Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
1
Lời mở đầu.
Trải qua hơn 10 năm đổi mới, hoà chung vào nhịp độ tăng trưởng và phát
triển của đất nước, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã từng bước đổi mới và phát
triển nhanh chóng. Chúng ta đã từng bước tạo lập được hệ thống Ngân hàng lớn
mạnh cả về năng lực hoạch định chính sách, năng lực quản lý, năng lực điều
hành kinh doanh, mạnh cả về trình độ công nghệ, kỹ thuật hiện đại để tạo điều
kiện cho hoạt động của Ngân hàng bắt kịp với tốc độ phát triển của cơ chế thị
trường. Trong sự hình thành của các hoạt động Ngân hàng nói chung, chúng ta
không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động thanh toán qua Ngân hàng đặc
biệt là thanh toán không dùng tiền mặt kết quả của hoạt động này không chỉ
thúc đẩy tăng trưởng cho hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế mà còn góp phần đẩy
nhanh qua trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì tổ chức thanh
toán không dùng tiền mặt nhiều hình thức thanh toán thích hợp thuận tiện, đa
dạng, an toàn chính xác đem lại hiệu quả cao không chỉ phục vụ tốt cho việc
tăng tôc độ chu chuyển vốn trong nêng kinh tế quốc dân, đẩy mạnh tốc độ phát
triển lưu thông hàng hoá mà còn trực tiếp làm thay đổi khối lượng tiền mặt lưu
thông. Đây là yếu tố cần thiết căn bẳn để ổn định tiền tệ, chống và kiền chế lạm
phát. Vì vậy hệ thống Ngân hàng luôn tìm những biện pháp hữu hiệu nhất để
mở rộng và phát triển các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trong nền
kinh tế. Trong thời gian thực tập tại Ngân hàng công thương tỉnh Nam định em
nhận thấy thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những công tác quan
trọng của chi nhánh. Trong những năm qua, do có sự cải tiêbs công nghệ thanh
toán cũng như được sự quan tâm của Ban lãnh đạo và sự nỗ lực hêts mình của
toàn bộ cán bộ công nhân viên tại chi nhánh đặc biệt là cán bộ kế toán đã giúp
cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại chi nhánh càng ngày cangf phát
triển, thu hút được một khối lượng llớn khách hàng tham gia vào quá trình thanh
toán giúp cho doanh số thanh toán không dùng tiền mặt của chi nhánh đạt được
ngày càng cao đồng thời hoạt động kinh doanh chung của chi nhánh đạt hiêụ
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với nhiệm vụ chủ
yếu và thường xuyên là huy động tiền gửi vơí trách nhiệm hoàn trả và cho vay
thực hiện nghiệp vụ chiết khấu làm phương tiện thanh toán.
Ngân hàng ra đời được thừa nhận là một trong những phát minh kỳ diệu
nhất của lịch sử thế giới và nó không ngừng đổi mới hoàn thiện để phù hợp với
tình hình kinh tế xã hội từng thời kỳ. Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay Ngân
hàng là một bộ phạn không thể thiếu được và nó luôn giữ vị trí quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán
trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế, hoạt động của nó bao
trùm lên tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, đây là hoạt động trung gian gắn liên
với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế. Kinh doanh Ngân hàng là một loại hình
kinh doanh đặc biệt với đối tượng là tiền tệ. Ngân hàng là trung gian tài chính
giữa người gửi tiền và người vay vì vậy Ngân hàng sẽ là công cụ điều tiết hữu
hiệu nền kinh tế cũng như một số lĩnh vực phi kinh tế.
Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với
đặc điểm hoạt động riêng có của mình ngành Ngân hàng giữ một vai trò quan
trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Những vai trò đó được
thể hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất: đối với các cá nhân, đơn vị và các tổ chức kinh tế.
