Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy - Pdf 21

Câu 1: Anh (chị) hãy chứng minh rằng ngôn ngữ là tấm gương của nền văn hóa dân tộc.
Cùng với khoa học - công nghệ và giáo dục - đào tạo, các hoạt động văn hoá - văn nghệ
có vị trí quan trọng trong việc xây dựng một xã hội phát triển, làm phong phú đời sống tinh thần
con người, đưa dân tộc đến sự văn minh…Trong số đó, văn hoá là nền tảng xã hội, là động lực
thúc đẩy dân tộc phát triển theo hướng an sinh, bền vững. Văn hoá thể hiện trong mọi lĩnh vực
của đời sống. Các phương thức biểu hiện, lưu giữ và truyền đạt văn hoá rất phong phú và đa
dạng. Trong số đó, nổi bật và tiêu biểu là ngôn ngữ .
Định nghĩa Văn hóa:
Từ điển bách khoa Xô Viết: “ Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần
được con người sinh ra và được phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự nhiên”
Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy
qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội.
Các thành tố của văn hóa gồm: Thành tố văn hóa nhận thức- thành tố văn hóa tổ chức
cộng đồng (bao gồm: Tổ chức đời sống tập thể và Tổ chức đời sống cá nhân); Thành tố văn hóa
ứng xử với môi trường tự nhiên; Thành tố văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Hai đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam là thực vật và sông nước.

Chính sự đa dạng của môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên là yếu tố góp phần tạo nên
sự đa dạng trong nền văn hoá của người Việt. Trong đó, nổi lên là hai sắc thái văn hoá mang
tính điển hình của Việt Nam: Sông nước và thực vật.
Trước hết, đất nước ta ở trong một môi trường tự nhiên nước, sông nước bao quanh con
người; yếu tố này chiếm vị trí đặc biệt, chi phối, ảnh hưởng đến nhiều mặt trong cuộc sống xã
hội.
Thứ hai, điều kiện thiên nhiên bao quanh xã hội luôn gắn liền với môi trường thực
vật, làm thành đặc trưng văn hoá thuần Việt. Lúa là cây lương thực chủ yếu, nhưng ngoài ra còn
có nhiều cây khác được chăm sóc, thuần dưỡng nuôi sống con người, như: ngô, khoai, sắn, đậu,
lạc, vừng… Trên mặt đất, bao quanh nơi ở con người là “xanh muôn ngàn cây lá khác nhau”,
đặc biệt là tre, hóp, mây, nứa, cam chanh, bưởi, hồng, khế, bầu bí… “Dưới bóng tre xanh, người
dân cày Việt Nam trồng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang” (Thép Mới). Và cũng dưới bóng
tre xanh, nhân dân ta “gìn giữ một nền văn hoá lâu đời”, đó là: tục thờ cây, thờ cúng người chết

đều có hai lớp từ ngữ xét theo phương diện đặc trưng văn hóa- dân tộc của ý nghĩa. Một là các
từ ngữ chỉ cùng một hiện tượng hay những hiện tượng tương tự nhau tồn tại song song trong
các nền văn hóa – ngôn ngữ nhưng có hàm nghĩa văn hóa khác nhau. Hai là các từ ngữ chỉ các
hiện tượng văn hóa đặc tồn , chỉ có ở dân tộc này mà không có ở những dân tộc khác, đó là các
đơn vị “đặc văn hóa”. Ví dụ từ “nhà” trong tiếng Việt chỉ “Ngôi nhà” Việt Nam không giống
nhà của Châu Âu hay Châu Phi. Nó mang những nét văn hóa Việt được thể hiện không chỉ ở
cách kiến trúc, mà còn ở cả những tình cảm mà người Việt đưa vào trong quan niệm về “ngôi
nhà” của mình. Nhà đối với người Việt là nơi che chở, đùm bọc, niềm hi vọng, sự đợi chờ. Đặc
biệt, “nhà” trong tiếng Việt còn được người chồng, người vợ dùng để gọi nhau với tình cảm rất
thân thương, trìu mến là “ nhà tôi” với hi vọng tìm thấy sự che chở, sự bảo vệ chắc chắn cho
bản thân mình khỏi những giông tố cuộc đời. Đối với lớp từ ngữ có nội dung ngữ nghĩa “đặc
văn hóa” thì mỗi đơn vị là một ô trống trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới của dân tộc này so
với dân tộc khác Ví dụ từ “ Việt”- dân tộc danh của người Việt. Việt vốn là tên gọi một loại
công cụ kiêm vũ khí của người Việt cổ, tức là cái rìu. Trong ngôn ngữ Nam Á cổ đại rìu được
phát âm gần với yit. Yit phiên âm qua tiếng Hán cổ rồi tiếng Hán lại được phiên âm trở lại theo
cách đọc Hán Việt thành Việt. Hiện nay có thể tìm thấy trong từ vựng tiếng Việt hiện đại từ phủ
Việt, trong đó từ tố việt nghĩa là rìu, còn từ tố phủ nghĩa là búa. Chữ Việt thời cổ là tượng hình
cái búa. Nước Việt vì sản xuất ra búa rìu nên lấy làm tên gọi.
