Barry Field & Nancy Olewiler
107
CHƯƠNG 5
KINH TẾ HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG Chương 4 chỉ ra rằng khi có ngoại tác, tài nguyên tự do tiếp cận, hoặc hàng hóa công, hệ
thống thị trường sẽ không đạt được trạng thái cân bằng hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội là
một khái niệm chuẩn tắc trong kinh tế học. Đó là dạng tuyên bố “điều đó sẽ là gì”. Nghiên
cứu yếu tố tác động đến chính sách công giải quyết các vấn đề môi trường là một dạng
kinh tế học chuẩn tắc. Các mục tiêu chính sách cần bao nhiêu SO
2
trong không khí, bao
nhiêu phốt phát trong hồ nước, hoặc bao nhiêu lượng chất độc hại trong đất và làm thế nào
thực hiện được các mục tiêu này? Kinh tế học thực chứng nghiên cứu các sự kiện thực tế
đã xảy ra như thế nào, khó khăn nào cần vượt qua. Sản lượng thị trường thực tế và giá
tương ứng của nó là các vấn đề nghiên cứu của kinh tế học thực chứng. Các câu hỏi đạ
i
loại như một nhóm nhà máy nhiệt điện nào đó phát thải ra bao nhiêu sulphur đioxít (SO
2
)
và yếu tố nào quyết định lượng nhiên liệu sử dụng là các câu hỏi của kinh tế học thực
chứng.
Một số bước tổng quát trong phân tích chính sách chuẩn tắc:
1. Nhận dạng mức mục tiêu chất lượng môi trường. Mức mục tiêu có thể dựa vào mức
phát thải hoặc mức tích tụ chất thải trong môi trường.
2. Quyết định phân chia các mức mục tiêu chất lượng môi trường này cho các nhà sản
trường khác nhau. Nhưng chúng ta có thể dùng một mô hình đơn giản để xây dựng nền
tảng cho bất kỳ tình huống chính sách nào. Mô hình này thể hiện một sự đánh đổi đơn giản
thường áp dụng cho tất cả các hoạt động kiểm soát ô nhiễm. Một mặt việc giảm chất thải
góp phần làm giảm thiệt hại mà con người phải gánh chịu do ô nhiễm môi trường; mặt
khác, việc giảm chất thải lại sử dụng những nguồn lực lẽ ra có thể được dùng vào việc
khác. Ví dụ, giảm phát thải sulphur điôxít của một nhà máy nhiệt điện sẽ làm giảm ô nhiễm
không khí và lắng tụ axít. Chất lượng môi trường sẽ tăng và làm lợi cho con người và hệ
sinh thái. Nhưng để giảm phát thải, nhà máy phải lắp đặt thiết bị giảm ô nhiễm hoặc
chuyển qua dùng nhiên liệu chứa ít sulphur hơn (chẳng hạn khí thiên nhiên). Điều này làm
tăng chi phí sản xuất. Nếu nhà máy có thể chuyển chi phí này cho khách hàng gánh chịu,
giá điện sẽ tăng. Người tiêu dùng sẽ tiêu dùng ít hàng hóa hơn. Mô hình đơn giản trong
chương này sẽ trình bày dạng đánh đổi như thế này.
Thiệt hại do ô nhiễm
Nói thiệt hại do ô nhiễm là nói đến tất cả những tác động bất lợi mà người sử dụng môi
trường phải gánh chịu do suy thoái môi trường. Ví dụ một nhà máy đưa chất thải vào dòng
sông làm ngộ độc các loài thủy sản, làm con người không thể sử dụng cá bắt được từ dòng
sông này nữa. Chất độc nhiễm vào cá bắt đầu tham gia vào chuỗi thức ăn, làm ngộ độc các
loài khác ăn những con cá bị nhiễm độc ban đầu – chẳng hạn như chim đại bàng hoặc chim
ưng. Các thành phố ở lưu vực sông phải bỏ thêm chi phí để xử lý độc tố ra khỏi nguồn
nước sinh hoạt v.v. Ô nhiễm không khí gây thiệt hại đến sức khỏe con người. Các ca tử
vong tăng lên từ bệnh ung thư phổi, viêm phổi kinh niên đều liên quan đến mức độ các
chất ô nhiễm không khí tăng cao, như sunphua điôxít, sợi amiăng, phóng xạ radon. Ô
nhiễm không khí còn gây thiệt hại vật chất – làm xuống cấp vật liệu (ví dụ, các công trình
điêu khắc ngoài trời ở thành phố Florence có từ thời Phục Hưng nay phải đem vào bảo
quản trong nhà do ô nhiễm không khí) hoặc làm hạn chế tầm nhìn. Ngoài những thiệt hại
gây ra cho con người, sự hủy hoại môi trường có thể gây ra ảnh hưởng quan trọng đối với
nhiều yếu tố khác của hệ sinh thái. Các ảnh hưởng đó, như sự hủy hoại thông tin di truyền
ở những loài động thực vật sắp bị tuyệt chủng, rốt cuộc sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với
Các hình dạng hàm thiệt hại biên
Hình 5-1 minh họa nhiều dạng hàm thiệt hại biên khác nhau. Hai hàm trên cùng là các hàm
thiệt hại biên theo lượng phát thải; trục hoành thể hiện lượng phát thải vào môi trường
trong một khoảng thời gian nào đó. Sử dụng các đơn vị chính xác (pound, tấn v.v.) trong
bất cứ trường hợp cụ thể nào phụ thuộc vào từng chất ô nhiễm liên quan. Trục tung thể
hiện thiệt hại môi trường dưới dạng tiền tệ. Xét theo những con số thực tế, thiệt hại môi
trường có thể bao gồm nhiều loại tác động khác nhau: số km bờ biển bị ô nhiễm, số người
nhiễm bệnh phổi, số lượng động vật bị tiêu diệt, lượng nước bị nhiễm bẩn v.v. Tất cả mọi
trường hợp ô nhiễm môi trường thường bao gồm nhiều hình thức tác động khác nhau, bản
chất của những tác động này phụ thuộc vào chất gây ô nhiễm có liên quan cũng như thời
gian và địa điểm phát thải. Để xem xét những tác động này một các toàn diện, ta cần phải
gộp chúng thành một đại lượng đơn nhất. Ta sử dụng đơn vị tiền tệ cho mục đích này. Đôi
khi ta có thể dễ dàng biểu diễn thiệt hại bằng đơn vị tiền tệ; chẳng hạn dễ dàng biết người
ta chi bao nhiêu tiền cho chi phí phòng ngừa để tránh bị tác hại của ô nhiễm (ví dụ lắp lớp
cách âm dày hơn để tránh tiếng ồn; mua kính đeo mắt, quần áo bảo vệ ngăn ngừa tác hại
tia cực tím; mua nước uống đóng chai khi hệ thống nước máy bị nhiễm bẩn). Tuy nhiên
trong nhiều trường hợp, thường rất khó đánh giá giá trị thiệt hại biên (chúng ta sẽ khảo sát
kỹ trong chương 7).
