LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN: BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
--------@&?--------

HOÀNG THỊ KIỀU TRANG

BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
TRONG TẢN VĂN Y PHƯƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học : TS. Lê Thị Bích Hồng

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn Bản sắc văn hóa dân tộc trong tản văn Y
Phương tôi đã nhận rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới TS Lê Thị
Bích Hồng, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà thơ Y Phương đã nhiệt tình
giúp đỡ, khuyến khích tôi trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại
học, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Tổ bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên
chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những
người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực

vậy. Người trai Tày sinh ra và lớn lên ở làng Hiếu Lễ, dưới chân núi Bo Păn ở
gần biên giới Việt – Trung, thuộc huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) nổi lên như
một gương mặt thơ tiêu biểu, xuất sắc, một phong cách riêng, độc đáo cho
vùng văn hóa dân tộc miền núi vừa đậm đà bản sắc “người đồng mình”, vừa
rộng mở giao hòa với vùng văn hóa rộng lớn để hợp lưu thành con sông văn
chương Việt Nam.

1


Là một trong những cây bút tiêu biểu của dân tộc Tày, cầm bút từ
những năm chiến tranh lửa đạn khốc liệt cho tới bây giờ, Y Phương vẫn miệt
mài trên từng con chữ, lao động sáng tạo không ngừng để hôm nay là “ông
chủ” sở hữu một “gia tài” không nhỏ văn chương gồm thơ và tản văn. Các tác
phẩm của anh đã góp phần đưa văn học của các dân tộc thiểu số đến gần hơn
với độc giả và trở thành một bộ phận không thể thiếu đóng góp vào thành tựu
chung của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Là nhà thơ dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trên quê hương Cao Bằng, Y
Phương luôn cháy bỏng một khát khao đem đến cho bạn đọc một cái nhìn chân
xác nhất về cảnh sắc thiên nhiên và con người quê hương anh, cũng như cuộc
sống và con người của đồng bào Tày ở Cao Bằng nói chung và vùng quê Trùng
Khánh nói riêng. Chính vì vậy, đọc tác phẩm nào của anh, độc giả sẽ cảm nhận
được chất “miền núi” thấm sâu và lan tỏa trên từng con chữ, câu văn.
1.3 Tản văn trong những năm gần đây bắt đầu được sự công nhận từ
góc độ giới chuyên môn. Dường như “Tản văn Việt Nam hiện đại – một thể
loại bị lãng quên” (Trần Đình Sử) đang có sự hồi sinh và ngày càng chứng tỏ
thế mạnh cũng như sự hấp dẫn của mình với nhiều cây bút như: Tản mạn
trước đèn của Đỗ Chu, Nhân trường hợp chị Thỏ bông của Thảo Thảo, Tản
văn Nguyễn Ngọc Tư… Tản văn Kung fu người Co Xàu, đặc biệt tản văn
Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng dao quắm của Y Phương nhận được giải

một nhà thơ miền núi rất mới mẻ. Thơ anh vừa dân tộc, nhưng có cái gì hiện
đại, hôm nay và mai sau…Y Phương bắt đầu tuổi trẻ của mình bằng cuộc đời
người lính và bắt đầu đời thơ mình là những bài thơ đánh giặc” [20, 246].
Nguyễn Hữu Tiến nhận thấy: “Thơ Y Phương vừa hiện đại vừa dân tộc
là bởi vì anh đã kết hợp truyền thống văn hóa của quê hương mình với mọi
miền quê của đất nước” [68, 272].
Tác giả Tạ Duy Anh đánh giá Y Phương là “Người gảy khúc đàn trời để
viết những bài ca vút lên từ đất, ca ngợi xứ sở đã nuôi ông thành thi sĩ” [7, 293].

