hoạt động quảng cáo trong chương trình truyền thông cổ động của doanh nghiệp - Pdf 21

PHẦN THỨ NHẤT
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢNG
CÁO TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN
THÔNG CỔ ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA
TRUYỀN THÔNG CỔ ĐỘNG:
1/ Khái niệm về truyền thông cổ động và các khái niệm khác có
liên quan:
1.1/ Khái niệm truyền thông cổ động:
Truyền thông cổ động là một trong bốn nội dung của Marketing
hỗn hợp. Đó là những hoạt động nhằm làm thay đổi lượng cầu dựa
trên những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên tâm lí và thị hiếu của
khách hàng.
1
1.2/ Các khái niệm có liên quan:
Marketing hỗn hợp là sự tập hợp các công cụ, các biến số có thể
kiểm soát được mà doanh nghiệp phối hợp sử dụng để tạo nên sự đáp
ứng cần thiết trong thị trường mục tiêu.
2
Trang 1
Marketing
mix
Sản phẩm Phân phối
Giá cả Cổ động
Các công cụ của Mar – mix
1.3/ Quan hệ giữa truyền thông cố động và các chính sách khác
của Marketing – mix:
SƠ ĐỒ TRIỂN KHAI MARKETING – MIX
Cổ động
Như vậy, truyền thông cổ động là một biến số của marketing –

chúng
Marketing
Tr c Ti pự ế
Kênh
phân
ph iố
Khách
hàng
m c tiêuụ
+ Quan hệ công chúngvà tuyên truyền: bao gồm các chương
trình khác nhau được thiết kế nhằm đề cao hay/và bảo vệ hình ảnh của
một doanh nghiệp hay những sản phẩm và dịch vụ nhất định nào đó.
+ Bán hàng trực tiếp: là hình thức giao tiếp trực tiếp với
khách hàng tương lai nhằm mục đích bán hàng.
2.2/ Một vài lợi thế và bất lợi của các công cụ xúc tiến chủ yếu:
4
Quảng cáo
Lợi thế
Có thể xúc tiến với nhiêu khách
hàng trong cùng một thời gian.
Chi phí khá thấp cho mỗi lần
quảng cáo.
Rất tốt trong việc tạo ra các hình
ảnh về nhãn hiệu.
Tính năng động và sự phong phú
của phương tiện để lựa chọn cao:
có thể đạt được nhiều loại mục
tiêu xúc tiến bán hàng.
Bất lợi
Quảng cáo cho nhiều khách hàng

khăn.
Các đại diện bán hàng tồi có thể
làm tổn thương đến việc bán hàng
cũng như công ty, sản phẩm, và
hình ảnh của thương hiệu.
Xúc tiến bán hàng
Lợi thế
Một phương pháp rất tốt để giảm
giá bán trong thời gian ngắn nhằm
khuyến khích nhu câu.
Có nhiều công cụ xúc tiến bán
hàng để lực chọn.
Có thể có hiệu quả để thay đổi
nhiều hành vi người tiêu dùng.
Trang 3
Có thể dễ dàng kết hợp với cac
công cụ xúc tiến khuếch trương
khác
Bất lợi
Có thể ảnh hưởng tới khách hàng
trung thành ban đầu.
Có thể chỉ có ảnh hưởng ngắn
hạn.
Việc sử dụng quá nhiều công cụ
xúc tiến bán hàng có liên quan
đến giá cả có thể gây tác hại cho
hình ảnh nhãn hiệu và lợi nhuận.
Các đối thủ cạnh tranh có thể bắt
chước các xúc tiến bán hàng có
hiệu quả.

