BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Nguyễn Thị Phương Dung
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA – DÂN TỘC
TRONG THÀNH NGỮ SO SÁNH VIỆT – ANH
CÓ YẾU TỐ TÍNH TỪ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602211
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN HOÀNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CẢM ƠN
*******
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS. Trần Hoàng – người đã hết lòng chỉ bảo và dìu dắt
tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi
trong suốt khóa học. Cảm ơn Phòng Sau đại học và Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm
TP. Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Chân thành cảm ơn các bạn hữu đã động viên tôi trong thời gian qua.
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010
Học viên
5T
0.3. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................................. 7
5T
5T
0.4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 7
5T
5T
0.5. Tư liệu nghiên cứu ................................................................................................................. 8
5T
5T
0.6. Đóng góp của luận văn .......................................................................................................... 8
5T
5T
0.7. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................................... 9
5T
5T
0.8. Bố cục của luận văn ............................................................................................................... 9
5T
1.1.1.3. Đặc điểm thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ..................................................... 11
T
5
T
5
1.1.2. Thành ngữ so sánh trong tiếng Anh (simile) .................................................................. 13
5T
T
5
1.1.2.1. Khái niệm .............................................................................................................. 13
T
5
5T
1.1.2.2. Phân loại ................................................................................................................ 14
T
5
5T
1.1.2.3. Đặc điểm thành ngữ so sánh với “AS” (As- simile) ................................................ 15
T
5
5
1.4. Yếu tố tính từ trong thành ngữ so sánh Việt - Anh chứa tính từ............................................ 22
5T
T
5
1.4.1. Yếu tố tính từ trong thành ngữ so sánh tiếng Việt ......................................................... 24
5T
T
5
1.4.2. Yếu tố tính từ trong thành ngữ so sánh tiếng Anh ......................................................... 26
5T
T
5
1.4.3. Nhận xét ....................................................................................................................... 29
5T
5T
1.5. Đối tượng so sánh trong thành ngữ so sánh Việt – Anh chứa tính từ .................................... 30
5T
T
5
5T
1.5.2.1. Đối tượng so sánh là động vật ................................................................................ 35
T
5
T
5
1.5.2.2. Đối tượng so sánh là con người và các bộ phận cơ thể người ................................. 36
T
5
T
5
1.5.2.3. Đối tượng so sánh là thực vật ................................................................................. 37
T
5
T
5
1.5.2.4. Đối tượng so sánh là vật tạo tác.............................................................................. 38
T
5
T
5
5
2.1.1. Đối tượng so sánh chứa yếu tố con người và bộ phận cơ thể người ............................... 43
5T
T
5
2.1.2. Đối tượng so sánh chứa yếu tố động vật ........................................................................ 47
5T
T
5
2.1.3. Đối tượng so sánh chứa yếu tố thực vật ......................................................................... 55
5T
T
5
2.1.4. Đối tượng so sánh chứa yếu tố thực phẩm ..................................................................... 56
5T
T
5
2.1.5. Đối tượng so sánh là vật tạo tác .................................................................................... 59
5T
T
T
5
2.2.5. Đối chiếu đối tượng so sánh trong thành ngữ so sánh chỉ đặc trưng, tính chất sự vật ..... 74
5T
T
5
2.3. Tiểu kết ............................................................................................................................... 78
5T
T
5
Kết luận.......................................................................................................................................... 79
5T
T
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................. 81
5T
5T
PHỤ LỤC ...................................................................................................................................... 87
5T
là một vấn đề vẫn còn chưa được đi sâu nghiên cứu.
0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, ở Việt Nam người ta đã quan tâm tới văn hóa học và mối
quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ. Năm 1992, hội thảo quốc gia “Việt Nam- những vấn đề ngôn
ngữ và văn hóa” đã được tổ chức. Trần Ngọc Thêm đã xây dựng thành công môn học “Cơ sở văn
hóa Việt Nam” trong chương trình giảng dạy đại học. Trên cơ sở đó, Trần Ngọc Thêm đã đề xuất
việc thành lập môn học mới “Ngôn ngữ học văn hóa”.
Về các công trình nghiên cứu chuyên sâu ngôn ngữ và văn hóa, có thể nói tới quyển “Tìm
hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những
dân tộc khác) của Nguyễn Đức Tồn [71] và quyển “Một số vấn đề giao tiếp giao văn hóa” của
Nguyễn Quang [55]. Công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Tồn đi theo hướng lý thuyết tâm lý
ngôn ngữ học tộc người, làm rõ đặc trưng văn hóa- dân tộc của sự phạm trù hóa và định danh thế
giới khách quan, của ngữ nghĩa và tư duy ngôn ngữ ở người Việt trong sự so sánh với các dân tộc
khác như Nga… Công trình của Nguyễn Quang xuất phát từ các mô hình tư duy văn hóa của
Kaplan, tác giả xem xét hoạt động giao tiếp trên sự kết hợp thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ và kết
quả nghiên cứu của các bộ môn quan yếu để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về giao tiếp
giao văn hóa.