3


TS Chu Văn Sơn nhận thấy sự gắn kết sâu sắc của Y Phương với cội
nguồn xứ sở: “Sự tha thiết với xứ sở dân tộc mình chính là nhịp tim thầm kín,
bền vững nhất trong từng bài thơ Y Phương, là cốt lõi của giọng hát Y
Phương” [60, 264].
Theo Trúc Thông, “Y Phương không yêu dân tộc mình ở đầu lưỡi, lạm
dụng chất dân tộc. Qua tất cả những cảnh huống sinh hoạt vật chất và tinh
thần hiện thực, những đam mê và đau khổ trần trụi, những chìm lặng không
sao nói hết và những sự thật cuộc đời… Y Phương tiếp tục phát hiện về dân
tộc mình” [76, 273].
Trần Mạnh Hảo nhận thấy cái chất Y Phương “Nhẩn nha sống – nhẩn nha
thơ” để “nhìn cuộc đời bằng đôi mắt thơ ngây của hoa lá dân tộc mình, rung
động bằng trái tim suối nguồn và tư duy bằng sừng đá”. Trần Mạnh Hảo còn
nhận ra sự thống nhất trong những mặt đối lập “thơ Y Phương bình dị, chân
chất, hồn nhiên, giấu cất mà he hé lộ thiên, lặng lẽ mà bùng nổ, như chính cuộc
đời ông, con người ông” [23, 303].
Nhiều bài viết về thơ Y Phương đăng trên báo chí: Phạm Quang Trung
thừa nhận:“Y Phương trước sau nhất quán một xác tín nghề nghiệp” [80].
Lê Thị Bích Hồng đã phát hiện ra Y Phương thời kỳ đầu cầm bút không

nghiên cứu, phê bình đều nhìn nhận, đánh giá đúng “chất Y Phương” với một
tình yêu nồng thắm với quê hương xứ sở, một bản lĩnh kiên cường tích cực
giữ gìn bảo tồn văn hóa dân tộc. Nhưng chủ yếu mới xoay quanh lĩnh vực thơ
mà anh đã “gặt hái bội thu” những “Mùa hoa” giải thưởng.
Những năm gần đây, thơ Y Phương đã thu hút giới nghiên cứu, trong
đó phải kể đến một số luận văn cao học đặt thơ Y Phương trong mối liên hệ
với văn hóa, với bản sắc văn hóa dân tộc, đó là: “Bản sắc dân tộc trong thơ Y
Phương – Dương Thuấn” (Hà Thị Thu Trang, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2007); “Ngôn ngữ thơ Y Phương” (Lê Thị Huệ, Đại học Vinh, 2009); “Ngôn
từ nghệ thuật trong thơ Y Phương” (Nguyễn Thúy Hằng, Đại học Sư phạm

5


Hà Nội, 2011); “Bản sắc Tày trong thơ Y Phương và Dương Thuấn” (Nguyễn
Thị Thu Huyền, Đại học Thái Nguyên, 2009)... Luận án tiến sĩ “Thơ dân tộc
Tày từ 1945 đến nay” (Đỗ Thị Thu Huyền, Học viện Khoa học xã hội Việt
Nam, 2013) nghiên cứu các nhà thơ Tày, trong đó có thơ Y Phương.
2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về tản văn Y Phương
Là nhà thơ Tày thành danh, liên tiếp trong hai năm 2009-2010, Y
Phương ra mắt bạn đọc hai tập tản văn Tháng Giêng, tháng Giêng một vòng
dao quắm (Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành) và tản văn Kung fu người Co Xàu
(Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành năm 2010) đã thu hút nhiều độc giả và
giới nghiên cứu phê bình.
Nhận xét về tập tản văn Y Phương, Lâm Tiến viết “Mỗi tản văn của Y
Phương như một lát cắt, một tầng vỉa làm lộ dần chiều sâu văn hóa của quê
hương, của dân tộc. Y Phương không phải chỉ kể lại, tả lại những sự vật, những
hiện tượng mà đi sâu phân tích ý nghĩa cội nguồn của nó, đẩy những sự kiện,
tình huống đi đến tận cùng để từ đó khám phá, phát hiện tâm hồn, tính cách dân
tộc, nói rộng ra là ngọn nguồn, chiều sâu văn hóa của dân tộc” [66].