nh nậ
Gi i ả


hoá
Phương tiện
truyền thông
Thông i pđ ệ
Mô hình trên nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong hệ thống
truyền thông có hiệu quả. Trong mô hình này, để người gửi và người
nhận có thể đến được với nhau đòi hỏi quá trình mã hóa của người gửi
và quá trình giải mã của người nhận phải ăn khớp nhau. Để làm được
điều này thì người gửi phải am hiểu những đặc điểm và thói quen…
của người nhận để từ đó mới có thể thiết kế những thông điệp cũng
như đưa các thông điệp đó lên những phương tiện truyền thông phù
hợp. Ngoài ra trong quá trình truyền thông điệp đến cho người nhận
thì người gửi cũng phải thường xuyên quan tâm, lưu ý đến yếu tố
nhiễu. Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tiếp nhận
thông điệp cuả người nhận vì trong một thời điểm người nhận có thể
nhận được hàng trăm thông điệp khác.
III. THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH QUẢNG CÁO:
1/ Mục tiêu quảng cáo:
Xác định được mục tiêu rõ ràng và chính xác là điều cơ bản
giúp cho hoạt động quảng cáo thành công. Mục tiêu không đúng đắn
dẫn đến những kế hoạch không thích hợp, cho dù kế hoạch có được
thực hiện một cách nghiêm chỉnh thì kết quả cuối cùng cũng chỉ là
một chiến dịch không thành công. Mục đích quảng cáo không đúng
đắn có thể gây nguy hiểm cho hiệu quả của toàn bộ phối thức chiêu thị
bao gồm quảng cáo – chào hàng – khuyến mãi – giao tiếp.
6

1.2/ Phân loại mục tiêu quảng cáo:
a/ Mục tiêu thông tin:
Một chiến dịch quảng cáo với mục đích tăng cường sự nhận
thức trên thị trường cố gắng báo tin cho thị trường mục tiêu biết sự tồn
tại của sản phẩm hay dịch vụ.
Quảng cáo thông tin thường được dùng nhiều trong giai đoạn
giới thiệu sản phẩm khi mục tiêu chủ yếu là tạo nên nhu cầu ban đầu.
b/ Mục tiêu thuyết phục:
Một chiến dịch quảng cáo đôi khi nhắm vào việc tạo ra những
niềm tin nhất định về sản phẩm, cơ sở cho ý kiến hay thái độ chung
của người tiêu dùng. Một chiến dịch quảng cáo có thể có mục đích
kích thích hoặc củng cố cảm xúc hiện thời của đối tượng về một sản
phẩm. Sự quan tâm của đối tượng có thể tăng lên khi đối tượng nhận
các thông tin mà họ không có sẵn trước đây. Mục tiêu này quan trọng
ở giai đoạn cạnh tranh, trong khi người tiêu dùng còn đang băn khoăn
trước hàng trăm nhãn hiệu khác nhau thì quảng cáo thuyết phục có thể
nêu bật được sự hơn hẳn của một nhãn hiệu, tạo dựng niềm tin cho
khách hàng.
c/ Mục tiêu nhắc nhở:
Quảng cáo nhắc nhở vô cùng quan trọng đối với những sản
phẩm ở thời kỳ sung mãn của chu kỳ sống. Một hình thức gần với loại
quảng cáo này là quảng cáo củng cố nhằm cam đoan với những người
mua hiện tại rằng họ đã lựa chọn đúng.
Việc lựa chọn mục tiêu quảng cáo cần căn cứ vào kết quả phân tích
kĩ lưỡng tình hình marketing hiện tại. Nếu người truyền thông xác
định sai mục tiêu quảng cáo hay đánh giá không đúng tình hình hiện
tại của công ty thì việc tổ chức thực hiện một chiến dịch quảng cáo là
vô nghĩa.
1.3/ Xây dựng mục tiêu quảng cáo:
Việc xây dựng mục tiêu quảng cáo không chỉ giúp cho việc lập