Ngân hàng nhận tiền của họ thông qua thanh toán không dùng tiền mặt
mở tại Ngân hàng hoặc Ngân hàng nhận giữ hộ các tài sản quý, các giấy tờ có
giá nhờ vậy mà tiết kiệm được các chi phí cất giữ, bảo quản tiền tệ. Bên cạnh
đó, cũng trên cơ sở số tiền gửi của khách hàng Ngân hàng còn thực hiện các dịch
vụ thanh toán, chuyển tiền làm giảm chi phí lưu thông tiền tệ mà vẫn đảm bảo
an toàn thuận tiện và lợi ích cho các chủ thể nói trên.
Thứ hai: Đối với lĩnh vực tái sản xuất xã hội.
Ngân hàng tập trung huy động một khối lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của
mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế và thông qua nghiệp vụ tín dụng, Ngân
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
phát triển đạt mức độ tinh xảo và thuận lơị hơn. Bắt đầu từ những hình thức trao
đổi giản đơn: hàng đổi hàng đến tiền kim loại: vàng bạc và tiền giấy.
Tiền trong lưu thông bao gồm hai bộ phận là tiền mặt và tiền chuyển
khoản (tiền ghi sổ) do vậy công tác thanh toán trong nền kinh tế cũng được thực
hiện thưo hai cách thức phù hợp với hai bộ phận tiền tệ này đó là cách thức thanh
toán bằng tiền mặt và cách thức thanh toán không dùng tiền mặt.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
5
Thanh toán bằng tiền mặt là quá trình thanh toán tiền hàng hoá trực tiếp
trong đó có một lượng tiền mặt tương ứng với giá trị vật tư hàng hoá được trao
đổi, vận động ngược chiều với sự vận động của vật tư hàng hoá đó. Cách thức
tiền tệ này chỉ phù hợp với nền kinh tế khi sản xuất hàng hoá còn ở trình độ thấp,
sản phẩm hàng hoá dịch vụ không nhiều và hoạt động mua bán chỉ diễn ra trong
phạm vi hẹp. Trong điều kiện nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển, với khối
lượng hàng hoá được trao đổi lớn phạm vi mua bán rộng thì cách thức thanh toán
bằng tiền mặt đã bộc lộ các nhược điểm như: chi phí in ấn, vận chuyển bảo quản
và kiểm đếm lớn, tốc độ thanh toán chậm, khả năng đảm bảo an toàn không cao,
hơn nữa với một khối lượng tiền mặt cần thiết trong lưu thông quá lớn dễ gây
nên tình trạng lạm phát. Thực tế khách quan đó đòi hỏi phải có một cách thức
thanh toán mới, tiên tiến hơn chính vì vậy thanh toán không dùng tiền mặt đã ra
đời và nhanh chóng chiếm ưu thế trong nền kinh tế.
Thanh toán không dùng tiền mặt là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng,
dịch và các khoản khác trong nền kinh tế quốc dân được thực hiện bằng cách
trích chuyển tài khoản trong hệ thống tín dụng hoặc bù trừ công nợ mà không
vận dụng đến tiền mặt thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng hoặc tổ chức
tín dụng khác.
Thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người,
tuy nhiên nó chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường. Ngày
nay, thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng rộng khắp trong lĩnh vực tài
chính đối nội, đối ngoại, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chu chuyển tiền tệ và
Ngân hàng, trên mỗi tài khoản tiền gửi đó có số lại thấp, hơn nữa việc tiến hành
thanh toán chi trả không phải là thường xuyên. Do đó Ngân hàng có thể sử dụng
nguồn vốn này để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để thu lợi nhuận.
Đây là nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ mạng lại hiệu quả kinh tế
rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế.
Thứ ba Trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ, thanh toán không dùng tiền
mặt góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, do đó tiết kiệm được
chi phí lưu thông xã hội. Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt còn tạo ra sự
chuyển hoá thông suất giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản. Cả hai khía cạnh đó
đều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và điều hoà lưu thông tiền
tệ. Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế bao gồm hai bộ phận cấu thành đó là
thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu tổng chu
chuyển tiền tệ không đổi mà tỷ trọng thanh toán không dùng tiền mặt tăng lên sẽ
làm giảm tỷ trọng tiền mặt một cách tương ứng, từ đó giảm chi phí lưu thông
như: chi phí in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền, chi phí về thời gian thanh toán.
