phân tích báo cáo tài chính công ty vinamilk năm 2010_2011 - Pdf 21

MỞ ĐẦU
Công ty cổ phần Sữa Việt Nam là doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động
kinh doanh nhiều mặt hàng từ sữa. Công ty đã có đóng góp to lớn trong quá
trình phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành hàng sữa nói riêng.
Đặc biệt trong điều kiện khu vực hoá, quốc tế hoá như hiện nay, thì việc
cung cấp một nguồn năng lượng tốt cho sức khỏe và nâng cao tinh thần
ngày càng cần thiết và đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu, phục vụ
cho đất nước.
Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với Công ty Sữa Việt Nam và các đơn vị
thành viên là phải đi trước một bước, tạo nền móng vững chắc cho sự phát
triển lâu dài của đất nước.
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, và hoàn thành đề tài nghiên cứu về
phân tích báo cáo tài chính của công ty là: Phân tích báo cáo tài chính của
Vinamilk. Thì nhóm chúng em không thể tránh những thiếu sót. Mong thầy
góp ý thêm để đề tài của nhóm chúng em hoàn thiện hơn.
I GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY VINAMILK
1. Lịch sử hình và phát triển của công ty
Giấy phép đăng ký kinh doanh số 4103001932 ngày 20 tháng 11 năm
2003 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Vinamilk thành lập từ năm 1976, cổ phần hóa năm 01/10/2003, niêm yết
vào tháng 09/01/2006 và trở thành một trong các công ty có giá trị vốn hóa
lớn nhất trên sàn hiện nay.
Địa chỉ: 184 – 188 Nguyễn Đình Chiểu, P6, Q3, TP. HCM
Điện thoại: ( (84.8) 39 300 358 – 39 305 197
Fax: (84.8) 39 305 206
Website: www.vinamilk.com.vn
Email:
1
Các sự kiện quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của
Công ty như sau:
1976 : Tiền thân là Công ty Sữa, Café Miền Nam, trực thuộc Tổng Công ty

doanh Sữa Bình Định (sau đó được gọi là Nhà máy Sữa Bình Định) và
khánh thành Nhà máy Sữa Nghệ An vào ngày 30 tháng 06 năm 2005, có địa
chỉ đặt tại Khu Công Nghiệp Cửa Lò, Tỉnh Nghệ An.
* Liên doanh với SABmiller Asia B.V để thành lập Công ty TNHH Liên
Doanh SABMiller Việt Nam vào tháng 8 năm 2005. Sản phẩm đầu tiên của
liên doanh mang thương hiệu Zorok được tung ra thị trường vào đầu giữa
năm 2007.
2006 : Vinamilk niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh vào ngày 19 tháng 01 năm 2006, khi đó vốn của Tổng Công ty Đầu tư
và Kinh doanh Vốn Nhà nước có tỷ lệ nắm giữ là 50.01% vốn điều lệ của
Công ty.
* Mở Phòng Khám An Khang tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 6 năm
2006. Đây là phòng khám đầu tiên tại Việt Nam quản trị bằng hệ thống
thông tin điện tử. Phòng khám cung cấp các dịch vụ như tư vấn dinh dưỡng,
khám phụ khoa, tư vấn nhi khoa và khám sức khỏe.
* Khởi động chương trình trang trại bò sữa bắt đầu từ việc mua thâu tóm
trang trại Bò sữa Tuyên Quang vào tháng 11 năm 2006, một trang trại nhỏ
với đàn bò sữa khoảng 1.400 con. Trang trại này cũng được đi vào hoạt động
ngay sau khi được mua thâu tóm.
2007 : Mua cổ phần chi phối 55% của Công ty sữa Lam Sơn vào tháng 9
năm 2007, có trụ sở tại Khu công nghiệp Lễ Môn, Tỉnh Thanh Hóa.
Quản trị Điều hành
Mai Kiều Liên – Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ
Hoàng Nguyên Học – thành viên HĐQT
Ngô Thị Thu Trang – thành viên HĐQT kiêm Phó TGĐ
Dominic Scriven – thành viên HĐQT
Wang Eng Chin – thành viên HĐQT
3
2. Ngành nghề kinh doanh
2.1 Sản phẩm