Tính đến thời điểm này, chưa nhiều luận văn nghiên cứu tản văn Y
Phương. Mới có một số luận văn, như: “Đặc trưng tản văn Y Phương” (Hồ Thị
Loan, Đại học Vinh, 2011); “Đặc sắc tản văn Y Phương” (Sùng Thị Hương,
Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2013). Cùng với tôi, hiện ở Khoa Ngữ văn Đại
học Sư phạm Hà Nội có một luận văn nghiên cứu tản văn Y Phương “Những
đặc sắc của tản văn Y Phương” (Nông Ngọc Hiên, chưa bảo vệ).
Tuy chưa nhiều công trình nghiên cứu tản văn Y Phương, nhưng những
nghiên cứu trước là những gợi ý quý báu cho tôi thực hiện đề tài này.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát chủ yếu hai tập tản văn của Y Phương:
Tháng Giêng tháng Giêng một vòng dao quắm (Nhà xuất bản Phụ nữ 2009)
và tản văn Kung fu người Co Xàu ( Nhà xuất bản Hội nhà văn 2010). Ngoài

7


ra, để hiểu đầy đủ bản sắc dân tộc trong tản văn Y Phương, chúng tôi khảo sát
mở rộng sang một số các tập thơ và trường ca của anh như: Đàn then, Tiếng
hát tháng Giêng, Chín tháng. Đò trăng, Thơ Y Phương, Thất Tàng lồm
(Ngược gió)…
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp dưới đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp.
-Phương pháp thống kê- phân loại.
- Phương pháp liên ngành (văn hóa học, dân tộc học...).
- Phương pháp đối chiếu so sánh.
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại.
5. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn của chúng tôi góp phần xác định vị trí,
những đóng góp của tản văn Y Phương trong tản văn hiện đại Việt Nam.

rằng tản văn là “một tiểu loại kí ngắn gọn, hàm súc theo tùy hứng của tác giả,
có thể bộc lộ trữ tình, tự sự hoặc nghị luận, thường là mấy thứ đan quyện
nhau. Lối thể hiện đời sống trong tản văn mang tính chất chấm phá, tuy vậy,
ngòi bút tản văn chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh
cốt yếu và bất ngờ. Có lẽ đặc trưng quan trọng nhất của thể loại tiểu kí này là
ở chỗ tất cả những gì được thể hiện biểu hiện trong bài tản văn đều mang đậm
dấu ấn cách cảm nhận và cảm nghĩ của riêng tác giả”. Như vậy, theo quan
niệm của GS Hoàng Ngọc Hiến thì tản văn vẫn chưa thể tách ra thành một thể
loại riêng biệt, tồn tại độc lập mà vẫn “dưới trướng” của thể kí; tuy nhiên có
một số đặc trưng nổi bật nhất của tản văn được Hoàng Ngọc Hiến đề cập tới ở
đây: sự tự do trong cách biểu hiện (có thể tự sự, trữ tình, nghị luận), sự luận
giải mang tính cá nhân của người viết đối với vấn đề đưa ra được đề cao.

9


Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử chủ biên):
“Tản văn là loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có thể trữ tình, tự sự, nghị
luận, miêu tả phong cách, khắc họa nhân vật. Lối thể hiện đời sống của tản
văn mang tính chất chấm phá, không nhất thiết đòi hỏi có cốt truyện phức
tạp, nhân vật hoàn chỉnh nhưng có cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, cốt cách cá
nhân. Tản văn là loại văn tự do, dài ngắn tùy ý, cách thể hiện đa dạng, đặc
biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và cá tính tác giả, có truyền thống lâu đời
và sức sống mạnh mẽ” [22, 293-294].
Trong bài tản văn trên báo văn nghệ 2011, tác giả Nguyễn Thị Lan cho
rằng tản văn là một thể loại văn học độc lập:“Tản văn có những đặc điểm
khác với những thể loại khác. Tản văn là những bài viết tản mạn tương đối tự
do; về dung lượng khá ngắn gọn, hàm súc; về kết cấu: có sự linh hoạt tất cả
các phương thức, phương tiện biểu hiện nghệ thuật; về nội dung: thường biểu
hiện đời sống theo kiểu chấm phá và đặc trưng quan trọng nhất là thể hiện