tầm
quan
trọng Khuyến mãi
Nhận biết Hiểu Thuyết phục Mua
+
Các mục tiêu và phối thức chiêu thị đối với sản phẩm
người mua quan tâm nhiều
8
+ Quảng cáo các sản phẩm người mua quan tâm ít: đối với sản
phẩm quan tâm ít thì kinh nghiệm trải qua về sản phẩm được coi là
một hoạt động đúng đắn hơn cả, nếm thử sản phẩm là mục tiêu chính,
do đó các hoạt động khuyến mãi đựoc đẩy mạnh, khi giai đoạn dùng
thử này thì chúng ta nên làm cho khách hàng lập lại hành động mua
bằng các loại quảng cáo nhắc nhở. Điều này cũng bảo đảm một mức
độ quen thuộc với sản phẩm cao, giúp tác động các lựa chọn tiếp theo.
Trang 7
Hiệu khuyến mãi
quả,
tầm quảng cáo
quan
trọng
Nhận biết dùng thử thái độ mua lại
+
Các mục tiêu và phối thức chiêu thị đối với sản phẩm
người mua quan tâm ít
2/ Xác định ngân sách quảng cáo:
Sau khi đã xác định mục tiêu quảng cáo, các doanh nghiệp phải
tiến hành xây dựng ngân sách quảng cáo cho từng loại sản phẩm của
mình. Có thể xác định ngân sách quảng cáo bằng bốn phương pháp
chủ yếu là : phương pháp căn cứ vào khả năng, phương pháp tỉ lệ phần

đang ở giai đoạn nào mà ta thiết lập ngân sách cho phù hợp. Chẳng
hạn, sản phẩm vừa mới tung ra thị trường thì đòi hỏi phải quảng cáo
thường xuyên, quảng cáo với quy mô lớn để mọi người biết đến sản
phẩm thì phần ngân sách này phải lớn, ngược lại nếu như sản phẩm
đang rơi vào giai đoạn bão hoà hay suy thoái thì ta nên chuyển phần
ngân sách dành cho quảng cáo này sang cho hoạt động bán hàng trực
tiếp hay khuyến mãi tiêu thụ…
+ Thị phần và điều kiện sử dụng: những nhãn hiệu có thị phần
lớn đòi hỏi chi phí quảng cáo ít hơn tính theo doanh thu bán hàng để
duy trì thị phần của mình. Để tạo thị phần bằng cách tăng qui mô thị
trường đòi hỏi chi phí quảng cáo lớn hơn. Ngoài ra nếu tính chi phí
trên ấn tượng thì việc tiếp cận những người tiêu dùng một nhãn hiệu
được sử dụng rộng rãi ít tốn kém hơn là tiếp cận những người tiêu
dùng nhiều nhãn hiệu ít được sử dụng.
+ Cạnh tranh: trên thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh đang
tổ chức một chiến dịch quảng cáo mạnh mẽ thì đòi hỏi chi phí quảng
cáo phải lớn để có thể loại trừ những thông tin nhiễu gây mất hình ảnh
về sản phẩm và công ty.
+ Tần suất quảng cáo: quảng cáo thường xuyên hay thỉnh
thoảng mới quảng cáo một vài lần đều có ảnh hưởng rất lớn đến ngân
sách dành cho quảng cáo.
+ Khả năng thay thế của sản phẩm: những nhãn hiệu thuộc loại
thông thương (như bột giặt, dầu gội đầu, nước ngọt…) đòi hỏi phải
quảng cáo mạnh mẽ để tạo nên sự khác biệt.
3/ Xây dựng thông điệp quảng cáo:
Quá trình quảng cáo bao hàm tạo ra các thông điệp với các từ
ngữ, các ý tưởng, âm thanh, và các hình thức kích thích nghe nhìn
khác dược phác hoạ để hưởng đến hành vi người tiêu dùng. Quảng cáo
phần nhiều là một quá trình truyền đạt thông tin. Để xây dựng được
một thông điệp quảng cáo tốt , nhà truyền thông phải nắm vũng các

