ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ THÙY DƯƠNG ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA - DÂN TỘC
CỦA TƯ DUY NGÔN NGỮ QUA HIỆN TƯỢNG TÊN GỌI
ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI
(TRÊN TƯ LIỆU TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành : Lí luận ngôn ngữ
Mã số : 60 22 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đức Tồn
Hà Nội – 2010
1
MỤC LỤC
Mục lục 1
Phần mở đầu 5
1. Lí do chọn đề tài: 5
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
2.1. Mục đích 5
2.2. Nhiệm vụ 5
3. Đối tượng và phạm vi tài liệu nghiên cứu 6
3.1. Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi tài liệu nghiên cứu 6
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Đóng góp của luận văn 7
6. Bố cục của luận văn 8
trong tiếng Anh 32
2.5. Kiểu ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong
tiếng Anh 38
2.6. Phân loại tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 40
2.6.1. Tên gọi đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh 41
2.6.2. Tên gọi đồng nghĩa phong cách chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh
42
2.6.3. Tên gọi đồng nghĩa tuyệt đối chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh
2.7. Ý nghĩa biểu trưng của một số tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con
người trong tiếng Anh 46
2.7.1. Heart (tim) 46
2.7.2. Mouth (miệng) 47
2.7.3. Tooth (răng) 48
3
2.7.4. Tongue (lưỡi) 48
2.8 Tiểu kết
Chương 3: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng việt 50
3.1. Nguồn gốc, đặc điểm loại hình tiếng Việt 50
3.1.1. Sơ lược về nguồn gốc tiếng Việt 50
3.1.2. Đặc điểm loại hình tiếng Việt 50
3.2. Kết quả thống kê nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người
trong tiếng Việt 51
3.3. Đặc điểm cấu tạo tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong
tiếng Việt 51
3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người
trong tiếng Việt 52
3.5. Kiểu ngữ nghĩa của các tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong
tiếng Việt 56
3.6. Phân loại tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt 57
4.6.1. Khác biệt về loại hình ngôn ngữ 74
4.6.2. Khác biệt về đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ngôn ngữ 75
4.6.3. Sự khác biệt về hoàn cảnh xã hội 76
4.7. Ứng dụng thực tiễn của việc nghiên cứu từ đồng nghĩa trong việc dạy/học
tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ 77
4.7.1. Ứng dụng của việc nghiên cứu từ đồng nghĩa 77
4.7.2. Dạy/ học từ ngữ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt 78
Kết luận 80
Tài liệu tham khảo 85
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều mang trong mình bản sắc văn hoá riêng.
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay thì nhu cầu giao tiếp quốc tế càng tăng.
Trong xu hướng hội nhập văn hoá thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cùng với xu
thế toàn cầu hoá ấy, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc học hỏi, tìm hiểu về
ngôn ngữ, văn hoá của dân tộc mình mà còn muốn biết muốn hiểu sâu hơn về
ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc khác. Chính từ việc đối chiếu để tìm hiểu sự
giống và khác nhau về cấu trúc, cơ chế tạo nghĩa, sự hoạt động và phát triển
giữa các ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta thấy được đặc trưng văn hoá và tư duy của
một dân tộc. Bởi vì chính ngôn ngữ là nơi tàng trữ và phản ánh khá toàn diện
các đặc trưng văn hoá và tư duy của một dân tộc.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1. Mục đích:
Giải quyết đề tài này, luận văn nhằm:
- Phân tích cơ chế tạo nghĩa của trường từ vựng “tên gọi đồng nghĩa chỉ
bộ phận cơ thể con người” để tìm ra những đặc điểm về ngôn ngữ - văn hoá
và tư duy của trường từ vựng đó phục vụ cho các ứng dụng thực tiễn.
- Chỉ ra những tương đồng và dị biệt của tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ
tin, Hà Nội.
- Từ điển: Advanced learner's English dictionary (ấnbảnlần7) (2005), Oxford
University press.
Các trang Web:
- .
-
7
- + of + synonyms/en - en/.
-
- .