Trong những năm gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều hơn các luận án, luận văn theo hướng
nghiên cứu ngôn ngữ trên bình diện văn hóa. Có những luận án, luận văn đáng chú ý sau đây:
- Luận án phó tiến sĩ “Đối chiếu thành ngữ Nga- Việt trên bình diện giao tiếp” của Nguyễn
Xuân Hòa [35]
- Luận án tiến sĩ “Phương thức dịch các thành ngữ nhận xét đánh giá con người giữa các
ngôn ngữ Việt- Anh- Nga” của Trần Thị Lan [49]
- Luận án tiến sĩ “Điển cố với các đặc trưng ngôn ngữ và nội hàm văn hóa của chúng (trên
cứ liệu điển cố Nga, Anh, Việt) của Nguyễn Văn Chiến [10]
- Luận án tiến sĩ “Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ -văn hóa trong diễn ngôn của người
Việt học tiếng Anh” của Phạm Đăng Bình [6]
- Luận án tiến sĩ “Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ- văn hóa của nhóm từ chỉ động thực vật tiếng
trưng văn hoá-dân tộc ở hai ngôn ngữ.
0.3. Mục đích nghiên cứu
Người viết thực hiện đề tài: “Đặc trưng văn hoá- dân tộc trong thành ngữ so sánh Việt- Anh có
yếu tố tính từ” nhằm mục đích chính là tìm ra nét đặc trưng văn hoá-dân tộc trong thành ngữ so sánh
Việt chứa yếu tố tính từ qua sự đối chiếu so sánh với thành ngữ Anh. Để đạt được mục đích đó,
chúng tôi đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:
- Tập hợp, thống kê, miêu tả thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ trong hai ngôn ngữ Việt và
Anh,
- Tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá thông qua cứ liệu thành ngữ so sánh chứa
yếu tố tính từ,
- Tìm ra đặc trưng văn hoá- dân tộc cũng như cái phổ quát chung trong tiếng Việt và tiếng
Anh thông qua đối chiếu thành ngữ so sánh Việt- Anh chứa yếu tố tính từ.
0.4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu về thành ngữ tiếng Việt trong sự so sánh với thành ngữ tiếng Anh trên
phương diện văn hóa- dân tộc. Nhưng bản thân thành ngữ là một vấn đề rất rộng. Chính vì vậy
chúng tôi giới hạn phạm vi và đối tượng nghiên cứu hẹp hơn: thành ngữ so sánh có chứa yếu tố tính
từ trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các thành ngữ so sánh có chứa yếu tố tính từ rất quen
thuộc trong đời sống hàng ngày của người Việt và người Anh. Chúng tôi chỉ xét những thành ngữ so
sánh có yếu tố tính từ xuất hiện trong cấu trúc bề mặt của thành ngữ, chẳng hạn: “đắt như tôm tươi”,
“đỏ như tôm luộc”, “chua như giấm”.v.v.. Với các thành ngữ so sánh ngầm chứa các yếu tố tính từ
(yếu tố tính từ không xuất hiện trực tiếp trong bề mặt thành ngữ, chúng chỉ được hiểu ngầm) như:
“Như cá nằm trên thớt” (nguy hiểm), “như diều gặp gió” (thuận lợi)… tạm thời chúng tôi sẽ không
khảo sát tới vì tính mơ hồ trong phân định ngữ nghĩa của chúng.
Việc đối chiếu, so sánh thành ngữ giữa hai ngôn ngữ Việt- Anh trong luận văn này được tiến
hành trên bình diện văn hoá dân tộc.
0.5. Tư liệu nghiên cứu
Để thống kê, tập hợp các thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ trong tiếng Việt và tiếng Anh,
*Về ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn này có thể:
- Góp phần định hướng việc dịch thành ngữ Việt-Anh;
- Góp phần vào việc giảng dạy và học tập tiếng Việt cho người Anh và ngược lại;
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thành ngữ tiếng Việt trong nhà trường.
0.7. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
-Phương pháp thống kê: nhằm thống kê các thành ngữ so sánh có yếu tố tính từ trong tiếng
Việt và tiếng Anh để làm tư liệu cho đề tài nghiên cứu.
-Phương pháp phân tích- tổng hợp và miêu tả: nhằm phân tích ngữ nghĩa và đặc trưng văn hoá
dân tộc của các thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ trong tiếng Việt và tiếng Anh.
-Phương pháp đối chiếu- so sánh: nhằm tìm ra nét tương đồng và dị biệt trong ngôn ngữ, văn
hoá-dân tộc của người Việt và người Anh.