Tuỳ theo tính chất của sản phẩm mà nhà quảng cáo cần biết
phải thiết kế thông điệp như thế nào. Đối với một số sản phẩm không
có thuộc tính đặc trưng rõ rệt thì thông điệp không nên dành để truyền
đạt quá nhiều về thông tin sản phẩm. Chẳng hạn như với quảng cáo
bia, người ta ít khi đề cập đến đặc điểm của bia như thế nào mà hầu
hết là đưa ra các hình tượng về sản phẩm. Đối với một số sản phẩm
được quan tâm nhiều thì thông điệp nên trình bày một cách thu hút các
thông tin về các thuộc tính của sản phẩm…
c/ Môt trường cạnh tranh:
Trong môi trường cạnh tranh, đối tượng được tiếp xúc với hàng
trăm thông điệp trong một ngày, đối tượng không thể chú ý hết các
thông điệp, do đó sẽ có một sự chú ý và lưu trữ có chọn lọc. Chỉ có
thông tin đặc sắc và có ích mới đi qua được hàng rào nhận thức để tạo
ấn tượng.
Định vị rất quan trọng trong môi trường cạnh tranh. Trong quá
trình định vị, một hình ảnh được chọn lọc để cho thấy các lợi ích của
sản phẩm, các lợi ích này không chỉ do đối tượng hết sức mong muốn
mà còn phải ưu việt hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Nếu nó gây
ấn tượng, đây chính là một cơ hội tốt để thị trường lựa chọn sản phẩm
được quảng cáo.
3.3/ Các phương pháp trình bày thông điệp:
Có rất nhiều cách thức để trình bày một thông điệp như phương
pháp thông tin, phương pháp lý lẽ, phương pháp lôi cuốn tâm lí, khẳng
định lặp đi lặp lại, phương pháp mệnh lệnh, liên tưởng biểu tượng,
phương pháp nêu gương…
Trang 10
a/ Phương pháp thông tin:
Theo phương pháp này, đối tượng sẽ nhận được một trình bày
khách quan về các đặc trưng hay bằng chứng hiển nhiên của sản
phẩm. Phương pháp này sẽ thành công nếu đối tượng tích cực tìm

Phương pháp này thường được sử dụng trong các quảng cáo cho
thấy các nhân vật nổi tiếng được nhiều người ái mộ đang chứng thực
cho sản phẩm của đơn vị quảng cáo. Ví dụ như vân động viên thể hình
Lý Đức chứng thực cho sản phẩm kem đánh răng P/S.
4/ Lựa chọn phương tiện quảng cáo:
4.1/ Quyết định về phạm vi, tần suất và cường độ tác động
11
:
Sau khi đã thiết kế được thông điệp quảng cáo, công việc tiếp
theo của nhà quảng cáo là phải làm sao dể quyết định chọn lựa được
Trang 11
quảng cáo tên phương tiện nào là hiệu quả nhất. Quá trình này gồm
các bước: quyết định về phạm vi, tần suất và cường độ tác động, lựa
chọn những phương tiện truyền thông chủ yếu, quyết định lịch trình sử
dụng phương tiện truyền thông, và phân bổ phương tiện truyền thông
theo địa lí.
Phạm vi quảng cáo (R): biểu thị số người hay số hộ gia đình
tiếp xúc được với mục quảng cáo cụ thể trên phương tiện truyền thông
ít nhất một lần trong một khoảng thời gian nhất định. Người quảng cáo
phải định rõ chiến dịch quảng cáo của mình sẽ đến được với bao nhiêu
người trong thị trường mục tiêu trong một thời hạn nào đó.
Tần suất quảng cáo (F): là số lần mà một người hay hộ gia đình
tiếp xúc với thông điệp quảng cáo trong một khoảng thời gian nhất
định. Người quảng cáo cũng phải định rõ xem một người hay hộ gia
đình trong thị trường mục tiêu trong một thời hạn nào đó sẽ nhận được
quảng cáo mấy lần.
Cường độ tac động (I): là giá trị định lượng của một lần tiếp xúc
qua một phương tiện truyền thông nhất định. Người quảng cáo cũng
phải quyết định mức độ tác động mà quảng cáo phải có được mỗi khi
đến được với khách hàng mục tiêu.

