SỞ HỮU TRÍ TUỆ - NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ - 3 - Pdf 21

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
33
Trả lời Vấn đề này có thể được điều chỉnh bởi pháp luật về quảng cáo so sánh,
theo đó có thể đòi hỏi rằng việc so sánh là được phép với điều kiện phải
hợp lý. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng việc sử dụng nhãn hiệu của
đối thủ cạnh tranh là không nhằm mục đích của nhãn hiệu để chỉ dẫn
gốc, mà chỉ nhằm m
ục đích phân biệt hàng hóa thuộc sở hữu của thương
nhân với hàng hóa của đối thủ cạnh tranh.

 Sử dụng một dấu hiệu cho hàng hóa hoặc dịch vụ

Để cấu thành hành vi xâm phạm quyền, dấu hiệu phải được sử dụng kèm với hàng hóa
hoặc dịch vụ. Các quy định về nhãn hiệu trong Hiệp định TRIPS cũng như Công ước
Paris đều không đưa ra định nghĩa “sử dụng”. Do đó, một nhãn hiệu không được sử
dụng theo ý nghĩa thích đáng trừ khi nó như một chỉ dẫ
n về nguồn gốc hàng hóa. Như
vậy, sử dụng trong quảng cáo so sánh hoặc nhằm mục đích biểu thị chất lượng sẽ
không phải là sử dụng nhãn hiệu. Thông thường, một nhãn hiệu sẽ được sử dụng gắn
với hàng hóa hoặc dịch vụ đã đăng ký. Điều này có thể thông qua việc gắn nhãn hiệu
lên hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa hoặc trong các tài liệu giao dịch thương mại,
như hóa đơn hoặc bảng giá. Trong một số hệ thống pháp luật, việc sử dụng nhãn hiệu
trong quảng cáo hoặc các hình thức xúc tiến khác sẽ là bằng chứng cho việc sử dụng,
tuy nhiên, cũng có thể yêu cầu rằng việc sử dụng phải đồng thời với việc cung cấp
hàng hóa trên thị trường để được coi là “trong quá trình thương mại”.

Câu hỏi tự đánh giá

Câu 12 Trong một qu
ảng cáo, một thương nhân so sánh sản phẩm của mình với
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Quảng cáo đó đề cập đến sản phẩm của

định sẽ có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Thông thường, các thẩm định
về khả năng nhầm lẫn đượ
c sử dụng để đánh giá mức độ nhầm lẫn phục vụ mục đích
đăng ký. Do đó, như một quy tắc chung, hàng hóa là tương tự nếu khi được chào bán
dưới cùng một nhãn hiệu tương tự thì công chúng tiêu dùng có khả năng tin rằng hàng
hóa đó có cùng nguồn gốc. Cần xem xét mọi chi tiết gồm bản chất của hàng hóa, mục
đích sử dụng, các kênh thương mại phân phối hàng hóa, đặc biệt là nguồ
n gốc thông
thường của hàng hóa và các điểm bán lẻ thông thường.

Một khía cạnh khác là bản chất và thành phần của hàng hóa. Nếu phần lớn hàng hóa
được sản xuất từ cùng nguyên liệu thì chúng sẽ được coi là tương tự, thậm chí nếu
chúng được sử dụng cho các mục đích khác nhau. Nguyên liệu thô và sản phẩm hoàn
thiện được sản xuất từ nguyên liệu thô thường là không giống nhau, tuy nhiên, chúng
lại không được bán ra thị trường bở
i cùng một công ty.

Nhãn hiệu ít nhiều có thể giống nhau. Việc thẩm định để xem liệu chúng có tương tự
đến mức gây nhầm lẫn hay không. Một nhãn hiệu bị coi là tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với nhãn hiệu có trước đó nếu nó được sử dụng cho hàng hóa tương tự và
trùng với nhãn hiệu có trước đó đến mức mà người tiêu dùng có thể bị nhầm lẫn về
nguồ
n gốc của hàng hóa. Nếu người tiêu dùng bị nhầm lẫn, vai trò phân biệt của nhãn
hiệu không phát huy tác dụng và người tiêu dùng có thể không mua được sản phẩm
mong muốn. Điều này là không tốt đối với người tiêu dùng cũng như đối với chủ sở
hữu nhãn hiệu sẽ không bán được hàng hóa.

