LỜI MỞ ĐẦU:
Trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thị
trường vốn đang dần từng bước được hoàn thiện, việc cổ phần hóa đang là xu
hướng tiến tới của các doanh nghiệp nước ta đặc biệt là các doanh nghiệp quốc
doanh. Hoạt động kiểm toán với hai chức năng chính là xác minh và bày tỏ ý
kiến đã trở thành hoạt động quan trọng đối với mọi doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế. Đặc biệt trong kiểm toán vốn chủ sở hữu nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng và quản lý vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Đề án bao gồm những phần chính:
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ KIỂM TOÁN
NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH.
II. QUY TRÌNH KIỂM TOÁN NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG KIỂM
TOÁN TÀI CHÍNH.
Để hoàn thành được đề án này em được sự giúp đỡ rất tận tình của các bạn
trong nhóm và đặc biệt là được sự giúp đỡ chỉ bảo của thầy giáo Trần Mạnh
Dũng. Em xin trân thành cảm ơn !
Trong quá trình thực hiện đề án mặc dù có sự tìm tòi tài liệu cộng với hỏi
thầy, hỏi bạn song vì mới là sinh viên năm thứ 3 trình độ giới hạn lại chưa được
đi thực tế nên đề án này chắc chắn là không thể tránh được những thiếu sót, hạn
chế về cả nội dung và hình thức cho nên em rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của thầy giáo cùng toàn thể các bạn để lần sau làm chuyên đề kiến tập và
thực tập được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ
KIỂM TOÁN NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU TRONG KIỂM
TOÁN TÀI CHÍNH.
1. Khái quát chung về nguồn vốn chủ sở hữu.
1.1. Khái niệm:
Nguồn vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu) là số vốn của các chủ sở hữu, các
nhà đầu tư góp vốn.
1.3. Kế toán các nguồn vốn chủ sở hữu.
a. Kế toán nguồn vốn kinh doanh.
Nguồn vốn kinh doanh là nguồn vốn được dùng vào mục đích hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn này được hình thành từ khi mới
thành lập doanh nghiệp (do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ xung thêm
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi hạch toán nguồn vốn kinh doanh, cần chi tiết theo từng loại vốn kinh
doanh, từng nguồn hình thành, từng tổ chức, cá nhân góp vốn: vốn góp ban đầu
(chi tiết theo từng đối tượng), vốn bổ xung từ kết quả kinh doanh, vốn do liên
doanh góp…
Tình hình hiện có, biến động tăng, giảm nguồn vốn kinh doanh được kế
toán theo dõi trên tài khoản 411 “ Nguồn vốn kinh doanh ”. Tài khoản này được
mở chi tiết theo từng nguồn hình thành tùy theo tính chất doanh nghiệp và yêu
cầu thông tin cho quản lý.
b. Kế toán lợi nhuận và phân phối lợi nhuận.
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chính là kết quả cuối cùng
trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) bao gồm kết quả của các hoạt
động tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm dịch vụ; hoạt động tài chính và hoạt động
3
khác. Đó chính là phần chênh lệch giữa một bên là doanh thu thuần và thu nhập
thuần của tất cả các hoạt động với một bên là toàn bộ chi phí bỏ ra và được biểu
hiện qua chỉ tiêu “lợi nhuận” hoặc “lỗ” từ tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ;
từ hoạt động tài chính; …
Lợi nhuận thực hiện cả năm còn bao gồm lợi nhuận năm trước phát hiện
năm nay và được trừ đi khoản lỗ của năm trước (nếu có) đã xác định trong quyết
toán. Cơ sở kinh doanh sau khi đã quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ thì
được chuyển lỗ sang năm sau, số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế. Thời
gian được chuyển lỗ không quá năm năm.