Hàm thiệt hại biên theo lượng phát th
ải ở biểu đồ (a) hình 5-1 cho thấy những thiệt hại biên
ban đầu chỉ tăng vừa phải nhưng sau đó lại tăng nhanh hơn khi lượng chất thải ngày càng
nhiều. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học môi trường và kinh tế học cho thấy
dường như đây là dạng đường biểu diễn tiêu biểu của nhiều loại chất gây ô nhiễm. Khi
lượng chất thải ít, thiệt hại biên có thể tươ
ng đối nhỏ; mức độ tích tụ chất gây ô nhiễm ở
môi trường xung quanh thấp đến nỗi chỉ có những người nhạy cảm nhất trong cộng đồng
dân cư mới bị ảnh hưởng. Nhưng khí lượng phát thải tăng lên, các mức thiệt hại cũng tăng
trong hàm thiệt hại của một số chất ô nhiễm nào đó có ảnh hưởng quan trọng đối với chính
sách kiểm soát môi trường trong thực tế. Đã có rất nhiều lý lẽ hùng hồn bảo vệ việc hàm
thiệt hại cho một loại chất ô nhiễm nào đó có hay không có các mức ngưỡng.
Hàm thiệt hại biên: Các đặc tính
Hàm thiệt hại biên là yếu tố chủ yếu trong các phân tích chính sách chuẩn tắc. Phần này sẽ
khảo sát các đặc tính của hàm thiệt hại biên. Mặc dù có thể phân tích hàm thiệt hại theo
lượng phát thải hoặc theo mức độ tích tụ, chúng ta sẽ sử dụng hàm theo lượng phát thải vì
sẽ dễ thiết lập các chính sách kiểm soát ô nhiễm hơn khi nhận dạng được nguồn phát thải.
Trong khi hình 5-1 thể hiện các hàm thiệt hại biên phi tuyến, trong phần còn lại của
chương này và các chương tiếp theo, chúng ta sẽ sử dụng hàm thiệt hại tuyến tính để dễ
Thiệt
hại
$
Lư
ợ
n
g
chất thải
(
tấn/năm
)
Lư
ợ
n
g
chất thải
(
k
Các hình trên biểu diễn hàm thiệt hại biên theo lượng phát thải và theo mức độ tích tụ. Biểu đồ
(a) và (b) thể hiện hàm phát thải, biểu đồ (c) và (d) là hàm mức độ tích tụ. Hàm thiệt hại biên
minh họa các độ dốc đường thiệt hại biên khác nhau, phụ thuộc vào loại phát thải và địa điểm
phát thải.
(
a
)
(
b
)
(
c
)
(
d
)
Barry Field & Nancy Olewiler
111
dàng tính toán minh họa. Hình 5-2 thể hiện hai hàm thiệt hại biên có lượng phát thải ở trục
hoành theo đơn vị phát thải trên mỗi đơn vị thời gian. Để đơn giản việc phân tích chúng ta
có 2 giả thiết:
Chất ô nhiễm là đơn chất, không tích tụ và được phân bổ đều.
Không có mức ngưỡng, nghĩa là mỗi hàm thiệt hại biên đều xuất phát từ gốc tọa độ.