Việc thẩm định không cần thiết nhằm vào sự cố ý gây nhầm lẫn từ phía người xâm
phạm quyền c
ũng như nhầm lẫn trên thực tế. Khả năng gây nhầm lẫn mới là nội dung

ếu tố giống nhau có thể dẫn đến sự nhầm lẫn
mà không cần tập trung vào những khác biệt mà người tiêu dùng trung bình đã bỏ
qua. Mặc dù nguyên tắc cơ bản về so sánh nhãn hiệu này là tổng thể và không chia
các nhãn hiệu thành từng phần nhưng cấu trúc của các dấu hiệu là quan trọng. Các
tiền tố phổ biến thường quan trọng hơn các hậu tố; nếu hai dấu hiệu rất giống nhau
hoặ
c trùng lặp ở phần tiền tố, chúng có khả năng bị nhầm lẫn cao hơn là giống nhau ở
phần hậu tố. Các từ dài có các ký tự đầu tiên giống nhau hoặc trùng lặp có nhiều khả
năng bị nhầm lẫn hơn là các từ ngắn với ký tự đầu khác nhau.

Các nhãn hiệu có tính phân biệt cao (các nhãn hiệu từ đặt hoặc ngẫu hứng) có khả
năng bị nhầm lẫn nhiề
u hơn là các nhãn hiệu mang nghĩa kết hợp liên quan đến hàng
hóa mà nhãn hiệu được đăng ký.

Sự nhầm lẫn có thể phát sinh từ sự tương tự trong cách viết, cách phát âm và ý nghĩa
của dấu hiệu, và sự tương tự ở một trong số các nội dung này cũng đủ để cấu thành
hành vi xâm phạm quyền nếu nó gây nhầm lẫn cho công chúng.

Câu hỏi tự đánh giá
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
36

Câu 13 Những yếu tố nào được xem xét khi đánh giá nhãn hiệu SOLAROID
tương tự gây nhầm lẫn với POLAROID?

Trả lời. Sự tương tự trong thể hiện đồ họa của nhãn hiệu; tương tự trong cách
phát âm; tương tự về ý nghĩa và ý tưởng được truyền đạt bởi cả hai nhãn
hiệu; bản chất của hàng hóa mang nhãn hiệu; mục đích sử dụng nhãn
hiệu và các kênh thương mạ


Sẽ là không phổ biến đối với một hành vi xâm phạm quyền của bị đơn nhằm tìm kiếm
sự hủy bỏ nhãn hiệu của nguyên đơn. Các căn cứ hủy bỏ được đề cập dưới đây.

Quyền sử dụng độc lập nhãn hiệu đã đăng ký Hầu hết các luật nhãn hiệu đều giới hạn quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu thực hiện
hành vi chống lại việc sử dụng nhãn hiệu có trước, thường là các nhãn hiệu đã và
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
37
đang được sử dụng trong vùng. Thông thường, phần lớn các luật nhãn hiệu đều yêu
cầu việc sử dụng này phải là liên tục. Ví dụ, một nhãn hiệu có thể đã và đang được sử
dụng trên cơ sở không đăng ký bởi một người trước chủ sở hữu có đăng ký. Lý lẽ
biện hộ này sẽ là quan trọng đối với nhãn hiệu được cấp bởi các liên minh sở hữ
u trí
tuệ khu vực, khi mà các trường hợp sử dụng đồng thời tại các nước khác nhau có thể
xảy ra.