Lợi thế
1. Kết hợp của hình ảnh, âm thanh
và cử động
2. Thu hút các giác quan
Trang 12
3. Nhiều khán giả
4. Tâm lý chú ý
Bất lợi
1. Không lựa chọn khán giả
2. Các ấn tượng lướt qua nhanh
3. Tuổi thọ ngắn
4. Đắt tiền
Ngoài trời
Lợi thế
1. Linh hoạt
2. không có quảng cáo cạnh tranh
3. Quảng cáo lặp lại
4. Tương đối rẻ
Bất lợi
1. Hạn chế sự sáng tạo
2. Gây rối trí cho người xem
3. Không có sự lựa chọn khán giả
Thư trực tiếp
Lợi thế
1. Lựa chọn khán giả
2. Linh hoạt
3. Không có sự cạnh tranh
4. Được cá nhân hoá
Bất lợi
1. Chi phí tương đối cao

Ngoài đặc điểm của các phương tiện truyền thông là một yếu tố
quan trọng có ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn phương tiện truyền
thông của người làm quảng cáo thì ta còn phải lưu ý các yếu tố sau:
+ Thói quen sử dụng phương tiện truyền thông của công
chúng mục tiêu.
+ Sản phẩm .
+ Thông điệp
+ Chi phí
Vì có nhiều loại phương tiện truyền thông có đặc điểm cũng như
mức độ ảnh hưởng và chi phí khác nhau, nên người lập kế hoạch sử
dụng phương tiện phải lựa chọn dùng phương tiện cụ thể nào và quyết
định phân bổ ngân sách cho mỗi loại phương tiện đó bao nhiêu. Căn
Trang 13
cứ để làm việc này là kết quả ước tính qui và thành phần công chúng,
cũng như chi phí sử dụng mỗi loại phương tiện truyền thông.
4.3/ Quyết định lịch trình sử dụng phương tiện quảng cáo
13
:
Lịch trình quảng cáo có hiệu quả phụ thuộc vào các mục tiêu
truyền thông, đặc điểm của sản phẩm, khách hàng mục tiêu, kênh phân
phối và các yếu tố marketing khác. Thông thường có các dạng lịch
trình quảng cáo sau:
+ Quảng cáo liên tục: là đảm bảo lịch trình quảng cáo đều
đặn trong suốt thời gian nhất định. Chi phí cho kiểu quảng cáo này
thường cao và không nên áp dụng cho những sản phẩm mua sắm theo
thời vụ, mà chỉ áp dụng trong trường hợp cần mở rộng thị trường và
những sản phẩm mua thường xuyên như xà phòng, dầu gội đầu…
+ Quảng cáo tập trung: đòi hỏi phải chi toàn bộ kinh phí
quảng cáo trong một thời kỳ và chỉ phù hợp với những sản phẩm mua
theo thời vụ.

+ Đánh giá trực tiếp: tức là đề nghị người tiêu dùng đánh
giá các phương án quảng cáo khác nhau. Các kết quả đánh giá này
được sử dụng để đánh giá mức độ chú ý, đọc viết, nhận thức, tác động
và dẫn đến hành động của quảng cáo.
+ Trắc nghiệm tập quảng cáo: yêu cầu người tiêu dùng
xem hay nghe một loạt các quảng cáo trong thời gian cần thiết, sau đó
đề nghị họ nhớ lại các quảng cáo đó và nội dung của chúng. Mức độ
ghi nhớ của họ cho thấy khả năng một quảng cáo được để ý đến có dễ
hiểu và dễ nhớ hay không.
+ Trắc nghiệm trong phòng thí nghiệm: một số nhà
nghiên cứu đã dùng các thiết bị để ghi nhận phản ứng tâm sinh lý của
người tiêu dùng đối với quảng cáo như nhịp tim, huyết áp, hiện tượng
đổ mồ hôi… Trắc nghiệm này đo lường được khả năng thu hút của
quảng cáo chứ không đo được niềm tin, thái đọ và dự định của khách
hàng.
5.2/ Nghiên cứu hiệu quả doanh số:
Nghiên cứu hiệu quả truyền thông cho phép người quảng cáo
nhận ra hiệu qủa truyền thông của quảng cáo, nhưng chưa phản ánh
được tác động của nó dvói doanh số.
Hiệu quả của quảng cáo về doanh số thường khó đo lường hơn
hiệu quả truyền thông. Doanh số chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên
ngoài quảng cáo như đặc điểm của sản phẩm, giá cả, mức độ sẵn có
của sản phẩm, ảnh hưởng của các sản phẩm cạnh tranh,… Những yếu
tố này càng ít và càng dễ kiểm soát thì việc đo lường hiệu quả của
quảng cáo về doanh số càng dễ dàng.
Trang 15
PHẦN THỨ HAI
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KINH DOANH
VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG
CÁO TẠI CÔNG TY ĐIỆN MÁY