Chúng ta sẽ thay đổi các giả thiết này trong mục 4 và 5. Trong khi đọc phần này, hãy nghĩ
giác có diện tích $180 (30×$12). Tại mức phát thải 30 tấn, thiệt hại biên của MD
2
là $18 và
tổng thiệt hại là diện tích (a+b) = $270. Do đó:
Tổng thiệt hại của một mức phát thải cho trước là diện tích dưới đường MD
giới hạn từ gốc 0 đến mức phát thải đó. Barry Field & Nancy Olewiler
112
Hình 5-2: Hàm thiệt hại biên cho chất ô nhiễm không tích lũy và không có mức ngưỡng Những yếu tố nào giải thích cho sự khác biệt giữa MD
1
và MD
2
trong hình 5-2? MD
2
có
thể là tình huống có rất nhiều người bị một chất ô nhiễm ảnh hưởng, chẳng hạn như ở khu
vực đô thị, trong khi MD
1
có thể áp dụng cho khu vực nông thôn ít người; nghĩa là ít người
thì ít thiệt hại. Một khả năng khác là, các hàm số này có thể áp dụng chung cho một nhóm
người, nhưng ở vào những thời điểm khác nhau. Hàm thiệt hại biên MD
2
có thể là tình
huống khi có sự nghịch chuyển nhiệt độ làm chất thải bị giữ lại trong thành phố và tạo ra
$
Chất thải
(
tấn/năm
)
Đồ thị trên thể hiện hai hàm thiệt hại biên. Trục tung biểu diễn giá trị thiệt hại biên của mỗi loại
chất thải. Nếu lượng chất thải là 30 tấn, thiệt hại biên cho MD
1
là $12, với MD
2
là $18. Tổng giá
trị thiệt hại được tính bằng diện tích dưới đường MD, từ gốc đến mức phát thải đang xem xét.
Tại mức phát thải 30 tấn, tổng thiệt hại là diện tích b=$180 đối với MD
1
và diện tích (a+b) =
$270 đối với MD
2
.
MD
2
MD
1Barry Field & Nancy Olewiler
113
thay đổi công nghệ sản xuất, chuyển đổi nguồn nhập lượng, tái chế chất thải, xử lý chất
thải, loại bỏ một địa điểm v.v.
Biểu đồ (a): Đường MAC tăng lên rất ít khi giảm những lượng chất thải đầu tiên,
nhưng sau đó tăng lên rất nhanh khi lượng chất thải trở nên tương đối ít.
Biểu đồ (b):
Đường MAC tăng liên tục.
Biểu đồ (c): Đường MAC có chiều hướng giảm trong giai đoạn ban đầu, sau đó lại tăng
dần. Hàm này có thể đại diện cho một tình huống trong đó chỉ có thể cắt giảm những
lượng nhỏ ban đầu bằng các phương tiện kỹ thuật đòi hỏi phải đầu tư ban đầu rất lớn.
Đối với những mức cắt giảm cao hơn, chi phí giảm ô nhiễm biên thực tế có thể giảm
xuống khi người ta sử dụng những kỹ thuật này triệt để hơn. Tuy nhiên cuối cùng chi
phí giảm ô nhiễm sẽ tăng.
1
Hàm chi phí giảm ô nhiễm biên là đạo hàm bậc một của hàm tổng chi phí giảm ô nhiễm.
Barry Field & Nancy Olewiler
114
Hình 5-3: Các hàm chi phí giảm ô nhiễm biên tiêu tiểu
Các đặc tính của hàm chi phí giảm ô nhiễm biên
Để khảo sát các đặc tính của chi phí giảm ô nhiễm biên, ta hãy xem xét Hình 5-4; hình này
thể hiện hai đường MAC co hàm số tuyến tính như sau:
ngành công nghiệp – chẳng hạn ngành công nghiệp hóa dầu ở Ontario hay Alberta – thì
giải pháp đóng cửa để giảm ô nhiễm xuống bằng không là một giải pháp rất đắt giá.
Như bất kỳ đồ thị biên nào, chúng ta có thể ước lượng cả giá trị biên tế và tổng giá trị. Nếu
lượng phát thải hiện tại là 10 tấn/tháng, giá trị trên trục tung cho biết chi phí biên để có
Chất thải Chất thảiChất thải
$ $ $
(
a
)
(
b
)
(
c
)
Các biểu đồ trên minh họa đường chi phí giảm ô nhiễm biên. Trong biểu đồ (a), khi mới giảm chất
thải, chi phí tăng rất chậm, sau đó khi giảm nhiều hơn thì chi phí tăng nhanh. Biểu đồ (b) cho thấy chi
phí tăng tương đối đều khi lượng chất thải giảm. Biểu đồ (c) cho thấy khi mới giảm lượng chất thải,
chi phí biên giảm do tính quy mô kinh tế của công nghệ giảm ô nhiễm. Cuối cùng chi phí biên sẽ tăng
khi lư
ợ
n
g
chất thải
g
iảm dần về 0.
Điều gì làm độ dốc hai đường MAC khác nhau khi chúng đều đại diện cho cùng một chất
thải? Lý do thông thường thường là sự khác nhau trong công nghệ kiểm soát ô nhiễm.
MAC
1
sử dụng công nghệ kiểm soát ô nhiễm rẻ hơn so với MAC
2
, có thể là do ở hai nhà
máy khác nhau và nhà máy MAC
2
được xây từ lâu còn nhà máy MAC
1
thì mới hơn.
2Thay đổi công nghệ do đó có thể hạ thấp đường MAC cho một loại chất thải xác định.
Chúng ta có thể dễ dàng đo lường chi phí nhà máy tiết kiệm hàng năm khi áp dụng công
nghệ mới. Giả sử rằng lượng chất thải của nhà máy là 10 tấn/tháng. Có thể tiết kiệm được
diện tích a nếu nhà máy áp dụng công nghệ mới. Chúng ta đã biết rằng, diện tích
a+b=$62.5 và b=$50, do đó chi phí tiết kiệm được là $12.5/tháng. Kiểu phân tích này rất
quan trọng khi ta các dạng chính sách kiểm soát ô nhiễm khác nhau, bởi vì một trong
những tiêu chí đánh giá chính sách là chính sách đó tạo động lực tiết kiệm được bao nhiêu
chi phí khi nhà máy đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển để tạo ra công nghệ kiểm
soát ô nhiễm mới.