Thứ tư - Thanh toán không dùng tiền mặt tạo những điều kiện tiền đề kinh
tế thuận lợi để Ngân hàng kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tác nhân kinh
tế với mục đích củng cố kỷ luật thanh toán, đảm bảo nguyên tắc thu chi tài chính
và nâng cao hiệu qủa sử dụng vốn. Thu chi bằng tiền của các tác nhân thể hiện
trên tài khoản tại Ngân hàng, nó phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, từ đó để làm căn cứ cho vay hay thu hồi nợ đồng
thời qua việc giám sát, Ngân hàng có thể có những kiến nghị, giúp các doanh
nghiệp tháo gỡ khó khăn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy quá trình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển, cũng thông qua việc giám sát
tình hình thu chi qua tài khoản mà Ngân hàng có thể kiểm soát tình hình chấp
hành các chính sách, chế độ tài chính, các nguyên tắc thanh toán, quản lý tiền tệ
ở các doanh nghiệp.
Như vậy, thanh toán không dùng tiền mặt có những vai trò trực tiếp cũng
như gián tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam thực hiện tốt công
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng là phạm pháp và phải bị xử lý theo pháp luật.
Điều 4: Ngân hàng có trách nhiệm:
- Thực hiện các uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản bảo đẩm chính
xác, an toàn và thuận tiện. Các nhà có trách nhiệm chi trả bằng tièn
mặt hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư tièn gửi theo yêu cầu của
chủ tài khoản.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
8
- Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoan trược khi thực hiệ
thanh toán và được quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản đó không
đủ tiền và chịu trách nhiệm liên đới của hai bên khách hàng.
- Nếu do thiếu sót trong qúa trình thanh toán gây thiệt hại cho khách
hàng thì phải bồi thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ vi phạm có thể
xử lý theo pháp luật.
Điều 5: Ngân hàng chỉ cung cấp số liệu trên tài khoản cho các cơ quan
ngoài Ngân hàng khi có các văn bản của các cơ quan có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật.
Điều 6: khi thực hiện các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Ngân hàng
được thu phí theo quy định của thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
1.2.2. Chứng từ và tài khoản kế toán.
Bất kỳ mốt hệ thống thanh toán nào cũng cần có các yéu tố, cac giai đoạn
thanh toán nhất định. Để thực hiện được một quá trình thanh toán thì phải có các
công cụ thanh toán, các hình thực thanh toán, phương thức thanh toán cụ thẻ.
Mỗi hình thức thanh toán lại có những quy định, những tiền khoản về thanh toán
và có các chứng từ , tài khoản phù hợp.
Các chứng từ thường được sử dụng trong thanh toán không dùng tiền mặt
gồm: các loại séc thanh toán: séc tiền mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc
chuyển tiền, giấy uỷ nhiệm thu, UNC, giấy mở thư tín dụng, ngân phiếu thanh
toán, thẻ tín dụng, giấy báo và các bảng kê.. Để phù hợp với đặc điểm hoạt động
cùa từng hệ thống Ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước có những quy định cho
- TK 464: chuyển tiền phải trả bằng VND.
TK 456: chuyển tiền phải trả bằng ngoại tệ.
- Nhóm tài khoản liên quan.
TK 5211: liên hàng đi năm nay.
TK 5212: liên hàng đến năm nay.
TK 1113 tiền gửi thanh toán tại ngân hàng nhà nứơc bằng VND
TK 5111:chuyển tiền đi năm nay
TK5112: chuyển tiền đến năm nay
1.2.3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Hiện hành.