Đặc trưng văn hóa- dân tộc của từ còn được biểu hiện đậm nét nhất trong ý nghĩa biểu
trưng của nó. Chẳng hạn người Nhật dùng lá dương xỉ để biểu trưng cho sự mong muốn có
nhiều thành đạt trong năm mới, còn lá quýt biểu trưng cho sự mong muốn lời nói của người
khác hóm hỉnh ý nhị, lá thông xanh quanh năm gắn với biểu tượng trường thọ, cây tre biểu
trương cho tính cứng cỏi và sức mạnh. Đối với người Nga cây Sồi biểu trưng cho sức mạnh và
sự hùng mạnh, cây Bạch Dương liên tưởng đến sự trong sạch…bungj con người được coi là
biểu tượng của ý nghĩ tình cẩm đối với người với việc
Bên cạnh những yếu tố kinh nghiệm lịch sử xã hội chung, trong ý nghĩa ngôn ngữ còn có cả
những yếu tố chỉ của riêng một nền văn hóa nhất định. Nói cách khác ngôn ngữ còn phản ánh
và lưu giữ cả những khái niệm, những đặc tồn đã được kinh nghiệm lịch sử của một dân tộc nào
đó tạo ra phù hợp với những điều kiện của đời sống lao động, văn hóa, xã hội của họ
Hai là, đặc trưng văn hóa- dân tộc trong sự phạm trù hóa hiện thực và “bức tranh

Ấn- Âu nói chung, tiếng Nga nói riêng, vốn thường được tạo ra theo kiểu hòa kết tổng hợp tính.
Bốn là, đặc trưng văn hóa- dân tộc trong sự chuyển nghĩa và nghĩa biểu trưng
Ý nghĩa chuyển trong các ngôn ngữ có thể có tính đặc thù dân tộc. Bởi vì sự liên
tưởng trong chuyển nghĩa vốn bị tiên định bởi điều kiện lịch sử, tâm lý cụ thể của một cộng
đồng văn hóa- ngôn ngữ đã dẫn đến ý nghĩa chuyển trong các ngôn ngữ có thể là không như
nhau. Đồng thời việc chọn đặc trưng của đối tượng làm cơ sở trong quá trình chuyển nghĩa bị
quy chiếu bởi những phẩm chất, thuộc tính của đối tượng được cộng đồng ngôn ngữ tập trung
chú ý đến. Mỗi cộng đồng ngôn ngữ sẽ chọn những đặc trưng khác nhau theo cách quan niệm
của riêng mình về đối tượng. Đặc trưng văn hóa- dân tộc trong sự chuyển nghĩa của từ biểu
hiện ở chỗ một số dạng chuyển nghĩa nào đó chỉ tồn tại trong ngôn ngữ này mà không có trong
ngôn ngữ khác Chẳng hạn cách chuyển nghĩa hoán dụ dựa trên quan hệ giữa âm thanh phát ra
và hành động hành động phát ra âm thanh đó: rơi bịch một cái và bịch vào ngực; nhắm mắt xuôi
tay (chết), khoanh tay (bất lực).