1.1 Phân tích tài sản
Năm 2010, tổng tài sản của Vinamilk là 10.754.306.626.329 VNĐ. Năm
2011, tổng tài sản của công ty là 15.564.318.125.515. Như vậy, so với
năm 2010, tổng tài sản tăng 44.72% tương đương 4.810.011.499.186
VNĐ. Đây là khoản tăng đáng kể.
5
1.1.1 Tài sản ngắn hạn
Năm 2010
Năm 2011
Trong đó
2010 2011 So sánh
Tiền và các khoản tương đương
tiền
2.18 % 19.93 % 17.75 %
Các khoản đầu tư ngắn hạn 19.46 % 4.73 % -14.73 %
Các khoản phải thu 10.41 % 13.67 % 3.26 %
Hàng tồn kho 21.13 % 20.47 % -0.66 %
Tài sản ngắn hạn khác 0.796 % 0.822 % 0.026 %
Nhận xét:
Năm 2011, tỷ trọng TSNH tăng 5.65 % (tương đương
3,474,762,161,338 VNĐ)so với năm 2010, từ 53,97 % lên 59,62 %.
Trong đó, tiền và các khoản tương đương tiền tăng mạnh 17.75 % và các
khoản phải thu tăng 3.26 %. Các khoản giảm xuống là các khoản đầu tư
ngắn hạn với 14.73% và hàng tồn kho giảm 0.66 % trong vòng hai năm
2010 và 2011.
1.1.2 Tài sản dài hạn
Năm 2010
6
Năm
2011:

giảm tỷ trọng các khoản đầu tư ngắn hạn, tỷ trọng hàng tồn kho vẫn
tương đối ổn định, tỷ trọng tiền tăng lên đáng kể 17.75%. Thay đổi cơ
cấu tài sản ngắn hạn theo hướng này là được đánh giá hợp lý và hiệu
quả.
- Tài sản dài hạn của công ty chủ yếu là tài sản sản cố định, qua số liệu
trên bảng cân đối kế toán ta thấy tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài
sản của công ty có xu hướng tăng.
8
- Tỷ trọng TSDH lại giảm xuống 5.65% (tương đương 1,335,249,337,848
VNĐ)từ 46.03 % năm 2010 xuống còn 40.38 % năm 2011. Trong đó,
chỉ có khoản TSCĐ tăng nhẹ 0.93 % từ 28.44 vào năm 2010 lên 29.37
vào năm 2011. Các khoản còn lại như phải thu dài hạn, bất động sản
đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn và các khoản tài sản dài hạn khác là
giảm lần lượt là 2.19.10
-6
%, 0,21%, 5.47%, 0.9%.
- Từ đó, ta thấy rằng, TSNH đã tăng với tỷ lệ nhanh hơn TSDH.
1.2 Phân tích nguồn vốn
1.2.1 Nợ phải trả
Năm 2010
Năm 2011
Trong đó:
2010 2011 So sánh
Nợ ngắn hạn 24.58 % 19.23 % 5.35%
Nợ dài hạn 1.49 % 1.02 % 0.47%
1.2.2 Vốn chủ sỡ hữu
Năm 2010
9
Năm 2011
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

hơn
2 Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
2.1 Đánh giá chung kết quả kinh doanh của doanh nghiệp:
Đánh giá chung kết quả kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành
thông qua phân tích, xem xét sự biến động của từng chỉ tiêu trên báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh giữa kỳ này với kỳ trước dựa vào so sánh
cả về số tuyệt đối và tương đối trên từng chỉ tiêu phân tích…Đồng thời
phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các khoản chi phí, kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt chú ý đến sự biến động doanh
thu thuần, tổng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận trước thuế
và lợi nhuận sau thuế.
Dựa vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
+ Tổng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp tăng =
4.166.604.997.301 = 71.10
11
(VNĐ) với tỷ lệ tăng
16%. Con số này cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh của năm nay tốt
hơn năm trước. Điều đó thể hiện sự cố gắng trong việc tìm kiếm lợi
nhuận, đồng thời nó cũng cho thấy sự phát triển vững mạnh của công ty
trong quá trình hoạt động kinh doanh. Bảng báo cáo cũng cho thấy một
chỉ tiêu như sau:
12
+ Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng = 4.655.233.718.229-
3.621.032.853.594=1,03.10
12
(VNĐ), tương đương với tỷ lệ tăng 29% so
với năm 2010.
Xem xét các chỉ tiêu phản ánh doanh thu và chi phí ta thấy:
+ Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng =22.264.531.786.640-
16.173.754.854.110=6,09.10

