giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần tập đoàn hipt - Pdf 21

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trên thị trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, các
công ty luôn phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phù
hợp. Quá trình đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam cũng cho
thấy, doanh nghiệp nào xây dựng và thực thi tốt chính sách quản lý và sử dụng
tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao, sản phẩm mới có tính
cạnh tranh. Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả luôn là vấn
đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn
phát đạt còn không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản.
Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứ
không phải chỉ do quản trị vốn lưu động tồi. Nhưng thực tế thì sự bất lực của một
số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản ngắn hạn
và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng
của họ.
Trong thời gian qua, mặc dù công ty cổ phần tập đoàn HiPT đã có nhiều
cố gắng trong việc quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn,
công ty có lợi nhuận tăng. Nhưng kết quả cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn
còn có nhiều điểm chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn
chưa cao. Mặc dù mục tiêu hiệu quả đạt được của các doanh nghiệp là khác nhau
nhưng tất cả đều hướng tới đạt được lợi nhuận cao nhất, đứng trước tình hình
như hiện nay công ty phải tìm cách để khắc phục tình trạng đó, đẩy nhanh công
tác hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty
mình trong thời gian tới.
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Do tầm quan trọng của vấn đề và quá trình tìm hiểu tình hình thực tế tại
công ty cổ phần tập đoàn HiPT, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng

những ngành nghề mà pháp luật không cấm cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình
đằng và cạnh tranh theo pháp luật.
Có nhiều chủ thế tham gia vào nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta.
Nhóm chủ thể kinh doanh quan trọng nhất là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của
pháp luật kinh tế đó là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, loại chủ
thể thứ hai là các hộ kinh doanh cá thể. Hộ kinh doanh cá thể tuy số lượng lớn
nhưng cần thiết trong điều kiện hiện tại của nền kinh tế hiện nay, song quy mô
và phạm vi kinh doanh nhỏ, thường là hộ gia đình hoạt động trong phạm vi quận
huyện. Ngoài ra còn có những người kinh doanh nhỏ, thường là các cá nhân và
người kinh doanh lưu động và không ổn định về địa điểm mặt hàng hay dịch vụ.
Theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh- tức là thực hiện
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
3
Chuyên đề tốt nghiệp
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy thuật ngữ doanh nghiệp dùng để chỉ một chủ thể kinh doanh độc
lập có đủ những đặc trưng pháp lý và thoả mãn những điều kiện do pháp luật
quyđịnh.Trong thực tế doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới nhiều mô
hình cụ thể với nhiều tên gọi khác nhau.
1.1.2. Phân loại
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp theo các tiêu chí khác nhau.
1.1.2.1. Phân loại theo nguồn gốc tài sản đầu từ vào doanh nghiệp( hình
thức sở hữu tài sản).
Theo tiêu chí này doanh nghiệp nước ta được chia thành :
• Công ty
Doanh nghiệp tổ chức theo mô hình công ty bao gồm: công ty cổ phần,
công ty TNHH, công ty hợp danh .

1.1.2.3.Phân loại theo hình thức pháp lý của các tổ chức kinh doanh
Nếu xem xét doanh nghiệp từ ý nghĩa là một chủ thể pháp lý và từ thực
tiễn Việt nam khái quát lại có các mô hình cơ bản là:
• Công ty cổ phần
• Công ty TNHH: công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH
có từ hai thành viên trở lên.
• Công ty hợp danh
• Doanh nghiệp tư nhân
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Các công ty Nhà nước, trước hết là công ty Nhà nước độc lập thực chất là
một loại hình công ty TNHH một thành viên.
1.2.Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản ngắn hạn.
Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có tư liệu sản
xuất mà nó bao gồm hai bộ phận là tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái vật
chất không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quá trình sản
xuất thì đối tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất
đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động khác.
Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp
thành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh, một số
khác bị mất đi như các loại nhiên liệu. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào
cũng cần phải có các đối tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu
cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá
trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn
được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu

Tài sản ngắn hạn dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu
dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao
gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi
đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia
công, trả trước cho người bán.
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản
chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán,
các khoản nợ phải thu của khách hàng.
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định
được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để
đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một
cách cao nhất.
1.2.1.2.2. Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn
bao gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và
tài sản ngắn hạn khác.
Tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng.
Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định,
trả tiền thuế, trả nợ.
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền
mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất.