Sử dụng tên riêng và địa chỉ riêngMột nhãn hiệu đã được đăng ký thường sẽ không bị xâm phạm quyền đối với nó nếu
bị đơn sử dụng tên riêng và địa chỉ riêng của họ, với điều kiện việc sử dụng đó phù
hợp với các tập quán thương mại trung thực. Tên riêng của bị đơn sẽ là thứ mà thông
qua đó nó được người tiêu dùng biết đến. Ví dụ, chủ sở h
ữu nhãn hiệu MERCURY
COMMUNICATIONS cho các dịch vụ viễn thông có thế kiện MERCURY
INTERACTIVE sử dụng tên riêng của mình cho các dịch vụ tương tự khi chủ sở hữu
được khách hàng của mình biết đến là MERCURY.

Chuyên gia BMW

Các lý lẽ biện hộ khácCác hành vi không được chấp nhận về phía nguyên đơn cũng có thể tạo ra sự biện hộ
cho hành vi xâm phạm quyền. Trong một số hệ thống pháp luật, việc trì hoãn lâu dài
trong thực thi quyền về nhãn hiệu của một người có thể được xem như sự chấp thuận
cho người khác sử dụng nhãn hiệu đó.

Tương tự, việc sử dụng nhãn hiệu bởi người khởi kiện nh
ằm hỗ trợ hành vi gian lận
hoặc lừa dối sẽ bị coi là hành vi không được chấp nhận. Ví dụ, việc sử dụng một nhãn
hiệu hình ảnh nhằm chỉ xì gà được sản xuất tại Cuba trong khi chúng lại được sản
xuất ở một nơi khác, có thể sẽ không giúp người khiếu kiện chống lại thương nhân đã
sử dụng nhãn hiệu hình ảnh tương tự để chỉ
dẫn về nguồn gốc thật ở Cu-ba.

 Hủy nhãn hiệu trong Đăng bạ do không sử dụng

Nếu chủ sở hữu không gia hạn đăng ký nhãn hiệu của mình hoặc chính xác hơn là
không nộp lệ phí gia hạn, điều này sẽ dẫn đến việc hủy bỏ nhãn hiệu khỏi Đăng bạ.
Các cơ quan đăng ký thường cho phép một ân hạn để thanh toán khoản lệ phí gia hạn
(thường là có tính phụ phí).

Chủ nhãn hiệu đăng ký có thể tự
mình, vào bất cứ thời điểm nào, từ bỏ việc đăng ký
đối với toàn bộ hoặc một phần hàng hóa mang nhãn hiệu đăng ký. Do đó, theo yêu
cầu của chủ nhãn hiệu đăng ký, về nguyên tắc, các cơ quan có thẩm quyền sẽ hủy bỏ
nhãn hiệu toàn phần hoặc từng phần.

p định TRIPS quy định rằng “việc đăng ký chỉ có
thể bị hủy bỏ sau một thời gian gián đọan không sử dụng ít nhất là 03 năm, trừ khi chủ
sở hữu nêu ra các lý do chính đáng về sự tồn tại của các trở ngại cho việc sử dụng
này”. Lý do chính đáng giải thích việc không sử dụng được công nhận trong Điều này
là “những hoàn cảnh phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở h
ữu nhãn hiệu”
như “hạn chế xuất khẩu hoặc các yêu cầu khác của chính phủ đối với hàng hóa hoặc
dịch vụ được bảo hộ theo nhãn hiệu”.

 Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu

Điều 19.2 Hiệp định TRIPS cho phép việc “sử dụng nhãn hiệu bởi người khác” phải
được “thừa nhận là sử dụng nhãn hiệu nhằm mục đích duy trì đăng ký”, với điều kiện
việc sử dụng nhãn hiệu đó “nằm dưới sự kiểm soát của chủ sở hữu”. Việc sử dụng có
kiểm soát này của bên thứ ba
được ủy quyền thường được thực hiện thông qua hình
thức li-xăng. Điều 21 Hiệp định TRIPS cho phép các quốc gia thành viên quy định về
việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu. Trong một số hệ thống pháp luật, quy định này
sẽ được thực hiện thông qua hệ thống của người sử dụng có đăng ký, và cơ quan đăng
ký có quyền quyết định liệu li-xăng có liên quan đến lợi ích công cộ
ng hay không. Yêu
cầu về kiểm soát của bên cấp li-xăng được giải thích thông qua nhận thức về chức
năng cơ bản của nhãn hiệu như một chỉ dẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của
hàng hóa hoặc dịch vụ. Do đó, việc bất kỳ người khác ngoài chủ sở hữu sử dụng nhãn
hiệu, thì ban đầu, đều là lừa dối. Để khắc phục tình trạng ng
ười tiêu dùng có khả năng
bị lừa dối trong trường hợp nguồn gốc của hàng hóa là của bên nhận li-xăng, mà
không phải của chủ sở hữu nhãn hiệu, pháp luật đã quy định cho phép chuyển quyền
sử dụng (li-xăng) như là biện pháp tốt thứ hai, thừa nhận rằng chức năng thứ hai của
nhãn hiệu là đảm bảo chất lượng thông qua việc quy định rằng bên cấp li-xă