2
việc kiểm soát lượng chất thải từ một số nguồn gây ô nhiễm chứ không phải từ một nguồn
gây ô nhiễm đơn lẻ. Làm thế nào để tổng hợp chi phí giảm ô nhiễm biên của một nhóm các
công ty (trong cùng một ngành công nghiệp hoặc cùng địa phương) khi chi phí ô nhiễm
biên của từng công ty khác nhau? Quá trình tổng hợp này sẽ cho thấy một khái niệm quan
trọng trong việc thiết kế chính sách môi trường hiệu quả. Hàm chi phí giảm ô nhiễm biên
của một công ty cho thấy cách thức giảm ô nhiễm tốn ít chi phí nhất; còn đối với nhóm các
công ty, đó là hàm chi phí giảm ô nhiễm biên gộp.
Biểu đồ (a) và (b) trong hình 5-5 vẽ lại MAC
1
và MAC
2
từ hình 5-4. Biểu đồ (c) là đường
chi phí giảm ô nhiễm biên gộp. Khi chúng ta có 2 nguồn (hay bất kỳ con số nào nhiều hơn
1) với chi phí giảm ô nhiễm khác nhau, chi phí giảm ô nhiễm gộp sẽ phụ thuộc vào cách
chúng ta tính tổng lượng phát thải của các nguồn như thế nào. Nguyên tắc chung là
Để tổng hợp chi phí giảm ô nhiễm biên, phải cộng theo chiều ngang các hàm số
của cá nhân để tạo ra mức chi phí giảm ô nhiễm biên gộp thấp nhất có thể.
Hình 5-5 minh họa một ví dụ làm thế nào tổng hợp các chi phí giảm ô nhiễm biên khác
nhau. Các bước thực hiện như sau:
Ví dụ: Tổng hợp các đường MAC như thế nào
1. Chọn một mức chi phí giảm ô nhiễm biên nhất định, chẳng hạn $40/tháng.
2. Tìm xem mỗi nhà máy giảm bao nhiêu với chi phí này. Với chi phí $40, nhà máy 1 sẽ
muốn giảm 5 tấn một tháng trong khi nhà máy 2 sẽ giảm 7 tấn một tháng.
giảm ô nhiễm biên bằng chi phí thiệt hại biên tại mức phát thải này (đều bằng $20).
Bằng toán học: Gọi E là mức phát thải. E* là mức phát thải tối ưu xã hội. Giả sử cả hai
đường MAC và MD đều tuyến tính.
3
Giả sử:
MAC = 60 – 4E
MD = 2E
Hiệu quả xã hội cần MAC = MD. Cho 2 phương trình bằng nhau ta có:
60 – 4E = 2E 3
MAC tương tự như trong phần trước (MAC
1
)
0 5 10 15
20
40
60
80
0 5 10 15
20
40
60
80
051015
20
30
40
50
60
0246810121416
Chất thải (tấn/tháng)
$Tại sao E* lại là mức phát thải hiệu quả xã hội? Hiệu quả xã hội nghĩa là có sự đánh đổi
giữa thiệt hại biên tăng lên với chi phí giảm ô nhiễm biên tăng lên. Lượng chất thải nhiều
hơn làm cho xã hội chịu nhiều chi phí thiệt hại môi trường hơn. Lượng chất thải giảm
nghĩa là xã hội phải bỏ ra nhiều chi phí giảm ô nhiễm hơn. Do đó mức phát thải hiệu quả
xã hội là mức tại đó hai loại chi phí này đền bù được cho nhau; nghĩa là chi phí giảm thiểu
biên bằng chi phí thiệt hại biên. Có phải mức phát thải hiệu quả xã hội luôn dương?
Không. Nếu đường MD và MAC không cắt nhau tại mức phát thải dương, mức phát thải
hiệu quả xã hội sẽ bằng 0. Độ dốc và hình dạng các đường MAC và MD quyết định mức
cân bằng.
Dựa trên quan điểm hiệu quả này, E* là điểm tốt nhất mà nền kinh tế có thể đạt được; xem
chứng minh dưới đây.
Tính toán giá trị xã hội ròng: cách chứng minh E* tối đa hóa giá trị xã hội ròng
E* là điểm tại đó lợi ích xã hội ròng từ việc giảm ô nhiễm được tối đa hóa (chi phí xã hội
từ việc kiểm soát ô nhiễm được tối thiểu hóa). Có thể dùng hình 5-6 hoặc tính toán tổng lợi
ích và chi phí để chứng minh điều này. Các bước thực hiện như sau:
1. Giả sử ban đầu không có biện pháp kiểm soát ô nhiễm. Như vậy có 15 tấn chất thải mỗi
tháng.
5. Tổng thiệt hại tại mức E* mới là diện tích a và bằng $100.
56. Tổng chi phí giảm ô nhiễm biên là diện tích b và bằng $50.
7. Tổng chi phí xã hội do đó bằng $100 + $50 = $150.
8. Tính sự chênh lệch tổng chi phí xã hội giữa hai mức phát thải. $150 rõ ràng thấp hơn
$225.
Phần tiết kiệm ròng là diện tích c = $75 so với trường hợp không kiểm soát ô nhiễm.