yếu kém cần tìm nguồn cung rẻ hơn nhưng chất lượng sản phẩm không
thay đổi hay tìm ra phương thức nào đó có thể giảm đi các chi phí vận
chuyển hàng hóa.
- Tỷ suất chi phí bán hàng trên doanh thu thuần:
Dựa vào bảng báo cáo, ta tính được tỷ suất này là 8,3% giảm nhẹ so
với con số9,08% trong năm 2010. Điều này cho thấy cứ 100 đồng doanh
thu thuần thì phải bỏ ra 8.3 đồng cho chi phí bán hàng. Đây là một con số
mang đến điều tốt cho doanh nghiệp, vì nó được xem là khoản chi phí
không đáng kể.
- Tỷ suất chi phí quản lý trên doanh thu thuần:
Dựa vào bảng báo cáo, ta tính được tỷ suất này là 1,99% năm 2011
giảm nhẹ với con số2,34% vào năm 2010. Điều này cho thấy cứ 100
đồng doanh thu thuần thì cần phải bỏ ra 1.99 đồng cho chi phí quản lý
14
doanh nghiệp. Đây cũng được xem là một con số tỷ lệ khá nhỏ cho việc
chi trả trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
2.2.2 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh:
- Tỷ suất lợi nhuận từ HĐKD trên doanh thu thuần:
Dựa vào bảng báo cáo, ta tính được tỷ suất này năm 2011là 21,33%
giảm nhẹ so với 22,85 % của năm 2010 . Điều này cho thấy cứ 100 đồng
doanh thu thuần thì ta thu được về 21.33 đồng lợi nhuận. Cũng nói lên
rằng, chi phí và các khoản khác cũng chiếm gần như 70%. Đây là một
con số báo hiệu doanh nghiệp cần phải có biện pháp để cải thiện vấn đề
trong việc quản lý và thu chi. Với kiến nghị, doanh nghiệp nên loại bỏ
một số khoản chi phí không cần thiết trong quá trình hoạt động kinh
doanh: chi phí thuê nhân công cần được cắt giảm, chi phí quảng cáo cần
phải điều chỉnh lại cho hợp lý hơn,…. Với tình hình khủng hoảng tài
chính trong năm 2011 cũng là một rào chắn gây khó khăn cho doanh
nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp nên củng cố lại thị trường trong nước và
yêu cầu các nhà chiến lược của công ty phải hoạt định một chiến lược

Lợi nhuận sau thuế/DT
thuần
22.69% 19.1%
16
3. Phân tích bằng các nhóm tỷ số
3.1 Nhóm tỷ số khả năng sinh lợi.
Đây là nhóm tỷ số quan trọng, nó đánh giá tổng hợp hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK trong
một kỳ, nhóm tỷ số này được rất nhiều đối tượng quan tâm từ các đối tác
bên trong và bên ngoài Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK.
 Lợi nhuận Biên MP (Marginal Profit)
MP
2010
= =0.2269
MP
2011
= =0.1909
Lợi nhuận biên là là tỷ số đo lường trong một đồng doanh thu thu
được, có bao nhiêu đồng lãi cho cổ đông. Tỷ số này nói lên tác động của
doanh thu đến lợi nhuận. Nên chúng ta rút ra nhận xét:
- Năm 2010, 1 đồng doanh thu của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
VINAMILK có được 0.2269 đồng lợi nhuận sau thuế.
- Năm 2011, 1 đồng doanh thu của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
VINAMILK có được 0.1909 đồng lợi nhuận sau thuế.
- Vậy 1 đồng doanh thu của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK
năm 2010 có nhiều lợi nhuận cho cổ đông hơn so với năm 2011.
Chứng tỏ Công ty Cổ phần Sữa Việt NamVINAMILK quản lý chi phí
năm 2010 hiêu quả hơn năm 2011.
 Sức sinh lợi cơ sở BEP (Basic of Earning Power).
BEP

Năm 2010, cứ 1 đồng tài sản của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
VINAMILK tạo ra được 0,3344 đồng lời cho chủ sở hữu. Trong khi đó
năm 2011 chỉ tạo ra được có 0.2677 đồng lời cho chủ sở hữu. Như vậy,
có thể nói năm 2011 Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam-VINAMILK hoạt
động kém hiệu quả hơn năm 2010.
 Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phiếu ROE (Return of Equity).
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phiếu là tỷ số đo lường một đồng vốn cổ
phiếu của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK tạo ra bao nhiêu
đồng lời cho cổ đông.
ROE
2010
= =0,4523
18
ROE
2011
= =0,3357
Nhận xét:
Năm 2010, cứ 1 đồng vốn cổ đông của Công ty Cổ phần Sữa Việt
Nam VINAMILK mang về cho họ 0.4523 đồng lời. Trong khi đó 1 đồng
vốn của năm 2011 chỉ mang về cho họ có 0.3357 đồng. Vậy 1 đồng vốn
năm 2010 tạo ra nhiều lợi nhuận ròng hơn năm 2011, chứng tỏ năm 2011
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK hoạt động kinh doanh kém
hiệu quả hơn năm 2010
3.2 Nhóm tỷ số thanh toán.
Đánh giá khả năng sử dụng tài sản để trả các khoản nợ, số nợ của
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK trong tổng vốn. Nhóm tỷ
số này được các đối tượng sau đây quan tâm: ngân hàng bảo lãnh và
doanh nghiệp bán chịu.
 Khả năng thanh toán nhanh QR (Quick Received)
Khả năng thanh toán nhanh là đo lường tài sản có thanh khoản cao để trả