Sự vật và hiện tượng trong TGKQ có rất nhiều thuộc tính, đặc trưng khác
nhau. Chính những thuộc tính, đặc trưng này là cơ sở của các ý nghĩa chuyển (hay
nghĩa bóng, trong đó có cả các nghĩa biểu trưng) của tên gọi sự vật, hiện tượng. Đặc
trưng văn hóa- dân tộc được thể hiện rõ ràng nhất ở quá trình tạo ra các nghĩa chuyển này. Mỗi
cộng đồng ngôn ngữ sẽ chọn đặc trưng khác nhau theo cách quan niệm riêng của mình về đối
tượng để làm cơ sở cho sự chuyển nghĩa.
Đặc trưng văn hóa- dân tộc được thể hiện ở hiện tượng sử dụng biểu trưng một
biểu vật của từ như sau: Mỗi sự vật, hiện tượng … bao giờ cũng có nhiều đặc trưng, nên
mỗi dân tộc có thể lấy cùng một vật để làm hình ảnh biểu trưng cho các đặc trưng khác
nhau này ở con người hay các lĩnh vực khác. Đồng thời nhiều sự vật khác nhau có thể có
những đặc trưng giống nhau, từ đó dẫn đến hiện tượng các dân tộc khác nhau sẽ sử dụng
sự vật khác nhau để làm hình ảnh biểu trưng cho cùng một đặc trưng nào đó. Chính điều
này đã tạo nên đặc trưng văn hóa- dân tộc của các hình ảnh biểu trưng.
Năm là, đặc trưng văn hóa dân tộc trong hiện tượng đồng nghĩa
Trong cùng một sự vật hiện tượng, tư duy của con người khám phá ra những đặc trưng
khác nhau. Mỗi đặc trưng có thể được liên tưởng với đặc trưng tương tự của sự vật hay hiện
tượng khác đã có tên gọi trong ngôn ngữ. Từ đó mà sự vật mang những tên gọi khác nhau.

Việc nghiên cứu tư duy được nhiều ngành khoa học tiến hành trong phạm vi những cách
tiếp cận khác nhau: triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học, điều khiển học…. Nhiều nhà nghiên
cứu nhấn mạnh rằng quan niệm nghiên cứu tư duy ngôn ngữ phù hợp nhất là lý thuyết tâm lý
học chung về hoạt động.
1. Định nghĩa khái niệm “ tư duy”
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển bách khoa. Hà Nội.
2005); Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt -bộ não người.
Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý
luận…
Sự đa dạng về cách tiếp cận và tính phức tạp của bản thân đối tượng được nghiên cứu đã
dẫn đến thuật ngữ tư duy thường được dùng theo những ý nghĩa khác nhau chỉ ghi lại một số
đặc trưng nào đó của nó. Do vậy điều hữu ích là tách ra ba ý nghĩa thường dùng nhất của thuật
ngữ này:
+ Tư duy như một sự hiểu biết ( sự hiểu biết khái niệm, tư tưởng- khác với cảm giác)
+ Tư duy là một quá trình mà nhờ nó có thể đạt được sự hiểu biết mới( như là sự nhận
thức, chuyển từ chưa biết sang biết)
+ Tư duy là một trong những khả năng của con người (lí trí- khác với tình cảm, ý chí
v.v…)
Trong phạm vi nghiên cưứ này thuật ngữ “ tư duy” sẽ được sử dụng theo nghĩa thứ 2-
như một quá trình để đạt sự hiểu biết mới.
2. Nguồn gốc và cấu trúc của tư duy:
- Hoạt động tư duy được phát sinh từ hoạt động thực tiễn của con người và cấu trúc
đẳng cấu với hoạt động thực tiễn của con người.
- Do cách tiếp cận hoạt động đối với tư duy, cụ thể là quan niệm tư duy như một hoạt
động đặc biệt, cho phép coi tư duy không chỉ là sản phẩm của hiện thực khách qua, mà
còn là sản phẩm của QH giữa con người với hiện thực, bởi lẽ QH con người với hiện
thực khách quan được thể hiện như một hoạt động. Vì thế, các quy luật của tư duy ở con
người là các quy luật của hiện tượng xã hội có hình thức tồn tại chủ quan.