Bán những chứng
khoán thanh khoản
cao để bổ sung cho
tiền mặt.
Dòng thu tiền
mặt
Tiền mặt Dòng chi tiền
mặt
Chuyên đề tốt nghiệp
lúc bán mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành
nên các khoản phải thu của doanh nghiệp.
Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng
thương mại. Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị
trường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý không
cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn
thâm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
Hàng tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh
doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần
thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình
sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp
không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên
vật liệu dự trữ.
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò
rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. Tuy nhiên
nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí nếu sản
phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá

Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và
chi phí giao nhận hàng hóa. Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho
mỗi lần đặt hàng. Chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
11
Chuyên đề tốt nghiệp
định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng thường biến động
theo số lượng hàng được mua. Tuy nhiên, trong mô hình quản lý hàng tồn kho
đơn giản EOQ( sẽ được trình bày ở phần dưới đây) giả định rằng chi phí cho mỗi
lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng hóa được mua.
Chi phí tồn trữ
Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng trong kho trong một
khoảng thời gian xác định trước. Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi
đơn vị hàng lưu kho hoặc xác định bằng tỷ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một
chu kỳ. Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản,
chi phí về thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho và chi phí
thiệt hại do hàng đang có trong kho bị lỗi thời…
Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết
Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp
không có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có
trong kho. Ví dụ, nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại sẽ bao gồm
chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng sản xuất. Khi sản phẩm
dở dang tồn kho bị hết thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất kinh
doanh bị thay đổi, gây nên thiệt hại do ngưng trệ sản xuất và phát sinh chi phí.
Khi thành phẩm, hàng hóa tồn kho hết có thể gây ra hậu quả là lợi nhuận bị mất
trong ngắn hạn kho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nên
những mất mát tiềm năng trong dài hạn.
• Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hang tồn kho mang tính định lượng
được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sở

Chuyên đề tốt nghiệp
Gọi T là tổng chi phí thì : T=
xO
Q
S
xC
Q
+
2
Hình 1.2. Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ và chi phí đặt
hàng tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho
Gọi Q* là lượng hàng tồn trữ tối ưu tức tại Q* là lượng hàng cho chi phí thấp
nhất dẫn đến: Q* =
C
SO2
Nếu gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng
hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày, tức
S/365 ( giả định một năm có 365 ngày), đơn vị tính ngày.
Ta có công thức sau: T* =
365/
*
S
Q
Công thức trên cũng có thể được viết lại như sau: T* =
S
xQ *365
• Mô hình EOQ mở rộng
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
14
Chuyên đề tốt nghiệp

15
Chuyên đề tốt nghiệp
nhà cung cấp bán với giá chiết khấu do đó doanh nghiệp sản xuất sẽ tiết kiệm
được một khoản chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất ra, tiết kiệm
được chi phí trên mỗi đơn vị khi thực hiện đơn hàng và mỗi đơn vị trong quá
trình vận chuyển. Nhiều doanh nghiệp khuyến khích khách hang của họ đặt một
đơn hàng số lượng lớn bằng cách dành cho họ một tỷ lệ chiết khấu và được gọi
là chiết khấu theo số lượng.
Trước hết ta có mô hình EOQ đã trình bày ở trên. Kế đó, ta tính toán mức
sinh lợi ròng hàng năm khi số lượng đặt hàng được gia tăng từ mức tồn kho EOQ
lên mức đặt hàng cần thiết để có thể nhận được khoản chiết khấu. Nếu mức sinh
lời ròng tăng thêm hàng năm là số dương thì số lượng đặt hàng tối ưu là số lượng
đặt hàng cần thiết để có thể được hưởng chiết khấu. Nếu không, số lượng đặt
hàng tối ưu sẽ là giá trị EOQ.
Mô hình kiểm soát hàng tồn kho theo rủi ro
Trong mô hình EOQ, việc phân tích dựa trên những giả định. Tuy nhiên,
trong thực tế hầu hết các vấn đề phát sinh trong quản lý hàng tồn kho là những
giả định này lúc nào cũng diễn ra đúng như vậy. Thường thì nhu cầu hàng tồn
kho biến động theo mùa vụ hay biến động có tính chất chu kỳ hoặc biến động
bởi những ảnh hưởng ngẫu nhiên và những dự báo không chính xác mức cầu
hàng tồn kho trong tương lai. Với những tác động như vậy, khả năng thiếu hụt
hàng tồn kho là hoàn toàn có thể xảy ra. Để khắc phục sự thiệt hại trong những
trường hợp như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng cách thức bổ sung một
lượng hàng tồn kho an toàn để sẵn sàng đáp ứng trước những biến động bất
thường đó.
Phương pháp cung cấp đúng lúc hay dự trữ bằng 0
Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc là một phần của quá trình quản lý
sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
16