đồng của người sử dụng được đăng ký của Anh. Nếu loại hợp đồng này được đăng
ký, thì việc sử dụng nhãn hiệ
u bởi người sử dụng được đăng ký sẽ được xem như sử
dụng bởi chủ sở hữu nhãn hiệu. Tuy nhiên, đây không phải là hợp đồng li-xăng thực
tế giữa các bên phải đăng ký; pháp luật quy định một loại mẫu đơn giản, với một số
điều kiện nhất định sẽ được điền vào trước khi người đăng bạ công nh
ận hợp đồng
của người sử dụng được đăng ký. Điều kiện li-xăng chủ yếu mà cơ quan nhãn hiệu
yêu cầu sẽ là yêu cầu bên cấp li-xăng thực hiện kiểm việc soát chất lượng.

Do Sổ đăng ký nhãn hiệu sẽ bị để ngỏ cho việc điều tra, nên các bên trong hợp đồng
li-xăng thường không đăng ký tất cả các điều kiện củ
a hợp đồng mà chỉ đăng ký theo
một mẫu đơn giản.

Câu hỏi tự đánh giá

Câu 11. Tại sao các quy định về kiểm soát chất lượng là cần thiết trong hợp
đồng chuyển quyền sử dụng (li-xăng) nhãn hiệu?

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
41
Trả lời. Để khắc phục khả năng nhầm lẫn vốn có trong thực tiễn khi chủ
nhãn hiệu không phải là nguồn cung cấp các sản phẩm mang nhãn
hiệu  Chuyển nhượng nhãn hiệu

Chuyển nhượng là hình thức phổ biến nhất để thay đổi quyền sở hữu về nhãn hiệu.

liệu cần thiết cho c
ơ quan nhãn hiệu để đăng ký sự thay đổi về quyền sở hữu, chủ sở
hữu đó phải có khả năng hành động để bảo vệ nhãn hiệu của mình chống lại các hành
vi xâm phạm. Đôi khi, thủ tục đăng ký rất lâu và rườm rà, và một số hệ thống pháp
luật không cho phép ghi nhận các đơn tồn đọng. Trong trường hợp đó, chủ sở hữu
mới thườ
ng sẽ bị phong tỏa hoàn toàn vì chủ sở hữu cũ cũng có thể không còn tồn tại,
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
42
hoặc ít nhất, có thể không còn quan tâm đến các vụ kiện chống lại hành vi xâm phạm
quyền đối với nhãn hiệu cũ của chủ sở hữu đó.

Luật nhãn hiệu cũng thường quy định rằng người đăng ký sẽ từ chối đăng ký hợp
đồng chuyển nhượng nếu chủ sở hữu đó thấy rằng việc đó có thể gây nhầm lẫn cho
người tiêu dùng. Sự
vô hiệu của việc chuyển nhượng không dẫn đến việc vô hiệu của
quyền đối với nhãn hiệu. Tuy nhiên, các quyền đối với nhãn hiệu sẽ ở lại với bên
chuyển giao-chủ sở hữu cũ. Điều này có nghĩa là việc sử dụng nhãn hiệu bất kỳ của
chủ sở hữu mới đăng ký sẽ không phải thực sự là việc sử dụ
ng thực tế, và, sau khi ân
hạn sử dụng nhãn hiệu đã hết hạn, nhãn hiệu sẽ bị để ngỏ cho việc hủy bỏ. Dĩ nhiên,
bên chuyển giao và chủ sở hữu đăng ký cũ của nhãn hiệu, mà vẫn là chủ sở hữu nhãn
hiệu, có thể sử dụng chúng trong thực tế, nhưng chủ sở hữu đó không thể làm như vậy
bởi vì các bên thường không nhận thức
được việc hết hiệu lực của chuyển nhượng.