- Giữa hoạt động bên ngoài và hoạt động bằng bên trong( tức tư duy) còn có sự đẳng cấu
về cấu trúc. Đó là hệ quả của việc chuyển các đặc điểm của hoạt động bên ngoài, nghĩa

rõ nhất là thiên hướng “ ưa thích” hay sự nổi trội của kiểu tư duy nào đó, cách nói, cách
nghĩ nào đó ở một dân tộc nhất định.
* Biểu hiện: Qua nghiên cứu, đối chiếu trường từ vựng chỉ bộ phận cơ thể con người
trong hai NN Nga- Việt có thể khẳng định:
- Khuynh hướng sử dụng ẩn dụ trường tiếng Nga mạnh hơn so với trường tiếng Việt.
Điều này cho phép rút ra kết luận người bản ngữ tiếng Nga “ định hường” vào tư duy
logic, tư duy “ phạm trù”, còn người bản ngữ tiếng Việt thiên về tư duy hình tượng, cảm
giác, hành động- trực quan.
- Người Việt vốn có cả hai kiểu tư duy chuyển nghĩa là đánh đồng sự vật và con
người( nhân cách hóa) và đánh đồng một đối tượng bất động vật với động vật(linh hồn
hóa).VD: Bụng bảo dạ(quán ngữ), tay làm…( tục ngữ).
- Cơ cấu ngữ pháp của tiếng Việt như là cơ cấu “linh hồn hóa”. Trong cơ cấu đó giữ
chức năng chủ ngữ khi động từ ngoại động thường dùng các danh từ biểu thị đối tượng
bất động vật hoặc khái niệm trừu tượng nói chung và các tên gọi bộ phận cơ thể nói
riêng. Điều đó được xác nhận cả bằng việc sử dụng các loại từ. Trong câu tiếng Nga,
danh từ bất động vật thường đóng vai trò thành phần thứ yếu của câu có vị ngữ là động
từ ngoại động.
- Về mặt cú pháp: Phép cải dung được người Việt sử dụng nhiều hơn người Nga. Người
Việt sử dụng một cách phổ biến, tự nhiên chỉ một bộ phận cơ thể người hoặc động vật để
biểu thị toàn bộ cơ thể. Con người có thể được gọi tên theo đặc điểm trang phục hoặc các
dụng cụ hay được sử dụng.
- Trong trường từ vựng- ngữ nghĩa chỉ bộ phận cơ thể người của tiếng Việt, việc chỉ ra
bộ phận ( thay cho chỉnh thể) có thể xuất hiện ở các chức năng cú pháp khác nhau:
+ Chủ ngữ: Cử chỉ, hành động, cảm giác, tình cảm của con người có thể được miêu tả
hoặc là như cử chỉ, cảm giác… của toàn chủ thể, hoặc như hành động ( trạng thái) chỉ
của một bộ phận cơ thể nào đó liên quan trực tiếp với hành động( trạng thái) này. Chẳng
hạn : chị ấy đang mở cuốn tiểu thuyết và tay chị ấy đang mở cuốn tiểu thuyết. Cách diễn
đạt thư thái được tiếng Việt sử dụng tự nhiên và nhiều hơn so với tiếng Nga. Trong ca
dao, dân ca VN cũng thường có kiểu diễn đạt như vậy:
VD: Tay cầm bầu rượu năm nem

Theo F.de Sausure, “mối tương quan giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là võ
đoán” và ông “chỉ muốn nói rằng nó không có nguyên do, nghĩa là nó võ đoán đối với cái được
biểu hiện, vì trong thực tế nó không có một mối liên quan tự nhiên nào với cái đó”.