Ngoài các cuốn từ điển nêu trên là tư liệu nghiên cứu chính, trong quá
trình triển khai thực hiện đề tài, chúng tôi còn sử dụng một số tài liệu trong
lĩnh vực văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ học.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
4.1. Phƣơng pháp nghiên cứu chung:
Các phương pháp được chúng tôi sử dụng xuyên suốt trong luận văn là
phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả .
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu chuyên sâu:
Chúng tôi áp dụng một số phương pháp nghiên cứu từ đồng nghĩa do
Nguyễn Đức Tồn đề xuất (Nguyễn Đức Tồn, Từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb,
Khoa học xã hội, H., 2006). Đó là:
+ Phương pháp giải thích ý nghĩa các đơn vị trong dãy đồng nghĩa;
+ Phương pháp tìm sự khu biệt ngữ nghĩa của các đơn vị đồng nghĩa;
+Thủ pháp xác định các đơn vị đồng nghĩa bằng kết cấu đồng nhất “A
là B”, đảo lại “B là A”;
+ Phương pháp xác lập dãy đồng nghĩa bằng an két điều tra.
5. Đóng góp của luận văn:
Luận văn cung cấp tương đối đầy đủ dữ liệu quan trọng về tên gọi đồng
nghĩa của các bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt. 9
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
1.1. KHÁI LƢỢC VỀ NGUỒN GỐC THUẬT NGỮ “TỪ ĐỒNG NGHĨA”
Theo “Đại từ điển Bách khoa Xô Viết”, tập 23 [114], thuật ngữ chỉ hiện
tượng đồng nghĩa có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp.
* Được viết dưới dạng tiếng Hi Lạp:
Synònymia: có nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng
nghĩa nhưng không đồng nhất. Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính
tương ứng hoặc là với cùng một biểu vật (denotat) (sự kiện, khách thể, v.v…),
hoặc là với cùng một biểu niệm (signifikat) (cái được biểu hiện thuộc ngôn
ngữ) (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr.68]).
* Được viết dưới dạng tiếng Anh:
Synonymy: có nghĩa là “hiện tượng đồng nghĩa”.
1.2. KHÁI NIỆM TỪ ĐỒNG NGHĨA
1.2.1. Phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ
vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa
1.2.1.1. Hiện tượng đồng nghĩa
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn thì đồng nghĩa là một trong những khái
niệm có tính nền tảng của ngôn ngữ học, cũng như của Logic học, ngữ nghĩa
logic và của kí hiệu học.
Như trên [1.1] đã trình bày, tính chất đẳng nghĩa được hiểu theo hai
hướng, tính tương ứng hoặc là cùng với một biểu vật:
Ví dụ :
11
1.2.2. Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về từ đồng nghĩa
Trong Việt ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã rất quan tâm đến từ
đồng nghĩa. Nhà Việt ngữ học Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng:
“Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ nào cũng thường có những từ
mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau.
Do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được.
Những từ này là những từ đồng nghĩa” [2, tr. 63].
Quan điểm của Đỗ Hữu Châu về từ đồng nghĩa, theo chúng tôi, còn ít
nhiều chưa được cụ thể, bởi vì tác giả mới chỉ đề cập tới “hình thức ngữ âm
khác nhau; từ nghĩa giống nhau; tiếp đó là các từ đồng nghĩa có thể thay thế
cho nhau trong nhiều hoàn cảnh”, mà chưa đề cập tới “mức độ giống nhau về
ý nghĩa của các từ “đến mức nào thì mới được coi là đồng nghĩa”. Sau khi
nghiên cứu sâu hơn về từ đồng nghĩa, năm 1981, ông đưa ra quan niệm khác
về từ đồng nghĩa như sau:
“Từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh
giống nhau mà ý nghĩa chung của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản” [3, tr.191].
Mặc dù vậy, quan niệm trên về từ đồng nghĩa của ông vẫn chưa giúp giải
quyết được các vấn đề sau:
Thứ nhất, đúng là có những từ đồng nghĩa thay thế cho nhau được
trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi.
Nhưng không phải tất cả các từ đồng nghĩa đều có thể thay thế cho nhau trong
cùng một ngữ cảnh (…)
Thứ hai, có những từ thay thế được cho nhau trong một ngữ cảnh mà ý
nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản, song chúng không phải là
những từ đồng nghĩa [44, tr.80 - 81].