Xã hội tiết kiệm $75 bằng cách giảm ô nhiễm từ 15 tấn xuống 10 tấn. Đây là lợi ích xã hội
ròng do phát thải tại mức tối ưu xã hội so với trường hợp không kiểm soát ô nhiễm. Nhưng
làm thế nào chúng ta biết E* là điểm tốt nhất xã hội có thể đạt tới? Giả sử lượng phát thải
có thể giảm xuống bằng 0. Do đó tổng thiệt hại bằng 0. Tổng chi phí giảm ô nhiễm là diện
tích (a+b+d) = (1/2×$60×15) = $450, lớn hơn $150. Chọn bất cứ mức phát thải nào và tính
chi phí xã hội ròng ta đều có kết quả cao hơn kết quả tại E*.
Mô hình MAC-MD là mô hình lý thuyết cho phép chúng ta khảo sát nhiều trường hợp.
Trong thực tế, mọi vấn đề ô nhiễm đều khác nhau. Phân tích kiểu này cung cấp ph
ương
pháp tổng quát giải quyết bất cứ vấn đề ô nhiễm môi trường cụ thể nào. Thực tế mang tính
động và điều này rất đúng trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường. Mức phát thải tối ưu
năm ngoái hay thập niên trước không nhất thiết là mức tối ưu năm nay hay trong tương lai.
Có rất nhiều yếu tố tác động đến hàm thiệt hại biên và chi phí giảm ô nhiễm biên và khi bất
kỳ yếu tố nào thay đổi hàm số sẽ dịch chuyển và E* sẽ thay đổi.
Hiệu quả xã hội là một khái niệm chuẩn tắc. E*, mức phát thải cân bằng chi phí giảm ô
ở mức Q
0
đơn vị sản lượng, nghĩa là cũng thải ra E
MAX
đơn vị chất thải.
Với đường MC dốc lên, công ty có thể có lợi nhuận với tất cả các đơn vị sản xuất cho đến
Q
0
, là đơn vị sản lượng khi giá bằng MC. Lợi nhuận biên của công ty bằng (P – MC), và
lợi nhuận biên này lớn nhất khi sản xuất đơn vị đầu tiên với mức giá cố định P, sau đó
giảm cho đến khi P = MC tại điểm cân bằng cạnh tranh. Công ty có thể bị mất phần lợi
nhuận biên này nếu bị bắt buộc phải giảm sản lượng xuống dưới mức Q
0
do phải giảm phát
thải. Có thể hiểu đường MAC đại diện cho lợi nhuận bị mất của công ty do phải giảm phát
thải. Phần dưới hình 5-7 vẽ (P – MC) cho tất cả các mức sản lượng từ 0 đến Q
0
. Khoảng
cách a0 trong biểu đồ ở trên bằng b0 trong biểu đồ dưới. Đường MAC do đó có hình dạng
tương tự như đường MC của công ty, nhưng ngược lại. Barry Field & Nancy Olewiler
121
Hình 5-7: Liên kết đường MAC với hoạt động tối đa hóa lợi nhuận
Giả sử bây giờ chính phủ ban hành chính sách môi trường yêu cầu công ty đưa chi phí thiệt
hại biên vào trong chi phí sản xuất. Đường thiệt hại biên (MD) trong biểu đồ dưới đại diện
cho chi phí này. Do đó ta cộng đường MD vào đường chi phí của công ty MC. Chi phí xã
ợ
n
g
p
hát thải
Q
0
Q
*
E
MAX
E*
0
P
MAC
b
e
MD
f
MC
MC + MD
c
d
0
P
a
Các công ty cạnh tranh thường bỏ qua chi phí thiệt hại từ chất thải họ sản xuất ra và tối đa hóa
lợi nhuận khí giá hàng hóa bằng chi phí sản xuất biên. Với tất cả đơn vị sản lượng từ 0 đến Q
Chi phí giảm ô nhiễm Khái niệm chuẩn tắc
Hàm thiệt hại theo mức độ tích tụ Công nghệ kiểm soát ô nhiễm
Hàm thiệt hại Kinh tế học thực chứng
Chi tiêu bảo vệ Ngưỡng
Hàm giảm ô nhiễm biên Tổng chi phí giảm ô nhiễm
Hàm thiệt hại biên Tổng thiệt hại
BÀI TẬP
1. Cho MAC
1
= 100 – 10E và MAC
2
= 50 – 10E. Vẽ từng hàm số và đường MAC gộp.
Cho MD = 30E, xác định điểm cân bằng hiệu quả xã hội. Với các phương trình trên,
giả sử chính phủ quy định mức phát thải là 4 đơn vị. Chi phí xã hội ròng của chính sách
này là bao nhiêu?
2. Giả sử có sự thay đổi công nghệ làm giảm chi phí giảm ô nhiễm biên của nhà máy 1 ở
trên bằng chi phí biên của nhà máy 2. Sự thay đổi này làm ảnh hưởng đến mức phát
thải hiệu quả xã hội như thế nào? Giải bằng đồ thị và số học.