là một công ty mạnh và có uy tín lớn trong ngành kinh doanh điện
máy, có vị trí cao trong ngành thương mại. Có được sự thành công
như ngày hôm nay là nhờ ở sự định hướng của Đảng và Nhà nước, của
Bộ Thương mại và sự đóng góp của hơn 860 con người trong công ty.
1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công ty:
a/ Chức năng:
Công ty Điện máy và kỹ thuật công nghệ là một trong những
doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ thương mại. Hoạt động kinh
doanh chủ yếu của công ty là bán buôn, bán lẻ môi giới các mặt hàng
theo quy định của Nhà nước hay giữu hàng thuê, làm đại lý vận
chuyển hàng hoá cho mọi đối tượng khách hàng có nhu cầu theo đúng
quy định của Nhà nước.
+ Tổ chức trực tiếp kinh doanh XNK hoặc liên doanh đầu tư với
tổ chức kinh tế nước ngoài, thành lập các phân xưởng sản xuất tạo
nguồn hàng theo quy định của Nhà nước và của Bộ thương mại.
+ Tổ chức thu mua, khai thác phục vụ cho những đối tượng có
nhu cầu, có khả năng thanh toán.
+ Tổ chức sản xuất, gia công lắp ráp, liên doanh liên kết, hợp
tác đầu tư với các tổ chức sản xuất trong và ngoài nước, các tổ chức
nghiên cứu khoa học trong nước tạo ra nguồn hàng được phép kinh
doanh sản xuất để phục vụ, kinh doanh buôn bán, bán lẻ trong và xuất
khẩu.
+ Tổ chức chu chuyển tiếp nhận hàng xuất khẩu tại các ga,
cảng.
b/ Nhiệm vụ:
Công ty có các nhiệm vụ sau:
+ Kinh doanh theo đúng ngành nghề đã đăng ký, thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ Nhà nước giao.
+ Xây dựng tổ chức thực hiẹn các kế hoạch do Bộ thương giao
theo Pháp lệnh hiện hành.

2/ Đặc điểm tổ chức quản lí của công ty:
2.1/ Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý:
Ghi chú:
: quan hệ trực tuyến
: quan hệ chức năng
Trang 18
2.2/ Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ban giám đốc và các
phòng ban:
a/ Ban giám đốc:
Giám đốc của công ty do Bộ thương mại trực tiếp bổ nhiệm, là
người lãnh đạo cao nhất của công ty, có toàn quyền quyết định mọi
hoạt động của công ty, đồng thời là người chịu trách nhiệm về tất cả
các hoạt động kinh doanh của công ty với Bộ thương mại.
Các phó giám đốc là người được giám đốc bổ nhiệm và có
nhiệm vụ làm tham mưu cho giám đốc trong mọi lĩnh vực do mình
hoạt động. Phó giám đốc có thể được uỷ quyền điều hành công ty
trong khi giám đốc đi vắng.
b/ Các phòng ban trong công ty:
Phòng tổ chức hành chính và thanh tra bảo vệ: đây là phòng có
chức năng giúp giám đốc bổ nhiệm và có nhiệm vụ tham mưu cho
giám đốc về công tác nhân sự, giải quyết các chế độ chính sách. Ngoài
ra phòng còn có trách nhiệm điều hành để công ty hoạt động tốt hơn.
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: đây là phòng dược lập ra để
giúp giám đốc về lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá , các hoạt động
kinh tế có tính ngoại thương, các thủ tục xuất nhập khẩu đối với các
hải quan của công ty.
Phòng thị trường đối ngoại: là phòng thu thập các thông tin liên
quan đến xuất nhập khẩu, giao dịch với nước ngoài, ký các hợp đồng
kinh tế, tổ chức thực hiện công tác lưu trữ, xử lý, in ấn các thông tin
về hoạt động kinh doanh, tham mưu cho giám đốc thông tin về các