Chúng tôi sẽ vận dụng kết hợp các phương pháp này trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
0.8. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm các nội dung chính như sau:
Chương một-“Cơ sở lý thuyết và những vấn đề hữu quan”: là chương cung cấp các vấn đề lý
thuyết liên quan tới đề tài. Chúng tôi sẽ trình bày các vấn đề khái niệm, phân loại, đặc điểm của
thành ngữ so sánh trong hai ngôn ngữ Việt và Anh. Bên cạnh đó chúng tôi trình bày vấn đề đặc
trưng văn hoá - dân tộc trong thành ngữ so sánh cũng như cơ sở để đối chiếu thành ngữ so sánh giữa
hai ngôn ngữ. Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát yếu tố tính từ và đối tượng so sánh trong thành ngữ
so sánh Việt – Anh chứa yếu tố tính từ.
Chương hai-“Sự thể hiện đặc trưng văn hóa – dân tộc trong thành ngữ so sánh Việt – Anh
có yếu tố tính từ”: sẽ đi sâu miêu tả và đối chiếu thành ngữ so sánh có yếu tố tính từ trong tiếng
Việt và tiếng Anh. Trên cơ sở đối chiếu đối tượng so sánh và phân tích hình ảnh so sánh, chúng tôi
tập trung làm rõ đặc trưng văn hoá - dân tộc được thể hiện qua thành ngữ so sánh có yếu tố tính từ
trong hai ngôn ngữ.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và những vấn đề hữu quan
Mai Ngọc Chừ trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”(1997) [11, tr. 153–165] đã phân
thành ngữ so sánh ra các dạng phổ biến sau:
*A.ss.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: đắt như tôm tươi, nhẹ tựa lông
hồng, lạnh như tiền, dai như đỉa đói, đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, lừ đừ như ông từ vào đền,...
*(A).ss.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ so sánh có thể xuất hiện hoặc không,
nhưng nghĩa vẫn không thay đổi, người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví
dụ: (rẻ) như bèo, (chắc) như đinh đóng cột, (vui) như mở cờ trong bụng, (to) như bồ tuột cạp,
(khinh) như rác, (khinh) như mẻ, (chậm) như rùa,...
*ss.B: Ở dạng này, thành phần A không nằm trong cấu trúc của thành ngữ. Khi đi vào hoạt
động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, phụ thuộc vào
tình huống giao tiếp, nhưng nhất thiết phải có. A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ: Ta
có thành ngữ “như mẹ chồng với nàng dâu”, tuỳ tình huống mà có A khác nhau, chẳng hạn: ăn ở với
nhau như mẹ chồng với nàng dâu, xử sự với nhau như mẹ chồng với nàng dâu, giữ ý giữ tứ với nhau
như mẹ chồng với nàng dâu,…
Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: như tằm ăn rỗi, như vịt nghe sấm, như con chó
ba tiền, như gà mắc tóc, như đỉa phải vôi, như ngậm hột thị,...
1.1.1.3. Đặc điểm thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ
Trong thành ngữ so sánh, vế A có thể là tính từ chỉ thuộc tính, đặc trưng, tính cách, tâm
trạng,… (trắng như tuyết, bẩn như ma lem, nhát như thỏ đế, chậm như rùa, hiền như bụt, lừ đừ
như ông từ vào đền,…), hoặc là động từ biểu thị các trạng thái hoạt động (ăn như mèo, nói như đấm
vào tai, kêu như cháy nhà,…), hoặc cũng có thể là danh từ chỉ sự vật, hiện tượng được so sánh
(chấy rận như sung, kẻ cắp như rươi, quân lệnh như sơn,...), thậm chí có thể là cụm chủ- vị thể
hiện một hiện tượng xã hội, tâm lý (quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, gái gần hơi trai như thài lài
gặp cứt chó,..).
Như vậy, thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ là những thành ngữ có cấu trúc “A ss B”, mà
trong đó “A” là tính từ chỉ thuộc tính, đặc điểm, tính cách, tâm trạng,… của con người hay sự vật.
Thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ cũng mang những đặc điểm của thành ngữ so sánh nói
chung.
còn trong tiếng Anh as hot as fire lại nói về nhiệt độ.
Vế B trong thành ngữ so sánh nói chung và thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ nói riêng có
cấu trúc không thuần nhất:
-B có thể là một danh từ (hoặc cụm danh từ). Ví dụ: nhát như thỏ, nóng như lửa, lạnh như tiền,
nợ như chúa Chổm, đắng như bồ hòn, len lét như rắn mùng năm,...
-B có thể là một động từ (hoặc cụm động). Ví dụ: giống như in, nóng như đốt, dễ như trở bàn
tay, nóng như hơ lửa,…
-B có thể là một cụm chủ- vị (một mệnh đề). Ví dụ: lừ đừ như ông từ vào đền, vênh váo như bố
vợ phải đấm, sợ như đĩ thấy cha, tất tưởi như nợ đuổi sau lưng,...
Nếu cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng thì thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn. Lí do
chính ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc
và ý nghĩa.