Mỗi quốc gia có một nền văn hóa riêng và mỗi dân tộc cũng sẽ có bản
sắc văn hóa của riêng mình. “Bản” là cái gốc, cái căn bản, cái lõi, cái hạt nhân
của một sự vật. “Sắc” là thể hiện ra ngoài. Nói bản sắc dân tộc của văn hóa
Việt Nam tức là nói những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân
của dân tộc Việt Nam. Nói những hạt nhân giá trị hạt nhân tức là không phải
nói tất cả mọi giá trị, mà chỉ là nói những giá trị tiêu biểu nhất, bản chất nhất,
mang tính dân tộc sâu sắc biểu hiện trong mọi lĩnh vực của nền văn hóa Việt
Nam, trong các lĩnh vực văn học nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc,
kiến trúc, sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng ngày của người Việt Nam... Bản
sắc văn hoá dân tộc bao hàm những mặt được hình thành và gắn bó với dân
tộc từ thuở xa xưa, các mặt này được duy trì theo quá trình của lịch sử. Đó là
các kiểu quan hệ hay một kiểu lựa chọn riêng của một cộng đồng về một

11


phương thức ứng xử nào đó, khiến cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc
đáo nhằm phân biệt với các dân tộc khác.
Nói đến bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam là nói đến những tinh
hoa, những giá trị bền vững được hun đúc, vun đắp trong suốt chiều dài lịch
sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những giá
trị ấy, những tinh hoa ấy đã tạo nên những nét đặc sắc, riêng có ở cộng đồng
các dân tộc Việt Nam, trong con người Việt Nam.
Bản sắc văn hóa Việt Nam là tố chất được hợp luyện cùng chiều với lịch
sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bản sắc đó không
phải là một hằng số, là những giá trị bất biến, mà có những giá trị mới được
hình thành, bồi tụ trong quá trình hội nhập, tiếp biến giữa các nền văn hóa.
Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng,
khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân
tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Bản sắc

“xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn
bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người”. Trong cương lĩnh xây
dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm
2011), Đảng ta tiếp tục hoàn chỉnh: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng,
thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa
gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng
tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Nghị
quyết số 33-NQ/TW ngày 09-6-2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa
XI về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định bản sắc dân tộc “Xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa

13


dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân
văn, dân chủ và khoa học”.
Văn hóa và văn học có mối quan hệ mật thiết bởi trước hết văn học có
thể coi là một bộ phận nằm trong chỉnh thể của nó là văn hóa, mỗi nhà văn
khi sáng tạo tác phẩm của mình đều phải dựa trên một nền tảng rộng lớn là
văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại. Có thể coi văn học là một tấm gương
vừa phản chiếu, vừa thu nhỏ bộ mặt văn hóa của từng thời đại vào trong đó.
Đặc biệt văn học sẽ kết tinh toàn bộ các phương diện của văn hóa vào trong
thế giới nghệ thuật của mình. Bielinxki từng viết: “Văn học cũng như mọi
loại hình nghệ thuật khác đều là sản phẩm tinh thần của một cá nhân nghệ sĩ.
Mà cá nhân người nghệ sĩ đó lại thuộc về một cộng đồng, một dân tộc nhất
định. Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa,
phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình. Vậy

nghiệp dựng nước và giữ nước mà còn sớm hình thành một nền văn hóa, làm
phong phú thêm nền văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam.
* Văn hóa sản xuất
Từ rất lâu đời người Tày đã sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước.
Do có mặt sớm hơn các dân tộc khác nên người Tày đã khai phá và làm chủ
được những vùng thung lũng phẳng. Việc trồng lúa nước của người Tày được
ghi dấu trong truyền thuyết Pú Lương Quân của dân tộc mình. Vì địa hình đồi
núi cao, hệ thống sông, suối thường thấp hơn các cánh đồng, đám ruộng, nên
từ xa xưa người dân đã biết đào mương, đắp phai, bắc máng, làm cọn lấy
nước lên ruộng và lợi dụng sức nước để giã gạo.
Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu, cây ăn
quả… Các loại cây công nghiệp cũng được người dân chú trọng phát triển
như thuốc lá, trẩu, hồi, tre, trúc…