Phân tích và đánh giá ý kiến của F.de Sausure
- F.de Sausure đã đồng nhất hai chuyện: nguyên do gì mà người ta gọi một sự vật bằng
tên gọi nào đó và vấn đề lí do của tên gọi có nằm trong bản thân đối tượng hay không . Cùng
một khái niệm được phản ánh, nhưng người Việt Nam nói là “sách”, người Trung Quốc nói là
“shu”, người Nhật nói là “hon”, và người Anh nói là “book”? Rõ ràng, không có mối liên hệ
logic và tất yếu nào giữa âm thanh “sách” với khái niệm được biểu đạt cả. Đó là tính võ đoán
của ngôn ngữ. Nói tóm lại, tính võ đoán của ngôn ngữ là chỉ cái biểu hiện và cái được biểu hiện
không có mối quan hệ tất yếu nào, mà chỉ đơn thuần là do một nhóm người quy ước với nhau,
khi quy ước được chấp nhận rộng rãi, nó sẽ được cố định. Theo Saussure, tính võ đoán là đặc
trưng quan trọng nhất của ngôn ngữ
- Tham gia vào quá trình định danh gồm có hai tham tố: chủ thể định danh và đối tượng
được định danh. Với thao tác tâm lí định danh (phải chọn đặc trưng làm cơ sở cho tên gọi) thì
tất cả các tên gọi (hay kí hiệu ngôn ngữ) đều phải có nguyên do (hay là lí do).
Phụ thuộc vào chủ thể định danh và đối tượng được định danh sẽ có hai loại lí do khác
nhau: lí do chủ quan (phụ thuộc vào chủ thể định danh) và lí do khách quan (phụ thuộc vào đối
tượng được định danh).
Lí do khách quan- nghĩa là một đặc trưng, một thuộc tính nào đó của bản thân sự vật
được chọn để làm dấu hiệu khu biệt gọi tên nó- là loại lí do dễ thấy nhất.
Lí do chủ quan thì không phải ai cũng nhận thấy được. Chỉ có chủ thể định danh mới biết
được lí do tại sao dùng tên gọi này để gọi người hoặc sự vật này (nêu ví dụ).
Phân tích sai lầm trong quan điểm của F.de Sausure về mặt triết học
- Cần phân biệt hai phạm trù: “không có” và “ chưa biết”. Cái “chưa biết” không phải là
“không có”. Một lí do nào đó của tên gọi mà ta chưa tìm ra, nghĩa là chưa biết, hoàn toàn không
có nghĩa là tên gọi đó vốn không có lí do. Một từ nhất định được các thế hệ xa xưa dùng gọi tên
một sự vật dựa trên lí do nào đó cho đến nay tên gọi ấy vẫn được sử dụng như thế, nhưng thế hệ
bây giờ không còn biết được lí do thì điều này không có nghĩa là tên gọi ấy không có lí do nào
cả.

là chính bản thân khách thể hay bản thể ấy. Nhiều thuộc tính do nhận thức sai lầm về bản thể
mà có đã được quy gán coi là thuộc tính vốn có thực của bản thể được nhận thức. Chính điều
này đã dẫn đến những định hướng sai lầm trong việc chỉ đạo hoạt động thực tiễn, đặc biệt là
trong các hoạt động xã hội. Hậu quả của sự định hướng sai lầm ấy đã dẫn đến những hoạt động
mang tính chủ quan duy ý chí nhiều khi gây nên hậu quả khôn lường.
Phân biệt hai phạm trù nhận thức và bản thể
Trong lí luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của khoa học, cần
suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất
dịch và có sẵn… Khi tìm hiểu quá trình nhận thức, cần làm rõ quan hệ giữa chủ thể và khách
thể nhận thức.
Chủ thể nhận thức tiến hành một hoạt động nhận thức nào đó có thể là một cá nhân, một
tầng lớp, một giai cấp hay một dân tộc và cũng có thể là toàn nhân loại.
Khách thể nhận thức (hay là bản thể ) là một sự vật, hiện tượng nào đó, một bộ phận nào
đó của hiện thực nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức và trở thành đối tượng
của hoạt động nhận thức thuộc một chủ thể nhất định.
Như vậy, tri thức của một chủ thể nhận thức là sản phẩm (chủ quan) của hoạt động nhận
thức về những thuộc tính của các sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan với tư cách là những bản
thể.