Tiếp theo, trên cơ sở nhận thức lại về từ đồng nghĩa như vậy, Đỗ Hữu
Châu đưa ra quan niệm mới về từ đồng nghĩa:
13
thái tình cảm, về giá trị gợi cảm, về phong cách, phạm vi sử dụng.v.v… Đó là
những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Đó
là những tên khác nhau của một hiện tượng. Những từ này có điểm chung về chức
năng định danh. Nói rộng ra, những từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một khái
niệm [46, tr.13 - 14].
Với cách hiểu như trên, tác giả Nguyễn Văn Tu đã nêu cụ thể hơn và có
sự mở rộng hơn quan niệm về từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, tác giả chưa phân biệt
rõ khái niệm “chủng” và khái niệm “loại’. Vì vậy, tác giả đã coi chúng là từ
đồng nghĩa.
Ví dụ:
Đầm – Hồ – Chuôm
Nhà Việt ngữ học Nguyễn Thiện Giáp lại tán thành quan điểm của
P.A.Bu - đa - gốp. Trên cơ sở đó ông đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng
nghĩa như sau:
“Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự
giống nhau của các nghĩa sở biểu. Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho
rằng “Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh,
biểu thị các sắc thái của một khái niệm” (dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp
[17, tr. 191 - 192]).
Hạn chế trong quan niệm của tác giả P.A. Bu - đa - gốp và Nguyễn
Thiện Giáp là ở chỗ mới chỉ đề cập đến từ đồng nghĩa biểu niệm, còn trường
hợp từ đồng nghĩa biểu vật thì hoàn toàn không nhắc tới.
Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu trong
cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tr. 195" đã đưa ra một quan niệm về
từ đồng nghĩa theo xu hướng:
Thứ nhất, dựa vào đối tượng được gọi tên;
Thứ hai, dựa vào khái niệm do từ biểu thị.
14
nhau ở ý nghĩa thực sự của từ. Nói cách khác, chúng có thể thay thế cho nhau
trong mọi trường hợp. Chính vì vậy, nếu định nghĩa từ đồng nghĩa mà chỉ căn
cứ vào tiêu chuẩn “đồng nhất về ý nghĩa của từ” là không đúng (dẫn theo
Nguyễn Đức Tồn [ 44, tr. 78]).
A.N. Grô - zđép và A.B.Sa - pia lại cho rằng: “Các từ đồng nghĩa là
những từ biểu hiện cùng một khái niệm, đồng nhất hoặc gần gũi về ý nghĩa
của mình. Chúng chỉ khác nhau về sắc thái nghĩa, hoặc là về sắc thái phong
cách, phạm vi sử dụng hoặc là đồng thời cả hai đặc trưng nêu trên" (dẫn theo
Nguyễn Đức Tồn [ 44, tr. 78-79]).
A.A. Re –pho - mat – xki khi nhận diện từ đồng nghĩa thì chỉ dựa vào
sự vật, hành động, tính chất trong thực tế khách quan mà từ biểu thị. Do đó
tác giả định nghĩa: “Hai từ đồng nghĩa gọi tên cùng một sự vật, nhưng lại ứng
với nó những khái niệm khác nhau và do đó thông qua tên gọi làm bộc lộ ra
những thuộc tính khác nhau của sự vật này” (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44,
tr. 79]).
Tác giả R.A.Bu - đa – gốp, như đã có dịp đề cập ở trên, lại dựa vào khái
niệm mà từ biểu thị nên cho rằng: Từ đồng nghĩa là những từ gần gũi nhau về ý
nghĩa nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm
(dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr. 58]).
Và cuối cùng, các nhà nghiên cứu B.N.Gô - lô - vin và
O.S. A – khơ – ma – nô - va dựa vào ý nghĩa nói chung của từ để định nghĩa
từ đồng nghĩa. Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ: chưa nói rõ xem “các từ
có nghĩa giống nhau đó là nghĩa nào, ý nghĩa biểu thị hay ý nghĩa diễn đạt.
Đồng thời, quan niệm này chủ yếu dựa vào nội dung mà chưa chú ý đến tiêu
chí hình thức để nhận diện từ đồng nghĩa.