15


Người Tày rất chú trọng phát triển về chăn nuôi. Bởi ngoài trồng trọt,
chăn nuôi cũng đem lại nguồn thu lợi đáng kể cho kinh tế hộ gia đình. Từ bao
đời nay, dân tộc Tày đã có quan niệm “tu mò nhò pỏ khỏ” (con bò giúp đỡ
người nghèo). Cư dân Tày cổ cũng đã biết thuần dưỡng trâu để phục vụ sản
xuất. Chính vì vậy con trâu được chọn làm vật tế lễ trong lễ hội “Lồng
Tôồng”, hình đầu trâu được treo trong nhà ở những chỗ trang trọng nhất. Điều
này thể hiện tín ngưỡng của dân tộc đối với con vật sống gần gũi và có ích
trong đời sống của người dân.
Săn bắt, hái lượm cũng là một nét phong tục quen thuộc của dân tộc
Tày, đặc biệt là nghề đánh bắt cá ở sông, suối. Hầu như gia đình người Tày
nào cũng có dụng cụ để đánh bắt cá (bằng chài, lưới, vó, đơm…). Một số
người còn chủ yếu sống dựa vào nghề này.
Dân tộc Tày rất nổi tiếng với các nghề thủ công, như: đan lát các vật

vịt, ngan, lợn và chế biến thành những món ăn mang đậm phong vị miền núi.
Các loại bánh trái làm trong ngày tết lễ hết sức phong phú, như: bánh chưng,
bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh khảo, chè lam, bánh trứng kiến, bánh
cuốn… đã trở thành nét độc đáo trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Tày.
Nước chè của người Tày chủ yếu được nấu bằng các loại lá cây do
đồng bào hái trên rừng và đều có tác dụng về y học. Từ lâu, người Tày đã biết
cất rượu bằng ngô, gạo, sắn ủ với men lá tự chế. Rượu được uống trong sinh
hoạt ngày thường, khi có khách đến nhà chơi thể hiện lòng hiếu khách vào
những ngày lễ tết.
Người Tày từ lâu đã cư trú tập trung thành bản. Vì thế, tên bản thường
gọi theo tên cánh đồng, khúc sông suối, hay dốc núi. Ở những nơi đất rộng
ruộng nhiều có bản tập trung tới hàng trăm nóc nhà, nơi ruộng ít thì cũng dăm
chục nóc nhà. Bản làng thường dựa lưng vào núi, trước mặt trông ra cánh
đồng. Nhà ở của dân tộc Tày thường là nhà sàn, nhà sàn đá, nhà đất; mái nhà
lợp bằng ngói âm – dương hoặc lá cọ, lá gianh…

17


Người Tày có câu nói “Chiêm slao, chiêm tin slửa” (kén gái nhìn tà áo) để
nói về tài nghệ của người phụ nữ Tày trong việc trồng bông, kéo sợi vải, nhuộm
chàm, cắt quần áo... Bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện rất rõ qua trang phục.
Trong trang phục truyền thống của dân tộc, “cả nam lẫn nữ đều mặc
quần áo màu chàm và hầu như cùng một kiểu, không thêu trang trí” [14,
290]. Riêng chiếc áo của phụ nữ thường may vừa vặn cơ thể: hơi nhân thêm
eo, ống tay nhỏ để tôn những đường nét của cơ thể. Khi mặc áo, bao giờ
người phụ nữ cũng thắt ra ngoài một chiếc thắt lưng bằng vải chàm để xõa
mối ra đằng sau tạo nên sự mềm mại. Người phụ nữ Tày cũng mặc áo dài năm
thân, cài khuy áo bên nách phải như nhiều dân tộc khác, nhưng vẫn tạo ra
dáng vẻ riêng của mình, nhờ thân áo dài chấm gót, tay áo hẹp bó sát giống