Theo quyết định số 22/ QĐ-NH1 ban hành ngày 21/02/1994 về thể lệ
thanh toán không dùng tiền mặt thì các đơn vị và cá nhân được áp dụng các
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt sau:
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
10
- Séc: ( séc lĩnh tiền mặt, sẽc chuyển khoản, séc bảo chi).
- Uỷ nhiệm chiệm chuyển tiền
- Uỷ nhiệm thu
- Thư tín dụng
- Ngân phiếu thanh toán
- Thẻ thanh toán
1.2.3.1.thanh toán bằng séc
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lâp trên mẫu do Ngân hàng
Nhà nước quy định yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình tính tiền từ tài khoản tiền
gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên séc hoặc cầm séc đó.
Séc là một loại chứng từ thanh toán được áp dụng rổng rãi ở tất cả các
nước tren thế giới, quy tắc sửt dụng séc đã được chuẩn hoá trên luật thương mại
quốc tế và trên công ước quốc tế.
Nghị định 30/CP của chính phủ ban hành về quy chế phát hành và sdử
dụng séc do thủ tướng Chính phủ ký ngày 09/05/1996 quy định rõ ở Việt Nam
được phép lưu hành loại séc vô danh và séc ký danh, trong đó séc vô danh được
mình trên tờ séc có kèm theo CMND của mình vào Ngân hàng nơi phát
hành séc mở tài khoản.
- Ngân hàng thanh toán kiểm tra điều kiện thanh toán của tờ séc, đối
chiếu họ tê, số CMND ghi tên trên tờ séc với họ tên và CMND của
người lĩnh tiền. Nếu đáp ứng yêu cầu hợp lệ, đủ đối chiếu thanh toán,
số dư tài khoản đủ để thanh toán thì Ngân hàng sẽ ghi ngày tháng năm
thanh toán và ký tên sau đó làm thủ tục chi trả tiền mặt cho khách hàng
và hạch toán.
Nợ tài khoản tiền gửi của người phát hành séc: các tờ séc làm chứng từ ghi
sổ chi tiết:
Có tài khoản tiền mặt.
1.2.3.1.2. Séc chuyển khoản.
Séc thanh toán chuyên rkhoản là loại séc do chủ tài khoản phát hành và
giao trực tiếp cho người thụ hưởng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ và séc
khoản thanh toán khác.
Hình thức của séc thanh toán chuyển khoản là séc có 2 đường gạch chéo
song song ở phía bên trái mặt trước của tờ séc hoặc viết hay đóng dấu từ
chuyển khoản ở phía trên bên trái mặt trước khi chủ tài khoản phát hành séc.
Phạm vi thanh toán: Séc chuyển khoản dùng để thanh toán giữa các chủ
thể mở tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc khác chi nhánh nhưng
có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Quy trình thanh toán:
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
12
trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại cùng một chi nhánh
Ngân hàng:
1
3 2
4
1- Người trả tiền phát hành và giao cho người thụ hưởng.
chuyển cho Ngân hàng phục vụ người trả tiền.
8- Ngân hàng phục vụ người trả tiền sau khi kiểm tra các yếu tố của tờ séc
tiến hành trích tài khoản của người trả tiền và báo nợ cho họ
9- Ngân hàng phục vụ người trả tiền dùng các liên BKNS lập chứng từ
thanh toán bù trừ và chuyển cho Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng
để thanh toán cho người thụ hưởng.
10- Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng tiếp nhận các BKNS ghi có tài
khoản của người và báo cáo cho họ.
Sau khi kiểm tra các yếu tố của tờ séc nếu đủ điều kiện thanh toán thì kế
toán Ngân hàng hạch toán: thực hiện theo nguyên tắc ghi nợ trước có sau, Ngân
hàng làm thủ tục chuyển séc sang Ngân hàng đối phương đồng thời ghi nhập tài
khoản ngoại bảng: séc đến chưa thanh toán tại Ngân hàng phục vụ đơn vị phát
hành séc sau khi nhận được séc kèm các chứng từ phải kiểm tra lại các yếu tố, số
dư tài khoản sẽ thanh toán đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ cho Ngân hàng
nhận séc:
Nợ TKTG của đơn vị trả tiền.