3. Khi có quy định kiểm soát ô nhiễm, chính phủ phải chịu chi phí thực thi như là một
phần chi phí xã hội. Giả sử chi phí thực thi là khoản cố định, độc lập với lượng ô nhiễm
giảm được. Điều này làm điểm cân bằng hiệu quả thay đổi như thế nào? Giải thích
bằng đồ thị.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Các nhà khoa học khám phá ra rằng thiệt hại biên tăng theo hàm mũ với mức phát thải.
chuyển, v.v. Các khoản thu bao gồm tất cả những “lợi ích” được tính toán theo giá thị
trường nhân với lượng sản phẩm bán ra. Doanh nghiệp khi đó sẽ so sánh doanh thu kỳ
vọng với chi phí dự đoán để xem xét có nên đưa ra mẫu xe mới hay không. Phân tích lợi
ích - chi phí là công việc tương tự dành cho các chương trình của khu vực công. Có hai sự
khác biệt quan trọng giữa phân tích lợi ích - chi phí và các quyết định đầu tư tư nhân:
1. Phân tích lợi ích - chi phí là công cụ giúp đưa ra các quyết định chính sách công – tức
là nên thực hiện chính sách hay chương trình nào – đứng trên quan điểm của xã hội nói
chung chứ không phải đứng trên quan điểm của một doanh nghiệp nào đó.
2. Phân tích lợi ích chi phí đánh giá dưới góc độ xã hội tất cả nhập lượng và xuất lượng
liên quan đến dự án bất kể các giá trị này có được trao đổi trên thị trường tư nhân hay
không.
Một thách thức quan trọng đối với phân tích lợi ích - chi phí là làm thế nào để đánh giá các
chi phí và lợi ích không có giá cả thị trường. Thông tin về giá cả thị trường, chi phí và lợi
nhuận là rất quan trọng đối với qui trình này; nó cung cấp những thông tin hữu ích về giá
trị đối với các cá nhân. Những kỹ thuật phát triển cho phân tích lợi ích - chi phí bắt đầu với
những giá trị cá nhân và tính toán các giá trị xã hội khi có sự chênh lệch giữa hai giá trị
này, như thường thấy trong các vấn đề môi trường. Chương 7 và 8 sẽ xem xét các kỹ thuật
đánh giá giá trị xã hội. Chương này sẽ trình bày phương pháp tiến hành phân tích lợi ích -
chi phí, giả sử rằng tất cả các lợi ích và chi phí đã được đo lường.
Phân tích lợi ích - chi phí có hai loại ứng dụng có quan hệ mật thiết với nhau. Đầu tiên là
giữa những nhà thực hành, những nhà kinh tế học trong và ngoài khu vực công, những
người đã phát triển các kỹ thuật, cố gắng thu thập những thông tin tốt hơn và mở rộng
phạm vi phân tích. Thứ hai là giữa những nhà chính trị và những nhà quản lý, những người
lập nên các quy tắc và quy trình sử dụng phân tích lợi ích - chi phí cho việc ra các chính
sách công. Ở Canada, phân tích lợi ích - chi phí chưa được thừa nhận về mặt pháp lý để có
thể sử dụng cho các cơ quan nhà nước ở cấp liên bang và tỉnh. Nó được dùng một cách
hiện), và những dự án phát triển nguồn lực ở Brishtish Columbia (như Northeast Coal, đã
được thực hiện). Nhưng trong những năm gần đây, các cơ quan chính phủ ít thực hiện phân
tích phân tích lợi ích - chi phí. Mặc dù vậy, phân tích lợi ích - chi phí vẫn là một công cụ
phân tích quan trọng được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Và trong khi các nghiên cứu phân
tích phân tích lợi ích - chi phí đầy đủ có thể không do chính phủ thực hiện, việc đo lường
các lợi ích và chi phí xã hội đã trở thành một bộ phận quan trọng trong việc quyết định các
chính sách công.
KHUNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN
Phân tích lợi ích - chi phí liên quan đến việc đo lường, tổng hợp và so sánh tất cả các lợi
ích và chi phí của một dự án hay chương trình công cộng cụ thể. Có 4 bước quan trọng
trong phân tích lợi ích - chi phí:
1. Nhận dạng dự án hay chương trình, bao gồm phạm vi và bối cảnh của nghiên cứu.
2. Mô tả theo hướng định lượng các nhân tố nhập lượng và xuất lượng của chương trình.
3. ước lượng các chi phí và lợi ích xã hội của các nhân tố này.
4. So sánh lợi ích và chi phí.
Mỗi bước sẽ được trình bày khái quát cùng với ví dụ trong phần sau. Barry Field & Nancy Olewiler
125
Quy mô và quan điểm của một dự án hay một chương trình phân tích lợi
ích - chi phí
Phân tích lợi ích - chi phí là một công cụ phân tích chính sách công, nhưng từ “công” có
thể mang nhiều cấp độ. Nếu bạn thực hiện nghiên cứu phân tích lợi ích - chi phí cho một
cơ quan cấp quốc gia, từ “công” có nghĩa là toàn bộ người dân sống trong một nước.
tối đa hóa lợi ích xã hội ròng tại điểm MAC = MD. Barry Field & Nancy Olewiler
126
Hình 6-1: Quy mô hiệu quả xã hội của một dự án công
Quy mô hiệu quả về mặt xã hội của dự án giảm lượng chất thải được xác định tại nơi đường MAC cắt
đường MD. Tức là E *=10 tấn chất thải mỗi tháng. Quy mô hiệu quả về mặt xã hội tối đa hóa lợi ích
xã hội ròng của dự án – diện tích a + d. Nếu mục tiêu của dự án là giảm xuống còn 12 tấn, lợi ích xã
hội ròng chỉ là diện tích a. Đây không phải là quy mô hiệu qu
ả về mặt xã hội.