+ Đại học 97 23.3 102 20.6 137 19 152 19.6
+ Trung học 91 21.9 86 17.4 56 7.76 34 4.38
+ Sơ học và CNKT 228 54.8 307 62 529 73.3 589 75.9
+ Bậc thợ bình quân lắp
ráp xe máy
3/7 4/7 4/7 4/7
+ Bậc thợ bình quân
may
2/6 3/6 3/6 3/6
+ Bậc thợ bình quân lắp 4/7 5/7 5/7 5/7
Từ bảng trên ta thấy nguồn nhân lực của công ty ngày một tăng
lên, số lượng nhân viên tăng lên tương ứng với việc mở rộng quy mô
kinh doanh. Trong đó số lượng lao động nữ chỉ bằng một nữa số lao
động nam là do đặc điểm ngành nghề kinh doanh của công ty. Vì công
ty có 2 xí nghiệp là xí nghiệp điện tử và xí nghiệp lắp ráp xe chủ yếu
Trang 20
sử dụng toàn lao động nam, còn số lao động nữ phần lớn tập trung
trong xí nghiệp may xuất khẩu.
Trong cơ cấu về trình độ lao động thì số người lao động có trình
độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật chiếm một tỉ lệ lớn đặc biệt là vào
năm 2003, vì năm 2003 công ty đã đưa nhà máy cơ khí Daehan vào
hoạt động, đây là một nhà máy lắp ráp và chế tạo các phụ tùng của xe
máy cũng như xe đạp điện, do đó cần một số lượng lớn công nhân có
trình độ cao.
3.2/ Cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị:
+ Trụ sở văn phòng:
Trụ sở của công ty đóng tại 124 Nguyễn Chí Thanh Đà Nẵng.
Đây được coi là một địa điểm thuận lợi trong việc giao dịch, ký kết
với các tổ chức trong và ngoài nước do vị trí này gần nhà ga, sân bay
và hệ thống đường bộ cũng được nâng cấp hoàn chỉnh nên rất thuận

3.3/ Nguồn lực tài chính:
+ Cơ cấu nguồn vốn:
Bảng đánh giá tình hình tài chính của công ty.
15
(Đơn vị tính: 100.000đ)
Chỉ tiêu 2001
Tỷ
trọng
(%)
2002
Tỷ
trọng
(%)
2003
Tỷ
trọng
(%)
A. Tổng tài sản 141.936 100 215.921 100 275.851 100
I. Tài sản lưu động
1. Vốn tiền mặt
2. Hàng tồn kho
3. Các khoản phải thu
4. TSLĐ khác
II. Tài sản cố định
1. Nguyên giá TSCĐ
2. Khấu hao
3. Các khoản đầu tư tài chính
dài hạn
4. Chi phí XDCB dở dang
42.337

156.941
38.668
4.649
57.921
40.416
16.274
1.225
79.0
6.4
56.9
14.0
21.0
B. Tổng nguồn vốn 141.936 100 215.921 100 275.851 100
I. Nợ phải trả
1. Nợ vay ngắn hạn
2. Vay ngắn hạn ngân
hàng
3. Các khoản phải trả
4. Nợ dài hạn
5. Nợ khác
II. Nguồn vốn CSH
1. Nguồn vốn qũy
2. Nguồn kinh phí
56.639
34.739
12.940
202
21.900
85.297
85.297