Có TKTG liên hành đi hoặc thanh toán bù trừ.
Tại Ngân hàng nhận séc, khi nhận giấy báo của Ngân hàng đối phương
ghi xuất séc đến chưa thanh toán và hạch toán:
Nợ TK liên hàng đến hoặc thanh toán bù trừ.
Có TKTG của đơn vị được hưởng.
1.2.3.1.3. séc bảo chi.
Séc bảo chi là loại séc thanh toán được Ngân hàng đảm bảo khả năng chi
trả bằng cách trích trước số tiền trên séc từ tài khoản tiền gửi của người trả tiền
sang tài khoản riêng nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho tờ séc đó.
Phạm vi thanh toán của tờ séc bảo chi rộng hơn séc chuyển khoản: ngoài
việc được sử dụng để thanh toán giữa các chủ thể mở taì khoản tại hai chi nhánh
Ngân hàng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố còn được
sử dụng để thanh toán giữa các khách hàng mở tài tại các chi nhánh Ngân hàng
cùng hệ thống trong phạm vi cả nước.
1- người trả tiền phát hành séc, đề nghị Ngân hàng phục vụ mình bảo chi
tờ séc.
2- Ngân hàng A kiểm tra và nhận đảm bảo chi trr cho tờ séc và trao trả
cho người trả tiền .
3- Người trả tiền trao tơ séc đã bảo chi cho người thụ hưởng.
4- Người thụ hưởng lập 3 liên BKNS cùng tờ séc vào Ngân hàng B xin
thanh toán.
5- Ngân hàng B kiểm tra tờ séc và ghi có tài khoản tiền gửi của người thụ
hưởng và báo có cho họ.
6- Ngân hàng B gửi bảng kê thanh toán bù trừ cùng một tờ séc sang Ngân
hàng A.
7- Ngân hàng A kiểm tra các yếu tố trên tờ séc và ghi nợ tài khoản tiền ký
quỹ để đảm bảo thanh toán séc đồng thời báo nợ cho người trả tiền.
Tại Ngân hàng B hạch toán:
Nợ TK thanh toán bù trừ.
Có TKTG của người thụ hưởng.
Tại Ngân hàng A hạch toán.
Nợ TK tiền ký quỹ để đảm bảo thanh toán séc.
Có TK thanh toán bù trừ.
Trường hợp 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản tại hai chi nhánh Ngân
hàng cùng hệ thống.
- Tại Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng hạch toán.
Nợ TK liên hàng đi.
Có TKTG của người thụ hưởng.
- Tại Ngân hàng phục vụ người trả tiền hạch toán:
Nợ TK tiền ký quỹ để đảm bảo thanh toán séc.
Có TK liên hàng đến.
1.2.3.2.1.Thanh toán bằng UNC chuyển tiền.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
16
3- Ngân hàng kiểm tra UNC và ghi nợ tài khoản tiền gửi của người trả tiền
đồng thời báo nợ cho họ.
4 - Ngân hàng ghi có tài khoản tiền gửi của người thụ hưởng và báo có
cho họ.
Sau khi kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ Ngân hàng hạch toán:
Nợ TKTG của người trả tiền.
Có TKTG của người thụ hưởng.
- Trường hơp 2 bên mở tài khoản tại 2 chi nhánh khác nhau có thời gian
thanh toán bù trừ.
2 1 4
3
1- 4 liên UNC.
2 - Một liên UNC báo nợ cho người trả tiền.
3 - Bảng kê thanh toán bù trừ + 2 liên UNC.
4 - 1 liên UNC báo cáo cho người thụ hưởng.
Tại Ngân hàng phục vụ người trả tiền,hạch toán:
Nợ TKTG của người trả tiền.
Có TK thanh toán bù trừ.