1.1.2. Thành ngữ so sánh trong tiếng Anh (simile)
1.1.2.1. Khái niệm
Loại ngữ cố định tiếng Anh có kết cấu và chức năng tương đương với thành ngữ so sánh tiếng
Việt được gọi là “simile”. Chúng tôi tạm gọi “simile” là thành ngữ so sánh tiếng Anh. Trong ngôn
ngữ học Anh-Mỹ, vẫn còn quan điểm chưa thống nhất về simile và idiom (thành ngữ). Bên cạnh
quan điểm của nhiều nhà ngôn ngữ học cho simile là một bộ phận đặc biệt của idiom, có quan điểm
khác cho hai khái niệm này không bao hàm nhau, simile là một dạng lời nói giàu hình ảnh, mang nét
riêng về cấu tạo cũng như chức năng, tồn tại độc lập bên cạnh idiom (thành ngữ) hay metaphor (ẩn
dụ). Do đó nhiều người Anh-Mỹ có sự phân biệt khá rõ ràng về simile (tạm gọi là thành ngữ so
sánh) và idiom (thành ngữ).
J. Seidl và W. McMordie trong “English idioms” đưa ra định nghĩa về idiom (thành ngữ): “là
một nhóm từ mà khi kết hợp với nhau sẽ có nghĩa khác với nghĩa của từng từ” (a number of words
which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings of each word)
[87, tr.13].
Từ điển “Webster's New World College Dictionary” (2010) định nghĩa về idiom như sau: “là
một cụm từ được nhận biết như một đơn vị trong một ngôn ngữ, có nghĩa khác với ngữ nghĩa thông
1.1.2.2. Phân loại
Có hai dạng thành ngữ so sánh trong tiếng Anh: thành ngữ so sánh với “as” (As-simile) và
thành ngữ so sánh với “like” (Like-simile).
a/ Thành ngữ so sánh với “as” (As-simile)
Thành ngữ so sánh với “as” có cấu trúc phổ biến như sau:
(AS) + tính từ + AS + đối tượng so sánh
Ví dụ: His skin was as cold as ice (Da hắn ta lạnh như đá). (Oxford dictionary)
Một vài thành ngữ khác thuộc dạng này: (as) hot as fire, (as) fresh as a daisy, (as) safe as
houses, (as) happy as a clam, (as) hard as nails…
Cũng cần chú ý rằng trong mẫu cấu trúc “As…as…” , đôi khi chữ “as” đầu được lược bỏ.
Có một dạng thành ngữ so sánh tiếng Anh với “As” mà vế làm đối tượng so sánh được mặc
định bởi những từ “anything”, “hell”, “you please” như các cấu trúc sau đây:
- (as) + tính từ+ as Anything
- (as) + tính từ+ as Hell
- (as) + tính từ+ as You please
Ví dụ: I felt as pleased as anything (Tôi cảm thấy rất hài lòng) (Oxford dictionary)
Trong những thành ngữ so sánh kiểu này, các yếu tố theo sau AS thứ hai chỉ làm trợ từ để
nhấn mạnh. Nói cách khác không có mối tương quan giữa tính từ với vế để so sánh (ngoại trừ
trường hợp as hot as hell (nóng như địa ngục), giữa “hot” và “hell” có mối quan hệ ngữ nghĩa với
nhau vì địa ngục là nơi đày ải, nơi dùng nhiều cực hình liên quan tới lửa để trừng trị kẻ xấu, nên
trường hợp này không được tính vào loại trên).
b/ Thành ngữ so sánh với “like” (Like-simile)
Một số ví dụ cho thành ngữ so sánh với “like”: like a wind (như gió), like an oven (như cái lò
nướng), like a rat in a hole ( như chuột trong hang), like a house on fire (như ngựa trên lửa),like
smoke (như khói), like water off a duck’s back (nhu nuoc do dau vit), like blazes (như lửa),…
Thành ngữ so sánh với “like” có hai dạng sau:
*is + LIKE + đối tượng so sánh
có nghĩa là “impudent” (trơ trẽn), right as rain có nghĩa là “satisfactory” (tốt đẹp).
Nhiều As-similes có thể có hơn một nét nghĩa, ví dụ: hard as nails vừa có nghĩa là cứng cáp
(vật chất), vừa có nghĩa là lạnh lùng, vô cảm, dửng dưng (tinh thần); dry as dust có thể là sự khô
khan (vật chất) hay là sự tẻ nhạt- nhàm chán (cảm xúc).
Trong nhiều trường hợp, các nét nghĩa khác nhau của tính từ đa nghĩa sẽ chọn lựa những
nhóm danh từ tương ứng khác nhau. Ví dụ thick as thieves có nghĩa là sự thân thiết, nhưng thick as
two short planks lại mang nghĩa là “ngu ngốc”, red as blood liên quan tới màu sắc trong khi red as a
beetroot lại liên quan tới sự bối rối hay giận dữ.