2002 công ty đã mở rộng thêm một số mặt hàng kinh doanh là các sản
phẩm điện lạnh mang nhãn hiệu Gelstar, đây là một nhãn hiệu độc
quyền mà công ty đã xin được làm nhà phân phối chính thức. Ngoài
mặt hàng điện lạnh này thì công ty cũng đã mạnh dạn đưa vào kinh
Trang 22
doanh cac sản phẩm xe đạp điện Daehan và Gelstar. Điều này đã làm
cho hàng tồn kho của công ty tăng lên đáng kể kéo theo TSLĐ cũng
gia tăng.
Về phần nguồn vốn, trong cơ cấu tổng nguồn vốn nhìn vào bảng
báo cáo trên, ta dễ dàng nhận thấy có một sự thay đổi rõ rệt cơ cấu
nguồn vốn từ năm 2001 và năm 2003, 2003. Để lí giải điều này ta phải
tìm hiểu chính sách của công ty. Vào năm 2002, công ty bắt đầu cho
xây dựng nhà máy cơ khí Đaehan, đây là một nhà máy sản xuất các
phụ tùng xe mý và hàng điện tử, ngoài ra tại đây cũng thực hiện công
việc lắp ráp để cho ra một chiếc xe máy Đaehan hoàn chỉnh. Chính dự
án này đã đưa phần chi phí XDCB dở dang của công ty lên cao, đồng
thời cũng góp phần làm cho nguôn vốn chủ sở hữu của công ty gia
tăng. Tuy nhiên sang năm 2002 do chính sách mở rộng mặt hàng kinh
doanh, để có vốn cho hoạt động nhập khẩu các mặt hàng này cũng như
phụ tùng lắp ráp, công ty đã đẩy phần nợ phải trả của mình lên rất cao.
Trong cơ cấu nợ phải trả, công ty luôn duy trì một tỉ lệ nợ dài hạn rất
nhỏ, lý do là công ty vay nợ để mua hàng hoá, do đó công ty chủ yếu
là vay nợ ngắn hạn, cứ sau khi xuất khẩu được một đơn hàng công ty
thường dùng số tiền này trả nơ nên việc vây nợ dài hạn là không cần
thiết.
II. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty:
1/ Tình hình thực hiện kế hoạch mua bán của công ty:
Đối với công ty Điện máy và kỹ thuật công nghệ, kế hoạch
được xây dựng dựa trên tình hình sản xuất kinh doanh của những năm
trước để dự đoán cho năm sau dựa trên cơ sở khảo sát thị trường, nắm

phần lớn là hàng may mặc nhận gia công cho các nước như Mỹ và Đài
Loan.
Chỉ tiêu ĐVT Giá trị Tỉ trọng
Trang 24
I. Kim ngạch NK
1. Hàn Quốc
Xe máy
Động cơ xe máy
Khác
2. Trung Quốc
Bóng đèn
Hàng điện lạnh
Khác
3. Nhật Bản
Máy đúc
Điện thoại, fax
Khác
4. Malaysia
Điện thoại, fax
Gỗ mun
5. Các nước khác
II. Kim ngạch XK
1. XK tại chỗ
2. Singapore
Café
3. Mỹ
Quần dài
Ao
Bộ quần áo
4. Đài Loan

41.076
1.512.586
702.237
810.349
4.413
4.413
100
80.49
3.5
7.3
5.56
3.05
100
0.8
3.4
24.3
71.15
0.2
3/ Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty:
Mặc dù trong năm 2003 hoạt động kinh doanh của công ty vẫn tạo
ra lợi nhuận song nếu so tốc độ tăng của năm 2003 thì vẫn không bằng
một số năm trước. Nguyên nhân như đã nói ở trên là ngoài một số
ràng buộc do các chính sách của Nhà nước, cộng với sự cạnh tranh
gay gắt hiện nay trong lĩnh vực sản xuất – lắp ráp – kinh doanh xe
máy, mặt hàng chủ lực của công ty nên tốc độ tăng lợi nhuận của công
ty năm vừa qua không được như mong muốn.
Bảng phân tích doanh thu – chi phí – lợi nhuận
ĐVT: 1000.000đ
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
1. Doanh thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status