Chứng minh
Trước tiên giả sử không có biện pháp kiểm soát chất thải: E = 15. Một chương trình được
đề xuất để giảm lượng xả thải xuống còn 12 tấn. Tại lượng xả thải 12 tấn, tổng lợi ích của
chương trình chính là lượng thiệt hại được giảm xuống. Đó là diện tích a + b = $81
8
. Tổng
chi phí xử lý là diện tích b = $18
9
. Do vậy, lợi ích ròng của chương trình là diện tích a =
$63.
Tuy nhiên, để có một chương trình giảm thải đạt mức lợi ích ròng tối đa, mức thải phải
giảm xuống còn E = 10 tấn, tại mức mà MD = MAC. Lợi ích xã hội ròng tại mức thải 10
tấn là diện tích (d+a) = $75
10
. Lợi ích ròng khi đạt quy mô hiệu quả về mặt xã hội 10 tấn
10
20
30
50
40
a
0
d
60
12 16
c
b
MD
MAC
$
E*
Barry Field & Nancy Olewiler
127
Mô tả nhập lượng và xuất lượng của chương trình
Bước tiếp theo là xác định các dòng nhập lượng – chi phí của chương trình hay dự án và
xuất lượng – lợi ích. Đối với một số dự án thì điều này khá dễ dàng. Nếu lập kế hoạch xây
dựng một nhà máy xử lý nước thải, chúng ta sẽ phải cung cấp đầy đủ các đặc tính kỹ thuật
của nhà máy, cùng với các nhập lượng cần thiết để xây dựng và vận hành nó. Xuất lượng
cũng phải được xác định rõ – tức là lượng nước sẽ được xử lý hàng ngày hay hàng năm.
Đối với những dự án khác, việc này sẽ khó hơn nhiều, bởi vì cả nhập lượng và xuất lượng
đều khó lượng hóa, ví dụ như một chương trình thông tin để thông báo cho công chúng về
cường độ sử dụng năng lượng của các thiết bị gia dụng hoặc làm việc với ngành công
nghiệp về những chương trình phòng chống ô nhiễm. Một yếu tố quan trọng trong việc đo
11• Nếu dự án kéo dài hơn một năm, chúng ta phải chiết khấu các chi phí và lợi ích tương
lai trước khi tính lợi ích ròng. Phần tiếp theo sẽ trình bày phương pháp chiết khấu. 11
Xin nhớ rằng chi phí xử lý bao gồm toàn bộ chi phí mà người gây ô nhiễm phải chịu nhằm giảm lượng
phát thải. Bao gồm chi phí thiết bị xử lý, lợi nhuận giảm xuống do giảm sản lượng (nếu có), chuyển công
nhân từ sản xuất sang quản lý chất thải Tổng thiệt hại đo lường toàn bộ tác động của chất thải đối với con
người và môi trường. khi đo lường giá trị
thiệt hại đối với con người, thước đo thường được dùng là giá sẵn
lòng trả để giảm lượng chất thải.
Barry Field & Nancy Olewiler
128
• Nếu có nhiều hơn một dự án có thể giúp đạt được cùng một mục tiêu, chúng ta phải
chọn chương trình /dự án đem lại lợi ích lớn nhất, trong điều kiện ràng buộc về ngân
sách của chính phủ.
Chúng ta sẽ minh họa những nguyên tắc này bằng những ví dụ phức tạp dần. Trước tiên,
chúng ta sẽ xem cách tính lợi ích ròng khi chỉ xem xét một dự án và không cần chiết khấu,
sau đó chúng ta sẽ xem xét một trường hợp có nhiều phương án giải quyết cùng một vấn
đề, và phải lựa chọn một phương án. Cuối cùng, chúng ta sẽ xem xét điều gì xảy ra khi
chính phủ chịu ràng buộc về ngân sách.
Cách tính lợi ích ròng
Ví dụ: Chương trình kiểm soát chất thải từ nhà máy giấy
trong tỷ số lợi ích – chi phí. Quy mô hiệu quả về mặt xã hội của dự án mà chúng ta cho là
quy mô thích hợp nhất không phải là quy mô có tỷ số lợi ích – chi phí cao nhất. Hãy xem
lại Hình 6-1. Tại mức E * = 10, tỷ số lợi ích – chi phí là (a+b+c+d)/(b+c) = (125/44) = 2,
84. Tại mức 12 tấn chất thải, tỷ số lợi ích – chi phí là (a+b)/b=4, 5. Tỷ số lợi ích – chi phí
cao hơn ở mức E = 12 vì nó phụ thuộc vào tỷ lệ tương đối giữa tổng lợi ích và chi phí của
dự án, chứ không phụ thuộc vào lợi ích ròng. Nhưng, như chúng ta đã lập luận, lợi ích ròng
chứ không phải là tổng lợi ích mới là quan trọng đối với xã hội. Tỷ số lợi ích – chi phí ít
Barry Field & Nancy Olewiler
129
nhất có thể được dùng để đảm bảo rằng lợi ích lớn hơn chi phí. Tuy nhiên nó có thể là một
chỉ số dẫn đến sai lầm trong việc xác định quy mô của các chương trình công.
Chiết khấu và lựa chọn giữa các dự án có cùng mục tiêu chính sách
Điều gì sẽ xảy ra nếu có nhiều phương án giúp đạt cùng một mục tiêu? Chúng ta sẽ sử
dụng những quy tắc nào để lựa chọn một phương án? Điều gì xảy ra nếu mỗi phương án có
những lợi ích và chi phí diễn ra trong nhiều năm? Và khi đó, làm thế nào để tính lợi ích
ròng? Chúng ta sẽ trả lời những câu hỏi này thông qua ví dụ sau.