Tại Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng hạch toán.
Nợ TK thanh toán bù trừ.
Có TKTG của người thu hưởng.
Người trả tiền
Người thụ hưởng
NH phục vụ
người trả tiền
Nh phục người thụ
hưởng
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
18
- Trường hợp 2 bên có mở tài khoản tại 2 chi nháh cùng hệ thống Ngân hàng.
Nợ TKTG của người trả tiền.
Có TKTG thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước
- Tại Ngân hàng Nhà nước phục vụ bên trả tiền:
Nợ TKTG thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước.
Có TK liên hàng đi.
- Tại Ngân hàng Nhà nước phục vụ bên thụ hưởng.
Nợ TK tiền hàng đến.
Có TKTG thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước.
- Tại Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng:
Nợ TKTG thanh toán tại Ngân hàng Nhà nước.
Có TKTG của người thụ hưởng.
1.2.3.2.3. Séc chuyển tiền.
Séc chuyển tiền do Ngân hàng phát hành nó được áp dụng cho các nhue
thể thanh toán chuyển tiền đi địa phương khác để mua hàng hoá,dịch vụ ...
Thời hạn hiệu lực của sécchuyển tiền là 30 ngày kể từ ngày Ngân hàng A
ký phát hành tờ séc cho đến ngày nộp séc vào Ngân hàng B.
Séc chuyển tiền được áp dụng trong cùng 1 hệ thống Ngân hàng.
Quy trình thanh toán.
2 1 3 4
5
Người thụ hưởng
Người nhận tiền
Ngân hàng B
Ngân hàng A
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
20
1 - Khách hàng cónhu cầu chuyển tiền nộp UNC vào Ngân hàng phục vụ
mình làm thủ tục chuyển tiền.
2 - Ngân hàng A sau khi nhận được UNC (giấy nộp tiền, NPTT) thì trích
tài khoản tiền gửi của khách hàng chuyển vào 1 tài khoản riêng và phát hành séc
trả tiền phải trích tài khoản của bên trả tiền để trả ngay cho bên thụ hưởng để
hoàn tất việc thanh toán.
Quy trình thanh toán.
* Trường hợp 2 bên có mở tài khoản cùng 1 chi nhánh NH.
2 1 3
1- Người thụ hưởng nộp 4 liên UNT kèm chứng từ giao hàng vào Ngân
hàng nhờ thu hộ.
2- Ngân hàng kiểm tra các thủ tục lập UNT, thoả thuận của 2 bên, số dư
tài khoản tiền gửi của đơn vị trả tiền. Nếu đủ điều kiện thì ghi nợ tài
khoản của đơn vị trả tiền và báo Nợ.
3- Ngân hàng ghi có tài khoản của người thụ hưởng và báo có cho họ.
Ngân hàng hạch toán:
Khi nhận chứng từ thanh toán kừm UNT sau khi kiểm tra ghi nhập tài
khoản ngoại bảng UNT đến chưa thanh toán. Nếu số dư tài khoản đơn vị
trả tiền không đủ thì phải theo dõi đến khi tđủ thì tiến hành ghi xuất tài
khoản UNT đến chưa thanh toán và hạch toán:
Nợ TK TG của đơn vị trả tiền.
Có TKTG của đơn vị được hưởng.
Trường hợp 2 bên mở tài khoản tại 2 chi nhánh khác nhau (cùng hoặc
khác hệ thống).
3 1 5
2
Người trả tiền
Ngân hàng
Người thụ hưởng
Người trả tiền
Người thụ hưởng
Ngân hàng phục
vụ người trả tiền
Ngân hàng phục vụ
sẽ lưu UNT vào hồ sơ UNT chưa trả tiền có đủ điều kiện để thanh toán thì ghi
ngày tháng lên trên UNT để thực hiện thanh toán và tiến hành tính phạt chậm
trả đối với người trả tiền.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
23
1.2.3.4. Thanh toán theo thư tín dụng.
Thư tín dụng là lệnh của người trả tiền yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình
trả cho ngừoi thụ hưởng số tiền nhất định theo đúng những điều khoản đã ghi
trên thư tín dụng.