Vì sự an toàn về pháp lý, việc chuyển nhượng sẽ phải được thực hiện bằng văn bản.
Đơn yêu cầu đăng ký chuyển nhượng cũng phải bằng văn bản, cho dù được làm bởi
bên chuyển giao hay bên nhận chuyển giao. Nếu là bên chuyển giao nộp đơn đăng ký,
thì một tờ khai duy nhất được bên đó hoặc người đạ

Thỏa ước Nice là một điều ước quốc tế đa phương được ký kết ngày 15/6/1957. Thỏa
ước có hiệu lực từ ngày 8/4/1961, được sửa đổi tại Stockholm ngày 14/7/1967 và tại
Geneva ngày 13/5/1977 (văn kiện được sửa đổi cuối cùng được gọi tắt là "Văn kiện
Geneva ").

Phân loại quốc tế theo Thỏa ước Nice bao gồm:

– Danh mục nhóm, kèm theo các chú giải thích hợp; Danh m
ục này bao gồm
34 nhóm hàng hóa và 8 nhóm dịch vụ;

– Một danh mục hàng hóa và dịch vụ được xếp thứ tự theo bảng chữ cái (sau
đây gọi tắt là "Danh mục"), phân loại các hàng hóa và dịch vụ trong mỗi
nhóm.

Bảng phân loại Nice được làm bằng hai ngôn ngữ chính thức: tiếng Anh và tiếng
Pháp. Cũng có các phiên bản chính thức hoặc bản dịch chính thức của Bảng phân loại
Nice bằng các ngôn ngữ sau: Trung Quốc, Croatia, Czech, Đan Mạch, Hà Lan, Đứ
c,
I-ta-li-a, Nhật Bản, Lit-va, Mác-xê-đô-ni-a, Na Uy, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Nga, Slô-
ven-i-a, Tây Ban Nha và Thụy Điển.

(b) Phạm vi pháp lý và áp dụng Bảng phân loại Nice

Theo Điều 2(3) Thỏa ước Nice, các nước thuộc Liên minh Nice được yêu cầu đưa vào
các văn bản và ấn phẩm chính thức liên quan đến đăng ký nhãn hiệu, số nhóm của
Bảng phân loại mà hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu được đăng ký.

Hiệu lực của Bảng phân loại Nice theo hiệu lự
c mà mỗi quốc gia thành viên Liên

t sản phẩm vào Danh mục. Các sản phẩm được bổ sung
vào Danh mục là tất cả các sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường
trong thời gian giữa các kỳ họp của Ủy ban chuyên gia;

– Sửa đổi cách diễn đạt một hạng mục trong Danh mục. Đôi khi cần
trình bày chi tiết cách diễn đạt hiện tại bằng cách bổ sung thêm chức
năng hoặc mục đích của s
ản phẩm hoặc phân biệt từ đồng âm mà được
phân loại khác nhau;

– Chuyển sản phẩm từ nhóm này sang nhóm khác. Mặc dù việc chuyển
đổi này rất hiếm gặp, tuy nhiên, đôi khi cũng cần phải thực hiện việc
này.

Câu hỏi tự đánh giá

Câu 12 Thỏa ước Nice bao gồm các thành phần nào?

Trả lời.
– Một Bảng danh mục 34 nhóm hàng hóa và 8 nhóm dịch vụ;
– M
ột danh mục hàng hóa và dịch vụ được xếp loại thứ tự theo bảng chữ
cái kèm theo các nhóm tương ứng với mỗi hàng hóa hoặc dịch vụ được
phân loại.