Một vài As-similes mang nghĩa châm biếm, mỉa mai, như: clear as mud với nghĩa “unclear”
(không rõ ràng), as traight as a round-about (thẳng như… bùng binh-> không thẳng), as funny as a
funeral (vui như ...đám tang-> buồn).
c/ Norrick (1986) đã bàn về nghĩa của tính từ trong similes và mối quan hệ giữa tính từ với
cụm danh từ (đối tượng so sánh) và khách thể được miêu tả. Ông chia thành ba tiểu loại sau: nghĩa
đen, nghĩa bóng, và nghĩa không thích hợp. Ở nhóm đầu tiên, tính từ duy trì nét nghĩa ban đầu,
nghĩa đen hay là nghĩa cụ thể (ví dụ: quick as a flash, flat as a pancake), trong nhóm thứ hai, nghĩa
của tính từ là nghĩa đen trong mối quan hệ với cụm danh từ làm đối tượng so sánh, nhưng lại mang
nghĩa bóng trong mối quan hệ với khách thể miêu tả (chẳng hạn, cool as a cucumber, sharp as a
tack). Ở nhóm thứ 3, các tính từ nói tới đặc tính được gán cho khách thể chứ không phải cho danh từ
làm đối tượng so sánh (ví dụ: daft as a brush, poor as a church mouse). Norrick cũng đã khảo sát:
dựa trên 366 similes liệt kê được trong “The Oxford Dictionary of Proverbs” (1970), có 25% tính từ
nói tới màu sắc hay cảm nhận giác quan khác trong khi đó có 38% đối tượng so sánh là động vật,
19% là cây cối và các sản phẩm thiên nhiên khác, 14% là vật tạo tác, vải vóc, nhà cửa,..v.v. Trong
bài viết “Conventionalized as-similes in English” (2008), Rosamund Moon lại có con số khác một
chút: Số lượng động vật ít hơn, nhưng vật tác tạo và môi trường tự nhiên lại nhiều hơn, trong khi đó
hơn 70% tính từ đề cập tới màu sắc hoặc đặc tính vật lý (không nhất thiết là từ chỉ giác quan), chiều,
tốc độ, tuổi tác [89, tr. 3-37].
d/ Nhiều similes là cơ sở hình thành nhiều từ ghép. Chẳng hạn: ice-cold (as cold as ice),
pitch-dark (as dark as pitch), bone-dry (ais dry as bone), lightning-quick (as quick as lightning), jetblack (as black as jet), crystal- clear (as clear as crystal), button- cute (as cute as a button), rock-
ngữ đó như tiếng mẹ đẻ. “Mặc dù là quy luật chung phản ánh hiện thực khách quan của những
người bản ngữ thuộc ngôn ngữ (văn hóa) khác nhau, trong hệ thống ý nghĩa không thể không phản
ánh đặc trưng văn hóa- dân tộc của hoạt động được tiến hành bằng công cụ giao tiếp” [71, tr. 17].
Chúng ta sẽ khó có thể dịch được hoàn toàn đầy đủ nội dung ý nghĩa của từ trong ngôn ngữ này
bằng một từ của ngôn ngữ khác. Do đó, việc nghiên cứu ngôn ngữ có thể giúp tìm hiểu được nét độc
đáo về văn hóa- dân tộc của chủ thể ngôn ngữ ấy.
Chúng ta có thể lấy một vài ví dụ về từ ngữ chỉ động vật như: “rồng”, “bò”, “dê”, “chim
khách” để làm sáng tỏ điều đã nói ở trên. Như vậy, ngoài chức năng định danh ra, các từ ngữ trên
còn hàm chứa yếu tố văn hóa bên trong thông qua việc gợi lên một sự liên tưởng nào đó. Các từ ngữ
này thể hiện cách cảm nhận, cách đánh giá các con vật xấu hay tốt. Trong tiếng Việt, từ “con rồng”
ngoài chức năng định danh chỉ một con vật tưởng tượng ra, nó còn là biểu tượng của nhà vua và dân
tộc Việt. Người Việt thường tự nhận là “con rồng cháu tiên”. Nhưng với người phương Tây, từ
“dragon” (rồng) lại gợi lên một con vật rất hung ác, luôn làm hại con người.
Tương tự như vậy, trong Hán ngữ, con bò vàng (lão hoàng ngưu) tượng trưng cho những
người làm việc cần cù, khiêm tốn, là một danh hiệu rất quí giá. Nhưng trong tiếng Việt, con bò lại là
một biểu tượng của sự ngu đần. Người ta nói “ngu như bò”. Trong khi đó để chỉ người kém thông
minh, người Mỹ nói “óc nhỏ như hạt đậu” (bean).
Trong ngôn ngữ Việt, từ lóng “dê” có nghĩa không đẹp, dùng để chỉ đàn ông đa dâm: “máu
dê”, “dê cụ”, “dê xồm”, “râu dê”,... Nhưng trong Hán ngữ thì dê là hình ảnh dễ thương, hiền lành.