Những sai lầm so lẫn lộn giữa các hiện tượng thuộc về nhận thức và bản thể trong
nghiên cứu ngôn ngữ và tư duy
Trong thực tế nghiên cứu ngôn ngữ học (và ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác của khoa
học nói chung, khoa học xã hội nói riêng), hiện tượng lẫn lộn giữa hai bình diện nhận thức và
bản thể đã xảy ra không hiếm. Ngoài ra, còn có cả sự sai lầm do chưa hiểu thấu được điều mà
V.I. Lênin đã chỉ ra được chúng tôi dẫn ở trên. Đó là sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức
và cái chưa được nhận thức. Cái chưa được nhận thức (và cả cái chưa nhận thức được) nhiều
khi đã bị lầm lẫn mà coi là cái không có, nghĩa là do bị lầm lẫn giữa hai bình diện nhận thức và
bản thể mà chủ thể nhận thức đã đánh đồng cái chưa được nhận thức(hoặc cái chưa nhận thức
được ấy (vốn thuộc bình diện nhận thức) với cái đã nhận thức được về trạng thái zêrô của thuộc
tính nào đó ở khách thể nhận thức (trạng thái zêrô hay không tồn tại của thuộc tính nào đó ở
khách thể nhận thức vốn thuộc bình diện bản thể). Nói một cách đơn giản hơn thì điều này có

trong ngôn ngữ gốc đã cho mượn tên gọi ấy.
Sai lầm thứ hai xảy ra do sự lầm lẫn giữa hai bình diện nhận thức và bản thể có thể
nhận thấy trong địa hạt nghiên cứu cấu tạo từ.
Cụ thể là ở đây, chúng ta thường thấy có sự lẫn lộn giữa từ láy với từ ghép có hình thức
ngữ âm được lặp lại ở các thành tố cấu tạo khiến cho chúng có hình thức tựa như từ láy. Do
không nhận thức được bản chất “ghép nghĩa” thực sự của các từ “láy giả” này mà đã có nhiều
người khẳng định chúng là những từ láy thực thụ! Thậm chí người ta còn khẳng định các từ
ghép như: hỏi han, thò lò, chói chang, xót xa, thảm thiết… đã “dịch chuyển”, hay “chuyển hoá”
thành từ láy .
Sai lầm thứ ba có thể nhận thấy xảy ra trong lĩnh vực nghiên cứu ý nghĩa của từ.
Trong địa hạt nghiên cứu này, cần phân biệt rạch ròi trong nhận thức ba phạm trù sau
đây: Một là, nghĩa của từ tồn tại khách quan trong hệ thống ngôn ngữ với tư cách là bản thể,
đây là tri thức chung của toàn xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định đã được đúc kết và “tàng
trữ ” trong từ ; Hai là, sự nhận thức hay là sự hiểu biết của mỗi người về nội dung ý nghĩa tồn
tại khách quan ấy của từ; Ba là, khả năng và cách diễn giải thành lời (hay hiện thực hoá) kết quả
sự nhận thức ấy của mỗi người về ý nghĩa của từ với tư cách là bản thể.
Trong thực tế, người bản ngữ ai ai cũng có thể dễ dàng hiểu được nghĩa của các từ như-
: nhà, sân, trời, ma, ăn, ngủ, xanh, trắng, chua, ngọt v.v… nhưng việc giải nghĩa các từ trên
thành lời như định nghĩa trong từ điển thì quả không dễ dàng. Đúng như các nhà biên soạn từ
điển đã thừa nhận, từ càng có ý nghĩa dễ hiểu thì càng khó định nghĩa. Đó là chưa kể khả năng
mỗi người có thể và có quyền định nghĩa ý nghĩa của cùng một từ theo cách khác nhau, và thậm
chí cùng một người có thể định nghĩa theo cách khác nhau về cùng một từ ở cùng một thời điểm
nhưng cho những ngời nghe có trình độ nhận thức khác nhau .
Do vậy, khi dựa vào lời định nghĩa của từ điển giải thích để phân tích cấu trúc nghĩa của
từ thì chúng ta cần phải biết phân chiết lời định nghĩa ấy ra thành các bộ phận khác nhau và quy
gộp các bộ phận có nghĩa gần nhau thành một nét nghĩa và tìm ra trật tự chi phối lẫn nhau giữa
các nét nghĩa ấy.
Sai lầm thứ tư liên quan đến sự nhầm lẫn giữa nhận thức và bản thể xảy ra trong
việc nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em
Các nhà khoa học nổi tiếng thế giới như D. Slobin, I.S. Bruner, L. Bloom, M.A.K.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status