So với các hình thức thanh toán trên: séc, UNC, UNT thì những điều
khoản ghi trên thư tín dụng làm căn cứ trên thanh toán đối chi tiết hầu như phản
ánh đầy đủ những cam kết thanh toán trong hoạt động kế toán hay đơn đặt
hàngmà 2 dên đã ký kết.
Điều kiện áp dụng: thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng, dịch
vụ cung ứng theo hợp đồng mà bên không tin tưởng khả năng thanh toán của bên
mua hoặc khi bên mua vi phạm chế độ thanh toán Ngân hàng buộc họ phải áp
dụng hình thức này.
Phạm vi thanh toán: dùng để thanh toán giữa các đơn vị có mở tài khoản
tại 2 chi nhánh Ngân hàng khác nhau trong cùng hoặc khác hệ thống.
Thời hạn hiệu lực thanh toán của thư tín dụng là 3 tháng kể từ ngày Ngân
hàng bên mua nhận mở thư tín dụng.
Quy trình thanh toán:
Trường hợp 2 chủ thể thanh toán mở tài khoản tại 2 Ngân hàng cùng hệ
thống.
1- Người thụ hưởng nộp 4 liên UNT kèm chứng từ giao vào NH nhờ thu
hộ.
2- Bên trả tiền làmthủ tục mở thư tín dụng bằng cách lập 5 liên mở thư tín
dụng yêu cầu Ngân hàng dịch vụ mình trích tài khoản tiền gửi số tiền
bằng giá trị tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua để lưu ký vào một tài
khoản riêng: Tài khoản thư tín dụng.
7- Ngân hàng mở thư tín dụng tất toán tài khoản thư tín dụng.
- Tại Ngân hàng mở thư tín dụng khi mở tài khoản thư tín dụng.
Nợ TKTG của người trả tiền.
Có TK tiền ký gửi để mở thư tín dụng.
- Tại Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng khi nhận đựơc thông báo ghi
nhập tài khoản thư tín dụng đến chưa thanh toán và khi nhận được
chứng từ và thư tín dụng thì ghi xuất tài khoản thư tín dụng đến chưa
thanh toán và ghi.
Nợ Tk liên hàng đi.
Có TKTG của người thụ hưởng.
- Tại Ngân hàng mở thư tín dụng sau khi nhận được giấy báo và chứng
từ sẽ ghi:
Nợ TK tiền ký gửi để mở thư tín dụng.
Chuyên đề tốt nghiệp Nguyễn Văn Thanh
25
Có TK liên hàng đến.
1.2.3.5. Thanh toán bằng ngân phiếu thanh toán.
Ngân phiếu thanh toán là 1 công cụ thanh toán có ghi rõ số tiền, thời hạn
sử dụng không ghi rõ tên và địa chỉ của chủ thể thanh toán do Ngân hàng Việt
Nam phát hành.
Ngân phiếu thanh toán được áp dụng cho khách hàng để thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ, trả nợ Ngân hàng, nộp Ngân sách, gửi vào tài khoản tiền gửi
tại Ngân hàng và gửi tiết kiệm.
Khi khách hàng không sử dụng ngân phiếu thanh toán nữa hoặc hết thời
hạn lưu hàng, khách hàng nộp ngân phiếu thanh toán chậm nhất trong ngày hết
hạn lưu hành để ghi có TKTG hoặc đổi lấy tièn mặt hoặc đổi lấy ngân phiếu
thanh toán đang còn giá trị lưu hành.
Người giữ ngân phiếu thanh toán phải có trách nhiệm bảo quản ngân
phiếu thanh toán như tiền mặt cũng mất tiền.
Lĩnh ngân phiếu thanh toán: khi có nhu cầu sử dụng ngân phiếu thanh