Ngoài ra vì đồng âm với chữ may mắn nên người Trung Hoa xem con dê là tượng trưng cho sự may
mắn.
Người Việt và người Trung Hoa cho con chim khách là biểu tượng của điềm lành, tin rằng nó
đem lại tin vui. Nhưng với người Châu Âu, hình ảnh chim khách không quý báu gì, ở nước Nga
người ta cho loại chim này là tượng trưng cho kẻ đâm bị thóc, chọc bị gạo và kẻ trộm.
Hàm tố văn hóa trong ngữ nghĩa của từ còn được thể hiện qua cách dùng từ đó. Ví dụ một từ
có cùng nghĩa nhưng lại thay đổi, hay thêm bớt nghĩa, tùy theo cách dùng, cách đặt câu của từng
quốc gia. Chẳng hạn như từ “nóng”/ “hot”/ ”chaud” của tiếng Việt/Anh/Pháp. “Nóng” của tiếng
Việt giống như “hot” của tiếng Anh ở chỗ ngoài chỉ tính chất vật lý nhiệt độ cao còn có nghĩa nóng
new pin (sạch như chiếc đinh ghim), as clean as crystal (sạch như thuỷ tinh), as clean as
springwater (sạch như nước mùa xuân),…
Có thể xảy ra sự gặp gỡ trong việc lựa chọn đối tượng so sánh do tính phổ quát của vũ trụ,
tính phổ quát sinh học, tư duy của con người hoặc do sự tiếp xúc xã hội. Những thành ngữ ở hai
ngôn ngữ giống nhau hoàn toàn về sự lựa chọn vật so sánh, về ngữ nghĩa và cách dùng thật sự rất
hiếm. Ta có vài ví dụ hiếm hoi sau: ướt như chuột lột- like a drowned rat, như nước đổ đầu vịt –like
water off a duck’s back, như chó với mèo- like cat and dog,... Tuy nhiên, trong hầu hết sự gặp gỡ
này, mỗi dân tộc cũng vẫn thể hiện được nét riêng thông qua cách sử dụng thành ngữ biểu trưng cho
cái gì. Chẳng hạn người Việt và người Anh đều có thành ngữ nóng như lửa. Người Anh nói as hot
as fire. Như vậy chúng ta thấy hai ngôn ngữ đều chọn đối tượng so sánh là “lửa” (fire), một vật rất
quen thuộc trong đời sống con người nói chung. Hai thành ngữ tưởng chừng hoàn toàn tương đương
nhau, song lại bộc lộ điểm riêng ở chỗ: người Anh dùng thành ngữ này để chỉ nhiệt độ cao mang
tính vật lý trong khi người Việt dùng để chỉ trạng thái nóng nảy trong tính cách con người cả việc
thể hiện nhiệt độ cao. Một ví dụ khác nữa là thành ngữ lạnh như sắt, lạnh như đá trong tiếng Việt và
as cold as steel/ as cold as stone trong tiếng Anh. Nếu như lạnh như sắt/ đá trong tiếng Việt chỉ đề
cập tới thái độ lạnh lùng, dửng dưng của con người, thì as cold as steel/ stone lại vừa chỉ nhiệt độ
thấp, vừa chỉ thái độ vô cảm của con người.
Sự khác biệt mang tính văn hoá - dân tộc qua thành ngữ so sánh còn thể hiện ở thái độ đánh
giá sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn các thành ngữ so sánh có thành tố động vật. Cùng khai thác một
loài vật nhưng mỗi dân tộc lại có những liên tưởng khác nhau. Nói như Nguyễn Thuý Khanh: “Mỗi
con vật thường gợi lên trong ý thức của người bản ngữ một sự liên tưởng nào đó, gắn liền với
những đặc điểm, thuộc tính của con vật” (Dẫn theo Nguyễn Thị Bảo, [4 tr.34]). Do đó mỗi thành tố
động vật đều gợi lên những đặc điểm, tính chất khác nhau phụ thuộc vào quan niệm, tâm sinh lý, tư
duy của mỗi dân tộc. Ví dụ, hình ảnh “chuột” trong tâm trí người Việt Nam thường gợi lên nét
nghĩa tiêu cực, như sự bẩn thỉu trong hôi như chuột chù, hay kẻ cơ hội, bất tài gặp dịp may trong
như chuột sa hũ nếp, kẻ tiểu nhân trong len lét như chuột ngày trong khi đó, từ “mouse” (chuột)
trong tiếng Anh lại gợi lên hình ảnh một người lặng lẽ, nhút nhát (as quiet as a mouse- lặng lẽ như
chuột), hay một người trong hoàn cảnh nghèo hèn rất đáng thương (as poor as a church mousenghèo như chuột ở nhà thờ). Hoặc qua thành ngữ so sánh Việt, hình ảnh “gà” thường gợi đến việc
Việc tìm hiểu, nghiên cứu nét tương đồng và khác biệt giữa các ngôn ngữ nói chung và thành
ngữ ở mỗi dân tộc nói riêng không những có giá trị trên phương diện ngôn ngữ học mà còn trong
nhiều lĩnh vực khác như văn học, dịch thuật, văn hoá, lịch sử,… Trong dịch thuật, đặc biệt là dịch
văn học, việc dịch tục ngữ, thành ngữ từ ngữ nguồn sang ngữ đích không phải là một việc đơn giản,
cho tới nay vẫn còn nhiều tranh luận, chủ yếu giữa hai trường phái: hướng nguồn (Source-oriented)
T
2
T
2
và hướng đích (Target-oriented). Trường phái “hướng nguồn” đề xuất giải pháp dịch bám sát nghĩa
2T
T
2
từng từ (word by word) có trong thành ngữ của văn bản nguồn để trung thành với tinh thần và sắc
thái của nguyên bản. Trong khi đó, trường phái “hướng đích” lại chủ trương dịch bằng thủ pháp
tương đương về ngữ nghĩa của thành ngữ, tức chỉ chú ý đến việc chuyển tải cái được biểu đạt.