Lợi nhuận được phân phối như sau:
công nghệ, bổ xung vốn lưu động, tham gia liên doanh, mua cổ phiếu, góp cổ
phần, trích nộp lên cấp trên để hình thành quỹ phát triển kinh doanh…
Tài khoản 415 “ Quỹ dự phòng tài chính “ dùng để bảo đảm cho hoạt động
của doanh nghiệp được bình thường khi gặp rủi ro, thua lỗ trong kinh doanh hay
thiên tai, hoả hoạn, …
Tài khoản 431 “ Quỹ khen thưởng, phúc lợi “: TK 4311 “ Quỹ khen thưởng
“ dùng khen thưởng cho tập thể cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp đóng góp
nhiều thành tích đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; TK 4312 “Quỹ phúc
lợi “ dùng chi tiêu cho các nhu cầu phúc lợi công cộng, trợ cấp khó khăn, mục
đích từ thiện; TK 4313 “ Quỹ phúc lợi đã hình thành tài sản cố định “ dùng để
theo dõi số quỹ phúc lợi đã đầu tư mua sắm tài sản cố định sử dụng cho mục đích
phúc lợi công cộng. Về thực chất tài khoản này phản ánh giá trị còn lại của
những tài sản cố định hình thành bằng quỹ phúc lợi sử dụng cho phúc lợi công
cộng.
d. Kế toán chênh lệch đánh giá lại tài sản.
Để theo dõi khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản và tình hình xử lý
chênh lệch ở doanh nghiệp, kế toán sử dụng tài khoản 412 “ Chênh lệch đánh giá
lại tài sản “.
e. Kế toán chênh lệch tỷ giá ngoại tệ.
5
Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh được ghi nhận khi có sự thay đổi tỷ giá
hối đoái giữa ngày giao dịch và ngày thanh toán của mọi khoản mục tiền tệ có
gốc ngoại tệ. Khi giao dịch phát sinh và thanh toán trong cùng kỳ kế toán, các
khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái được hạch toán trong kỳ đó. Nếu giao dịch
được thanh toán ở các kỳ sau, chênh lệch tỷ giá hối đoái được tính theo sự thay
đổi của tỷ giá hối đoái trong từng kỳ cho đến kỳ giao dịch đó được thanh toán.
Để theo dõi số chênh lệch do thay đổi tỷ giá hối đoái của ngoại tệ và tình
hình xử lý chênh lệch tỷ giá hối đoái, kế toán dùng tài khoản 413 “ Chênh lệch tỷ
giá hối đoái “.
Tài khoản 413 có thể có số dư Nợ hoặc dư Có, tùy thuộc vào số phát sinh
trên cấp kinh phí hay được các chính phủ, các tổ chức, cá nhân tài trợ trực tiếp để
thực hiện các chương trình, dự án đã được phê duyệt hay thực hiện những nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, xã hội không vì mục đích kinh doanh. Bên cạnh đó, nguồn
kinh phí sự nghiệp còn được hình thành từ các nguồn thu như lệ phí, hội phí, học
phí… Việc chi tiêu kinh phí đòi hỏi phải theo đúng dự toán, chi tiết theo từng
nguồn và phải quyết toán với cơ quan cấp kinh phí. Tình hình hình thành và sử
dụng nguồn kinh phí sự nghiệp được kế toán phản ánh trên các tài khoản:
TK161; TK461.
Kế toán nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ: Để theo dõi nguồn kinh phí
được ngân sách cấp đã hoàn thành việc đầu tư, mua sắm TSCĐ dùng cho hoạt
động sự nghiệp, hoạt động dự án, kế toán sử dụng TK466 “ Nguồn kinh phí đã
hình thành TSCĐ ”.
2. Khái quát quy trình kiểm toán tài chính.
2.1 Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
7
Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về khách hàng, tìm hiều và đánh giá
hệ thống kiểm soát nội bộ, xác định mức trọng yếu, xây dựng kế hoạch và
chương trình kiểm toán cho từng phần hành kiểm toán.
Trong chương trình kiểm toán cụ thể, các thủ tục kiểm toán cũng được xác
định rõ để đạt được mục tiêu kiểm toán cụ thể, các thủ tục kiểm toán cần được
xem xét kỹ lưỡng về mặt nội dung, phạm vi, thời gian và cần thiết phải đặt trong
các mối quan hệ. Đánh giá về tính trọng yếu, rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát,
những kinh nghiệm có được trong những lần kiểm toán trước, tính thuyết phục
của báo cáo tài chính.
2.2 Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Kiểm toán viên áp dụng các phương pháp kiểm toán để thu thập, đánh giá
bằng chứng kiểm toán trên mẫu chọn trong kiểm toán.