cất lên để mừng cho cô dâu chú rể, mừng cho gia chủ có được con dâu, con rể
thảo hiền, mừng cho cuộc sống mới… Tất cả các điệu si lượn đó đã tạo nên
một phần quan trọng trong đời sống văn nghệ của dân tộc Tày.
Người Tày là dân tộc theo tín ngưỡng đa thần. Các thần đều được gọi là
ma (phi), gồm phi phạ ở trên trời, phi đông ở trong rừng, phi pú pẩu là tổ
tiên… Bên cạnh quan niệm về các loại ma như trên, trong tâm thức của dân
tộc này còn có lại ma gà (phi cáy) ngự trị ở một số người. Đây là một loại ma
ác, thường làm hại nên người Tày rất ghét, sợ những ai bị mang tiếng là ma
gà. Mỗi khi gia đình có việc vui, buồn, ốm đau, bệnh tật… dân tộc Tày đều
hay mời thày mo, thày tào, bà bụt (pựt) về để hành lễ.
Trong một năm, người Tày có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác
nhau, Những dịp tết dù nhỏ hay to, người Tày đều làm những thứ bánh theo
từng thời điểm. Các loại bánh trái luôn biểu hiện cho bản sắc dân tộc của dân
tộc. Ví như mùng 3 tháng 3 là ngày tết ăn xôi ngũ vị, bánh trứng kiến; rằm
tháng bảy là tết bánh gai, bánh dợm và ăn thịt vịt quay… Đặc biệt nhất là
những ngày hội “Lồng Tôồng” (xuống đồng) tổ chức vào dịp đầu xuân ở
nhiều địa phương trong vùng với nhiều hình thức văn hóa và tín ngưỡng dân
gian mang đậm bản sắc dân tộc càng làm phong phú hơn đời sống văn nghệ,
đời sống tín ngưỡng của người dân.

19


Người Tày có kho tàng truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, tục
ngữ, truyện thơ phong phú, tiêu biểu là truyện Quả bầu, Thạch Sanh, Cẩu
Khây, Pú Lương Quân, Báo Luông - Sao Cải, Khảm hải (vượt biển)… Ngoài
ra, dân tộc tày còn có dân ca với các làn điệu đặc trưng như hát sli, lượn,
phong slư, phuối pác, puối rọi, vén eng… các làn điệu dân ca này phục vụ
trong đời sống sinh hoạt tinh thần, tín ngưỡng của người Tày.
Cũng giống như một số dân tộc thiểu số ở vùng cao khác, người Tày

tào”. Cha tôn trọng thiên hướng bẩm sinh và bài học đầu tiên dạy con là cách
xử thế nhân văn:
“Không bao giờ quỳ gối và nói lời cong
Con phải sống thẳng băng như đường mực”.
Thân mẫu anh là bà Nông Thọ Lộc - một phụ nữ, tảo tần, đảm đang,
tháo vát, hiểu biết rộng, giàu đức hy sinh, luôn khích lệ con trai lòng can đảm,
ý chí phấn đấu vươn lên, quý trọng tinh thần tự chủ: "Tốc đin rà mạ tấc. Tốc
đin than mạ mè" (Sống tại đất mình thành ngựa đực. Sống ở nơi người là
ngựa cái). Mẹ luôn răn dạy anh: “Hãy giữ mình như giữ lửa-Cứ ngồi -Đừng
sợ bóng người cong”; phải biết sống đẹp, ngẩng cao đầu kiêu hãnh “Không
bao giờ nhỏ bé được nghe con”. Ghi nhớ lời mẹ, anh đã gửi thông điệp đó vào
bài thơ “Nói với con” và cũng chính bài thơ được đưa vào chương trình giảng
dạy văn học lớp 9 đã đưa tên tuổi anh đến gần hơn với công chúng, với giáo
viên, học sinh, với những người yêu thơ…
Hứa Vĩnh Sước lớn lên trong niềm tự hào về truyền thống của quê
hương, gia đình và nhất là chú anh - ông Hứa Văn Khải ở làng Hiếu Lễ. Năm
1947, ông Hứa Văn Khải và hai cụ lão du kích đã dùng khẩu đại bác do mình
tạo ra bằng gỗ nghiến, đặt tên Sàng Là, bắn giặc Pháp khi chúng đang hành
quân qua đèo Keng Phác - một trận đánh có một không hai trong lịch sử chiến
tranh thế giới. Cảm phục chiến công của ba ông lão du kích Co Xàu, trong đó
có ông Hứa Văn Khải, Bác Hồ đã tặng bài thơ Tặng các cụ lão du kích:

21


“Tuổi cao ý chí càng cao
Múa gươm giết giặc ào ào gió thu
Sẵn sàng tiêu diệt quân thù
Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng”
Khẩu súng kỳ lạ đó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Pháo binh ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status