16
1.3. CÁC THỦ PHÁP NHẬN DIỆN TỪ ĐỒNG NGHĨA
Như đã trình bày ở phần trước, từ đồng nghĩa là một khái niệm rất khó
xác định. Do vậy, để nhận diện chính xác các từ đồng nghĩa đòi hỏi chúng ta
từ.v.v… riêng đặc thù) (Nguyễn Đức Tồn [44, tr. 96]).
Ưu điểm nổi bật của thủ pháp này là ở chỗ: nó dựa trực tiếp vào mẫn
cảm ngôn ngữ của người bản ngữ, khiến có thể nhận ra ngay được mối quan
hệ ngữ nghĩa hai đơn vị được so sánh, vừa đơn giản tiện lợi, lại vừa dễ áp
dụng. Đồng thời, khi sử dụng thủ pháp này để nhận diện từ đồng nghĩa, chúng
ta sẽ khắc phục được nhược điểm của thủ pháp sử dụng ngữ cảnh để nhận
diện từ đồng nghĩa”.
Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ trong tiếng Anh để chứng minh cho điều vừa nêu:
Trong tiếng Anh, hai tính từ “Dirty” và “unclean” đều có nghĩa là “dơ
bẩn, bẩn thỉu”. Chúng ta có thể nói:“A dirty skirt”is “An unclean skirt”
hoặc“An unclean skirt” is “A dirty skirt” (“A dirty skirt” và “An unclean
skirt” đều có nghĩa là : một chiếc váy bẩn ).
Tuy nhiên, sắc thái của hai tính từ này có phần khác biệt nên không
phải lúc nào chúng cũng có thể thay thế cho nhau. Trong ngữ cảnh trên cả hai
tính từ đều được dùng để mô tả vẻ bề ngoài của đồ vật. Trong khi đó, khi nói
về tính cách của con người (mang nghĩa tiêu cực) thì người Anh lại chỉ dùng
tính từ “dirty”, ví như: “A dirty Person: một người bẩn tính, nhỏ nhen; hay
trong câu: They spoke the dirty on her: Họ chơi bẩn đối với cô ta.
1.4. QUAN NIỆM CỦA LUẬN VĂN VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA
Chúng tôi cho rằng một định nghĩa ưu việt về từ đồng nghĩa phải đồng
thời chú ý đến quan hệ giống nhau của các sự vật, khái niệm mà chúng biểu
thị, phải chú ý đến mức độ giống nhau về nghĩa của chúng. Và nếu có thể thì
còn có thể nêu được cả cách thức để nhận diện các từ đồng nghĩa. Chính vì
18
vậy, chúng tôi tán thành với định nghĩa về từ đồng nghĩa của Nguyễn Đức
Tồn được đưa ra trong cuốn “Từ đồng nghĩa tiếng Việt”(2006), Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, tr. 96”.
Nội dung định nghĩa như sau:
“Hai đơn vị từ vựng/từ được gọi là đồng nghĩa khi chúng có vỏ ngữ
để nói khái quát về các loại thuốc nói chung. “Thuốc thang” dùng nói khái
quát về thuốc đông y.
Hoặc trong tiếng Anh: ba tính từ:
Pretty – good looking – beautiful đều được dùng để diễn tả sự ưa nhìn.
Tuy nhiên:
* Pretty: Được dùng để chỉ sự duyên dáng, đáng yêu ở nữ giới hay dùng chỉ
bề ngoài, chỉ cái đẹp đạt tới độ “tuyệt mỹ” của đồ vật.
Ví dụ:
- She is a pretty girl /(cô ấy là một cô gái kiều diễm).
- She was wearing a pretty dress /(Cô ấy mặc một chiếc váy đẹp tuyệt).
* Beautiful: Chỉ đơn thuần là nói về cái đẹp của sự vật, hiện tượng, con
người, có phần nghiêng về sự nhận xét chủ quan của người phát ngôn.
Ví dụ:
- It was a beautiful summer’s day /(Đó là một ngày hè đẹp trời).
- She is s beautiful girl /(Cô ấy là một cô gái xinh đẹp).
* Good – looking: Dùng cho người (không phân biệt giới tính).
Ví dụ:
He appeared unusually good – looking, to day /(Hôm nay, trông anh ta
bảnh trai lạ thường).