2.3 Giai đoạn kết thúc kiểm toán.
Kết quả của quá trình thực hiện kiểm toán được xem xét trong quan hệ hợp
doanh, nguồn vốn do ngân sách cấp…).
- Mức chính xác về kỹ thuật tính toán, hạch toán; sự thống nhất giữa sổ kế
toán và báo cáo tài chính về các khoản mục thuộc nguồn vốn đã được trình bày.
b. Thực hiện những thủ tục phân tích để hỗ trợ quy trình lập kế hoạch.
Các thủ tục phân tích để tăng cường sự hiểu biết toàn diện về tình hình kinh
doanh của khách hàng :
Phân tích xu hướng: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của
cùng một chỉ tiêu trên BCTC.
Phân tích tỷ suất: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương
quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính: tỷ số nợ so
9
với vốn cổ phần, tỷ số thu nhập so với tiền lãi, tỷ số tài sản hữu hình ròng so với
vốn cổ phần.
c. Đánh giá mức trọng yếu.
Theo chuẩn mực kiểm toán số 320, trọng yếu là thuật ngữ dùng để thể hiện
tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong BCTC. Thông tin
được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác
của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài
chính. Mức trọng yếu tùy thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin
hay của sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông
tin phải xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính.
Kiểm toán viên cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính
và phân bổ mức đánh giá trọng yếu cho từng khoản mục trong bảng cân đối kế
toán.
Ví dụ: xác định mức độ trọng yếu cho toàn bộ BCTC dựa trên chỉ tiêu lợi
nhuận trước thuế: trên 10% là trọng yếu, nhỏ hơn 5% là không trọng yếu. Còn
khoảng từ 5% - 10% lợi nhuận trước thuế thì kiểm toán viên sẽ xem xét về mặt
nghiệp vụ để xác định tính trọng yếu.
Việc phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục diễn ra theo 2 chiều
Rủi ro kiểm soát:
Đánh giá hiệu quả hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
trong việc ngăn ngừa hoặc phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu trong từng
nghiệp vụ từng khoản mục trong BCTC.
Rủi ro phát hiện:
Là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục
trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm
toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được.
Để giúp kiểm toán viên ước tính về mức độ rủi ro phát hiện có thể chấp
nhận được dựa trên sự đánh giá rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng, IAG 25 đã
giới thiệu ma trận về rủi ro phát hiện như sau:
11
Đánh giá của kiểm toán viên về RRKS
Cao Trung bình Thấp
Đánh giá của
kiểm toán viên
về RRTT
Cao Thấp Thấp TB
TB Thấp TB Cao
Thấp TB Cao Cao
Qua ma trận trên có thể nhận thấy mối quan hệ là khi kiểm toán viên đánh
giá RRKS và RRTT cao thì rủi ro phát hiện có thể chấp nhận được sẽ hạn chế ở
mức thấp, điều này nhằm khống chế rủi ro kiểm toán vẫn ở mức mức chấp nhận
được. Còn ngược lại, khi RRKS và RRTT thấp thì kiểm toán viên có thể chấp
nhận rủi ro phát hiện ở mức cao hơn nhưng vẫn giới hạn được rủi ro kiểm toán ở
mức mong muốn.
e. Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ:
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không chỉ để xác minh tính hữu hiệu của
kiểm soát nội bộ.
Hai phương pháp tiếp cận cơ bản đối với mỗi mục tiêu kiểm toán:
+ Phương pháp tiếp cận dựa trên hệ thống thu nhận hầu hết các đảm
bảo kiểm toán từ hệ thống KSNB.
+ Phương pháp tiếp cận dựa trên kiểm tra chi tiết số liệu thu nhận
hầu hết các đảm bảo kiểm toán từ thủ tục kiểm tra chi tiết số liệu.
Việc lựa chọn phương pháp tiếp cận nào là tùy thộc vào sự tin cậy hay
không tin cậy của kiểm toán viên vào hệ thống KSNB của đơn vị đối với mục
tiêu kiểm toán đã xác định. Thông thường, kiểm toán viên chọn phương pháp
tiếp cận dựa trên hệ thống đối với các mục tiêu kiểm toán liên quan đến tính đầy
đủ, tính hữu hiệu và tính chính xác của các nghiệp vụ thường xuyên, do KSNB
13