Ví dụ: Đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý nước thải đô thị
12Giả sử mục đích của chúng ta là cải thiện chất lượng nước bằng cách đầu tư nâng cấp hệ
thống xử lý nước thải của cộng đồng. Đây là một dự án công với 3 phương án xử lý khác
nhau, mỗi mức có dòng lợi ích và chi phí khác nhau. Đó là:
1. Xử lý bậc cao: nước sau xử lý sẽ không còn chất thải sinh hoạt, vi trùng hay vi khuẩn.
2. Xử lý thông thường: nước sau xử lý sẽ không còn chất thải sinh hoạt, nhưng có thể
12
Chúng tôi chọn một physical project để minh họa các nguyên tắc phân tích lợi ích - chi phí. Những nguyên
lý này cũng áp dụng đối với các dự án kiểm soát. Có thể thay thế ví dụ này bằng ví dụ khác, chẳng hạn như 3
chính sách giảm khí thải nhà kính. Mỗi chính sách có dòng lợi ích và chi phí khác nhau với dòng đời khác
nhau và có tác động đến các nhóm người khác nhau.
Barry Field & Nancy Olewiler
130
Nhiệm vụ của chúng ta trước tiên là tính lợi ích ròng. Khi chi phí và lợi ích khác nhau theo
thời gian, chúng ta phải chiết khấu trước khi tính tổng và so sánh. Chiết khấu có hai khía
cạnh: một là phương thức tiến hành, và sau nữa là những lý lẽ đằng sau việc lựa chọn suất
chiết khấu để sử dụng cho một trường hợp cụ thể.
Một khoản chi phí phát sinh trong năm 10 không có cùng ý nghĩa với khoản chi phí đó xảy
ra ngày hôm nay. Ví dụ, giả sử một người phải trả $1.000 ngay hôm nay. Để trả tiền, người
đó phải có $1.000 trong ngân hàng, hoặc trong túi. Mặt khác, giả sử người đó phải trả
$1.000 không phải ngay hôm nay mà là sau 10 năm. Nếu lãi suất ngân hàng là 5%/năm và
lãi suất này không thay đổi, người này có thể gửi $613, 91 vào ngân hàng ngày hôm nay và
số tiền này sẽ trở thành $1.000 sau 10 năm, cũng là lúc mà người này cần đến nó. Công
thức tính giá trị tương lai của số tiền này là:
$613,91(1+0,05)
10
= $1.000
Chúng ta có thể lật lại vấn đề và hỏi rằng: Giá trị hiện tại của $1.000 xảy ra vào năm thứ 10
là bao nhiêu? Giá trị hiện tại của nó là số tiền mà chúng ta phải gửi vào ngân hàng ngày
hôm nay để có được $1000 sau 10 năm, có thể tính bằng cách sắp xếp lại phương trình
trên:
ta xem xét một dự án kéo dài mãi mãi, công thức tính giá trị hiện tại PV
13
đơn giản là PV =
m/r.
Ví dụ: áp dụng chiết khấu cho các phương án xử lý nước thải
Nhiệm vụ của chúng ta là tính lợi ích ròng cho mỗi giai đoạn, sau đó chiết khấu về năm 0
để từ đó tính dòng lợi ích ròng của dự án. Các bước này được tiến hành dưới đây và kết
quả được trình bày trong Bảng 6-2. 13
Công thức tính giá trị hiện tại với t lớn vô cùng sẽ hội tụ về m /r bởi vì [m/(1+r)
t
] là một dãy số nhân với
giá trị của mẫu số giảm dần.
Barry Field & Nancy Olewiler
131
1. Tính lợi ích ròng. Lợi ích ròng đơn giản là tổng lợi ích trong từng năm trừ đi tổng chi
phí của năm đó. Kết quả tính toán được trình bày ở phần trên của Bảng 6-2. Ví dụ, ở
năm 0, phương án 1 có tổng chi phí = $50, tổng lợi ích = 0, lợi ích ròng = -$50.
2. Tính PV của lợi ích ròng của từng năm. Lấy giá trị hiện hành chia cho thừa số chiết
khấu: 1/(1+r)
t
với r = 5% và t = 0, 1, 2, 3, 4, 5. Kết quả được trình bày ở phần bên dưới
Bảng 6-2. Ví dụ, ở năm 3, giá trị hiện tại của lợi ích ròng của phương án 3 là
$10/(1.05)
Xử lý bậc cao -100 0 30 50 60 60
Xử lý thông thường -50 25 35 35 35 35
Xử lý sơ cấp -25 5 10 10 10 10
Giá trị hiện tại của lợi ích ròng (triệu đô la /năm) r=5%
0 1 2 3 4 5 Tổng PV
Xử lý bậc cao -100 0 27.21 43.19 49.36 47.01 66.77
Xử lý thông thường -50 23.81 31.75 30.23 28.79 27.42 92.00
Xử lý sơ cấp -15 4.76 9.07 8.64 8.23 7.84 23.54
Phân tích độ nhạy
Một vấn đề quan trọng trong phân tích lợi ích - chi phí là xem các kết quả này thay đổi như
thế nào khi thay đổi những giả định. Các giả định là cần thiết cho bất kỳ dự án nào. Hãy
xem xét 2 giả định cơ bản trong ví dụ của chúng ta:
1. Suất chiết khấu là 5%.
14
Những phép tính này có thể dễ dàng tiến hành trên một bảng tính.