Có sự giống nhau giữa mô hình quản lý tiền mặt và mô hình quản lý hàng tồn
kho. Thật vậy, về hình thức tiền mặt cũng giống như hàng tồn kho vì cả hai đều
là nguyên vật liệu dùng trong sản xuất. William Baumol là người đầu tiên phát
hiện mô hình hàng tồn kho đơn giản có thể vân dụng cho mô hình quản lý tiền
mặt. Giả sử bạn đang lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hoá đơn thanh toán, khi
tiền mặt xuống thấp bạn sẽ bổ sung bằng cách bán các chứng khoán. Chi phí tồn
trữ chủ yếu trong trường hợp này chính là lãi suất mà bạn mất đi. Các chi phí đặt
hang chính là chi phí hành chính quản trị cho mỗi lần bán chứng khoán.
Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất
đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hang tồn
kho. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp
dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) như sau:
M* =
i
xCxM
bn
2
Trong đó:
M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
M
n
: Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i : Lãi suất.
Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm
giữ số dư bình quân tiền mặt thấp hơn và do đó làm cho doanh số bán chứng
khoán nhỏ hơn nhưng với tần suất bán nhiều hơn( nghĩa là M* thấp hơn ). Mặt
khác, nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên
nắm giữ một số tiền mặt lớn hơn.
Mô hình Baumol cho thấy số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định

Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
19
Chuyên đề tốt nghiệp
ngân quỹ là tổng các bình phng (độ chênh lệch ) của thu chi ngân quỹ thực tế
càng có xu hướng khác biệt nhiều so với thu chi bình quân. Khi đó doanh nghiệp
cũng sẽ quy định khoảng dao động tiền mặt cao.
- Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán. Khi chi phí này lớn
người ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiền mặt
cũng lớn.
- Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ lại ít tiền và do vậy khoảng
dao động tiền mặt sẽ giảm xuống.
Hình 1.3. Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian
Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau:
D = 3x
3
4
3
xi
xVxC
bb
Trong đó:
D : Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt
dự trữ.
C
b
: Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán
V
b
: Phương sai của thu chi ngân quỹ
i : Lãi suất.

Chuyên đề tốt nghiệp
• Chính sách tín dụng thưong mại
Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến
lược về sản phẩm, quảng cáo, giá cả, giao hàng và các dịch vụ hậu mãi … để
cạnh tranh với các đối tác.Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường việc mua bán
chịu hàng hoá, dich vụ là việc bình thường, tín dụng thương mại có thể đem đến
cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh
doanh. Chính sách tín dụng thương mại có những tác động cơ bản sau:
+ Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hoá
hơn, do đó làm tăng doanh thu và giảm chi phí tồn kho.
+ Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hoá sản xuất ra, do đó góp
phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản.
+ Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi
phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ.
+ Nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng cao và làm cho lợi
nhuận bị giảm.
Với những tác động trên ,buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải so sánh
hiệu quả thu nhập và chi phí tăng thêm để xem có nên áp dụng chính sách
thương mại hay không? Nếu có thì các ràng buộc trong chính sách tín dụng
thương mại như thế nào là tốt nhất?
• Phân tích tín dụng thương mại
- Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng
Để thực hiện việc cấp tín dụng thì quan trọng nhất là phải phân tích khả
năng tín dụng của khách hàng. Khả năng tín dụng của khách hàng có thể được
xây dựng thông qua các tiêu chuẩn sau: phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả
nợ, các tài sản có thể thế chấp, nguồn vốn kinh doanh của khách hàng… Nếu
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
22
Chuyên đề tốt nghiệp
khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với một số tiêu chuẩn đó thì tín dụng

số doanh nghiệp được sử dụng còn tùy tiện, kém hiệu quả đặc biệt là ở các doanh
nghiệp nhà nước. Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn hiện nay luôn là yêu
cầu mang tính cấp thiết đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan
tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại
trên thị trường. Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố
gắng và có những chiến lược sách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản
phẩm được đến tay người tiêu dùng.
Mục đích cuối cùng của họ bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu mà
họ đề ra . Chính vì vậy quan niệm hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là khác nhau.
Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn đề chung mà các doanh nghiệp
đều phải quan tâm chú trọng đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản
trong doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạt
động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chi
phí.
Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tài sản
cũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực chế biến hay công
nghiệp nặng thì (tỷ lệ) tài sản cố định chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị
Đinh Quang Hoà Lớp Tài chính 46Q
24
Chuyên đề tốt nghiệp
tài sản, ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương mại thì tài sản ngắn hạn
lại chiếm đa số.
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì tài sản ngắn hạn đóng một
vai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụng
các loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status