Vậy, có thể nhận định rằng: sắc thái của ba tính từ đồng nghĩa trong
tiếng Anh vừa trình bày ở trên là khác nhau. “Một ngày hè đẹp trời” không
20
thể dùng với “Pretty”, “ good – looking”. “Good – looking” được dùng cho
người (không phân biệt giới tính). Tuy nhiên, Pretty và beautiful lại chỉ dùng
cho nữ giới.
Tóm lại, các từ đồng nghĩa ý niệm là phương tiện biểu hiện, chính xác
hoá tư tưởng trong từng trường hợp sử dụng ngôn ngữ. Những sắc thái ý
nghĩa cơ bản này nếu chúng ta biết cách sử dụng đúng chỗ sẽ giúp lời nói trở
nên tinh tế, chính xác, rõ ràng, ngắn gọn và biểu cảm.
Chúng hoạt động với tư cách là các từ đồng nghĩa phong cách với các từ tiếng
Việt hiện đại. Các từ cổ - đó có thể là các từ Hán Việt cổ, các từ ngữ liên quan
đến các điển tích, điển cố được vay mượn từ tiếng Hán, vay mượn từ ngôn
ngữ Ấn - Âu.
Ví dụ:
Nước mắt và lệ - luỵ – châu
Cõi đời và bụi hồng, bụi trần, hồng trần, cõi trần, trần ai, trần tục…
* Nhóm 2: Các từ đồng nghĩa phong cách của tiếng Việt hiện đại
Các từ đồng nghĩa thuộc loại này có nguồn gốc chủ yếu từ các từ địa
phương. Chúng là các từ nằm trong vốn từ vựng tích cực. Nói cách khác, vốn
từ vựng tích cực là thành phần cơ bản, là trụ cột của từ vựng có phạm vi sử
dụng rộng rãi, và thường xuyên được sử dụng. Bên cạnh đó, chúng vẫn được
dùng chủ yếu trong tác phẩm văn học để nhằm khắc họa sắc thái địa phương
hoặc tính cách nhân vật. Hoặc đó có thể là các từ thuộc các lĩnh vực khoa học,
chuyên môn, ngành nghề khác. v.v…
Ví dụ:
Các từ đồng nghĩa với các từ trung tính về phong cách vốn thuộc từ vựng sách vở:
Hành khất - ăn mày
Phụ mẫu – mẹ
22
Phụ thân – cha
Hay, các từ đồng nghĩa thuộc phong cách khẩu ngữ bình dân thông tục:
Miệng – mồm (kng)
Kết quả là, các từ đồng nghĩa phong cách được chọn sử dụng để phù hợp
với các phong cách chức năng khác nhau. Nhờ sắc thái phong cách này mà nếu
chúng ta sử dụng chúng đúng chỗ, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp thì sẽ đạt được
hiệu quả cao.
1.5.3. Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách
Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách là các từ đồng nghĩa không chỉ
biết của mình để cảm hoá giáo dục. Theo sự phát triển của xã hội loài người,
nghĩa của “văn hoá” có phần khác trước. Nguyên là từ “văn hoá” trong tiếng
Anh và tiếng Pháp được viết dưới dạng “Cultura” có nguồn gốc từ chữ La
tinh. “Cultura” có nghĩa là trồng trọt, làm đất.v.v…Đến giữa thế kỉ XIX, do
sự phát triển của các khoa học Nhân loại học, Xã hội học, Dân tộc học khái
niệm văn hoá đã thay đổi. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hiện tượng
được gọi là “văn hoá” này.
E. B. Taylor - nhà Nhân loại học người Anh, trong tác phẩm “Văn hoá
nguyên thuỷ” đã đưa ra quan điểm về văn hoá như sau: “Văn hoá là một tổng
hoà phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, phong tục,
pháp luật và cả những năng lực thói quen mà con người đạt được trong xã
hội” (dẫn theo Trần Quốc Vượng [52, tr.22]). Phan Ngọc đã đưa ra một định
nghĩa về văn hoá mang tính chất thao tác luận. Khác với những định nghĩa
trước đó, theo ông “Không có cái gì gọi là văn hoá cả và ngược lại bất kì vật
gì cũng có cái mặt văn hoá. Văn hoá là mối quan hệ. Nó là mối quan hệ hữu
cơ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành