những chính sách, biện pháp mạnh và
đồng bộ để quản lý hoạt động nuôi trồng và chế biến nông, thuỷ sản, hạn chế
tối đa mức ô nhiễm môi trường để đảm bảo sức khoẻ cho người dân, nâng cao
25