Để lý giải cho sự gặp gỡ thú vị giữa hai ngôn ngữ, Whatmough trong “Language” (1956) đã đề
cập tới tính phổ quát ngôn ngữ (universaux linguistiques): “Ngôn ngữ dù có khác nhau nhưng vẫn
có những tính phổ biến cơ bản, chúng tái hiện trong tất cả các ngôn ngữ cho đến đây đã được xem
xét” [5, tr.10-12]. Tính phổ quát của ngôn ngữ có thể xem như là sự tương đồng giữa các ngôn ngữ
về mặt ngữ nghĩa, ngữ âm, hình vị, ngữ pháp,... Sự phổ quát trong ngôn ngữ có thể xuất phát từ
nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như do đặc điểm chung trong tâm sinh lý con người, tính phổ quát
của vũ trụ. Cùng là con người nên dân tộc nào cũng có những điểm giống nhau về sinh lý và tâm
trạng, cảm xúc,… Martinet, một nhà ngôn ngữ người Pháp cho rằng: “vì con người sống chung một
hành tinh và có điểm chung là sự tương đồng về thể chất và tâm lý, cho nên chúng ta có thể phát
hiện ra một sự song song nào đó trong sự phát triển của lời ăn tiếng nói” [5, tr. 10-12]. Đó là lí do
ngôn ngữ nguồn.
1.4. Yếu tố tính từ trong thành ngữ so sánh Việt - Anh chứa tính từ
Yếu tố tính từ trong thành ngữ so sánh là những thuộc tính, tính chất, đặc điểm được dùng làm
căn cứ so sánh giữa các sự vật hiện tượng, chúng giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện ngữ
nghĩa của thành ngữ. Việc khảo sát yếu tố tính từ nhằm làm rõ các vấn đề sau đây:
+Hai ngôn ngữ đã sử dụng những tính từ nào trong thành ngữ so sánh, từ đó rút ra những tính
từ cùng được dùng so sánh trong hai ngôn ngữ và những tính từ chỉ được so sánh ở mỗi ngôn ngữ.
+Tần số xuất hiện của mỗi tính từ trong thành ngữ so sánh ở hai ngôn ngữ. Điều này cũng
góp phần thể hiện nét riêng ở mỗi ngôn ngữ.
+Số lượng thành ngữ so sánh ở mỗi phạm vi nhóm tính từ.
Yếu tố tính từ trong thành ngữ so sánh luôn là cái “bắt buộc trong cấu trúc sâu, nhưng không
nhất thiết phải ổn định trên cấu trúc bề mặt” [30, tr.102]. Quả thực vậy, trong cấu trúc thành ngữ
kiểu “như + đối tượng so sánh”, ta luôn có thể ngầm hiểu về một thuộc tính nào đó được nằm ẩn
trong bề sâu của thành ngữ. Ví dụ trong thành ngữ như cá nằm trên thớt, ta có thể ngầm hiểu tính từ
được đề cập là “nguy hiểm”. Tuy nhiên cơ sở để xác định tính từ trong các thành ngữ kiểu này
không rõ ràng, mang tính mơ hồ, không chắc chắn. Trong nhiều trường hợp, việc nhận diện cơ cấu
ngữ nghĩa của những thành ngữ này gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi
chỉ tiến hành khảo sát những thành ngữ so sánh có sự xuất hiện một cách hiển minh của tính từ với
cấu trúc “tính từ + như + đối tượng so sánh” trong tiếng Việt và thành ngữ với cấu trúc “tính từ+
as+đối tượng so sánh” trong tiếng Anh.