2010
= =2,1956
CR
2011
= =3,0997
Nhận xét:
Năm 2010, Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK dùng tài
sản ngắn hạn trả được 2,1956 lần nợ ngắn hạn. Nhưng năm 2011 thì con
số này đã tăng lên, tài sản ngắn hạn của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
VINAMILK trả được 3,0997 lần nợ ngắn hạn. Chứng tỏ năm 2011 khả
năng trả nợ của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK cao hơn
năm 2010. Nhưng trong cả 2 năm thì tỷ số này đều nhỏ hơn 5, tương đối
thấp và không đảm bảo, đúng như dự đoán ở phần trên về khả năng thanh
toán nhanh. Với tỷ số hiện tại này thì sẽ có đắn đo khi các ngân hàng
20
chấp nhận bảo lãnh cho VINAMILK và các Công ty chấp nhận cho
VINAMILK vay.
 Tỷ số nợ trên vốn (D/A) (Debt/Asset)
Đo lường bao nhiêu đồng nợ trên một đồng vốn, nói lên nợ của
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK nhiều hay là ít. Tỷ số này
về lâu về dài thấp thì tốt.

D/A
2010
= =0,2607
D/A
2011
= =0,2025
Nhận xét:
Năm 2010, cứ trong 1 đồng tài sản của Công ty Cổ phần Sữa Việt

hợp.
 Vòng quay hàng tồn kho ITO.
Đo lường mức lưu chuyển hàng hóa dưới hình thức tồn kho trong
một năm.
ITO
2010
= =4,6979
ITO
2011
= =4,7908
Nhận xét:
Năm 2010 vòng quay hàng tồn kho của Công ty Cổ phần Sữa Việt
Nam VINAMILK là 4,6979 hay có 4,6979 lần hàng ra vào kho. Năm
22
2011 con số này đã tăng lên đến con số 4,7908, tức là có 4,7908 lần hàng
ra vào kho.
Chứng tỏ năm 2011 Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK ít
hàng tồn kho hơn năm 2010 hay năm 2011 Công ty Cổ phần Sữa Việt
Nam VINAMILK bán hàng nhanh hơn năm 2010.
 Số ngày lưu hàng trong kho.
Số ngày lưu hàng trong kho
2010
= =76,63 77
Số ngày lưu hàng trong kho
2011
= =75,144 75
Năm 2010 cứ 77 ngày Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
VINAMILK có một lần hàng ra vào kho. Năm 2011 cứ 75 ngày Công ty
Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK có một lần hàng ra vào kho.
Như nhận định ở trên, năm 2011 Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam

chiếm dụng vốn nhiều hơn năm 2011.
 Vòng quay tài sản cố định FAT (Fix Asset Turnover)
Đo lường mức vốn cần thiết phải đầu tư vào tài sản cố định của Công ty
Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK để có được một đồng doanh thu.
FAT
2010
= =5,1815
FAT
2011
= =4,7736
Nhận xét:
Năm 2010 cứ 1 đồng tài sản cố định của Công ty Cổ phần Sữa Việt
Nam VINAMILK tạo ra 5,1815 đồng doanh thu. Năm 2011 cứ 1 đồng
tài sản của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam VINAMILK tạo ra 4,7736
đồng doanh thu.
Như vậy 1 đồng tài sản của năm 2010 tạo ra nhiều đồng doanh thu
hơn năm 2011. Chứng tỏ năm 2010 Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
VINAMILK quản lý tài sản tôt hơn năm 2011.
 Vòng quay tài sản TAT (Recycle of Total Asset)
Đo lường mức vốn cần thiết phải đầu tư vào tài sản để có được một
doanh thu.
TAT
2010
= =1,474
TAT
2011
= =1,402

24
Đánh giá tổng hợp khả năng sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Sữa


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status