Ngay bản thân việc nhận diện tính từ trong tiếng Việt vẫn còn là vấn đề phức tạp. Khác với
các ngôn ngữ châu Âu, tính từ tiếng Việt có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu. Đây là một đặc điểm
làm tính từ gần với động từ hơn về bản chất ngữ pháp. Trên thực tế có nhiều từ khó có thể xét thuộc
về từ loại tính từ hay động từ. Dù các nhà Việt ngữ học đã đưa nhiều tiêu chí để nhận diện tính từ,
song vẫn chưa có một giải pháp triệt để cho tất cả mọi trường hợp, đặc biệt là trong việc phân biệt
tính từ chỉ trạng thái con người (vui, buồn, đói,…) và động từ chỉ trạng thái con người (mừng, chết
đứng, say, khinh,…). Tuy nhiên, luận văn của chúng tôi sẽ không lạm bàn về vấn đề này. Để tập
hợp các thành ngữ so sánh tiếng Việt chứa yếu tố tính từ giữa kho tàng thành ngữ so sánh của dân
U
U
U
như hến, nhát như thỏ, sướng như tiên, vênh váo như bố vợ phải đấm, bình chân như vại, nóng như
U
U
U
U
U
U
U
U
U
U
Trương Phi, đa nghi như Tào Tháo, hỗn như gấu, khư khư như ông từ giữ oản, lành như đất, nghịch
U
đau (10), đói (1), gan (1), hau háu (1), hiền (4), hỗn (1), hùng hục (1), im (11), kín (1), khép nép (1),
khôn (3), khư khư (1), lanh (1), lành (3), lật đật (2), lúng búng (1), lúng túng (1), lừ đừ (1), lười (1),
ngang (1), ngây (1), nóng (nảy) (2),nghịch (1), ngu (3), nhanh (9), nháo nhác (2), nhát (2), nhạt (2),
nhục (1), nhức (1), oan (1), rát (1), rầu (1), rối (7), sướng (4), tất tưởi (1), tê tái (2), thất thểu (1),
tỉnh (2), tiu nghỉu (3), tự nhiên (1), tức (2), thẳng (2), thật (thà) (2), thay đổi (2), thất thểu (1), thủy
chung (1), trơ (5), ủ rũ (1), vênh váo (1), vui (5), vững (5).
Những tính từ trong nhóm này có mật độ xuất hiện cao hơn cả là: im (11), đau (10), rối (7), vui
(5), vững (5), hiền (4), buồn (4).
* Nhóm 2: Tính từ chỉ hình dáng, kích thước, số lượng
Đây là nhóm tính từ thuộc các thành ngữ so sánh thể hiện hình dáng bề ngoài, kích thước của
sự vật, hiện tượng. Ví dụ: bé như con kiến, cao như sếu, gầy như con mắm, mỏng như lá lúa, rạc
U
U
U
U
U
U
U
U
như xác ve, thấp như vịt, thẳng như kẻ chỉ, to như Hộ Pháp, tròn như hột mít, trần như nhộng, sù sì
* Nhóm 3: Tính từ chỉ màu, mùi, vị
Nhóm này gồm 15 tính từ (chiếm 8,9 %): bạc (2), đen (10), đỏ (10), trắng (4), xanh (4), vàng
(1), cay (1), chua (5), đắng (3), mặn (2), ngọt (4), nhạt (3), gắt (2), hôi (2), tanh (1).
Ví dụ: bạc như vôi, đen như cột nhà cháy, đỏ như máu, xanh như lá, vàng như nghệ, cay như
U
U
U
U
U
U
U
U
U
U
U
U
ớt, chua như giấm, đắng như mật, mặn như muối, ngọt như đường, nhạt như nước ốc, gắt như mắm
U
U
Những tính từ có tần số xuất hiện cao trong nhóm này là: đen (10), đỏ (10), chua (5), xanh (4).
Thuộc nhóm này có 51 thành ngữ so sánh (chiếm 12,26 % trong số 416 thành ngữ so sánh được
khảo sát).
* Nhóm 4: Tính từ chỉ đặc tính khác của sự vật
Đây là nhóm tính từ nằm trong các thành ngữ so sánh phản ánh tính chất, đặc điểm của sự vật,
hiện tượng. Chẳng hạn: bẩn như hủi, sạch như lau, căng như da trống, cứng như đá, mềm như bún,
U
U
U
U
U
U
U
U
U
U
dẻo như múa, dễ như trở bàn tay, khó như lên trời, đắt như tôm tươi, rẻ như bèo, êm như ru, giống
U
nát (2), nặng (2), nóng (10),, nhanh (9), nhẵn (1), nhăn (2), nhẹ (3), nhũn (1), óng (1), ồn (2), quý
(1), rách (2), rành rành (2), rẻ (2), rét (1), rõ (1), sạch (3), sáng (2), sắc (3), tái (2), tối (5), trơn (1),
ướt (1), vắng (2).