 Công ước Paris

Công ước Paris đề cập đến vấn đề sử dụng nhãn hiệu tại Điều 5C(1), (2) và (3).
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
45

hiệu vốn có khi đăng ký tại một trong số các nước thành viên, sẽ không dẫn đế
n việc
hủy bỏ đăng ký cũng như không thu hẹp phạm vi bảo hộ đã được cấp cho nhãn hiệu.
Mục đích của quy định này là cho phép sự khác biệt không quan trọng giữa hình thức
của nhãn hiệu đã được đăng ký và hình thức mà nó được sử dụng, ví dụ trong các
trường hợp sửa chữa hoặc dịch một số thành tố cho việc sử dụng đó. Quy tắc này

ng được áp dụng đối với sự khác nhau về hình thức của nhãn hiệu được sử dụng tại
một nước với nhãn hiệu đã được đăng ký gốc.

Trong một số trường hợp cụ thể, sự khác nhau giữa nhãn hiệu đã được đăng ký và
nhãn hiệu được sử dụng thực tế có làm thay đổi các đặc tính phân biệt hay không do
các cơ quan quốc gia có thẩm quyền quyết đị
nh.

(b) Sử dụng đồng thời

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
46
Điều 5C(3) Công ước đề cập đến trường hợp khi hai cơ sở trở lên sử dụng cùng một
nhãn hiệu cho hàng hóa trùng hoặc tương tự thì được coi là đồng sở hữu chủ của nhãn
hiệu đó. Điều này được quy định là việc sử dụng đồng thời như vậy sẽ không ngăn
cản việc đăng ký nhãn hiệu hoặc làm giảm việc bảo hộ ở n
ước thành viên bất kỳ của
Liên minh, ngoại trừ việc sử dụng đó gây nhầm lẫn cho công chúng và trái với lợi ích
xã hội. Các trường hợp như vậy có thể xảy ra nếu việc sử dụng đồng thời gây ra sự
nhầm lẫn cho công chúng về nguồn gốc của hàng hóa mang cùng một nhãn hiệu được
chào bán hoặc nếu chất lượng của hàng hóa đó khác với quan điểm cho là chúng có
thể trái vớ
i lợi ích công cộng nhằm cho phép tiếp tục sử dụng.

ệu lực vào ngày hết thời hạn ban đầu theo cách hồi tố.

Câu hỏi tự đánh giá

Câu 14 Ân hạn tối thiểu để nộp các khoản lệ phí gia hạn theo quy định của
Công ước Paris là bao lâu?
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
47

Trả lời. Các quốc gia thành viên Liên minh Paris có nghĩa vụ phải quy định ân
hạn ít nhất là 6 tháng cho việc thanh toán các khoản phí gia hạn

(d) Tính độc lập của nhãn hiệu

Điều 6 Công ước thiết lập một nguyên tắc quan trọng về tính độc lập của nhãn hiệu
tại các quốc gia khác nhau trong Liên minh, và đặc biệt là tính độc lập của nhãn hiệu
được nộp hoặc đăng ký tại một quốc gia xuất xứ so v
ới nhãn hiệu được nộp hoặc
đăng ký tại các quốc gia thành viên khác trong Liên minh.

Phần đầu của Điều 6 quy định áp dụng nguyên tắc cơ bản về đối xử quốc gia đối với
việc nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia trong Liên minh. Bất kể nguồn
gốc của nhãn hiệu đăng ký bảo hộ, một quốc gia thành viên của Liên minh chỉ có thể
áp dụng pháp luật qu
ốc gia khi xác định các điều kiện nộp đơn và đăng ký nhãn hiệu.
Việc áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia khẳng định quy tắc độc lập của nhãn hiệu,
bởi vì việc đăng ký và duy trì nhãn hiệu sẽ chỉ phụ thuộc vào pháp luật quốc gia của
mỗi nước.

Điều khoản này cũng quy định rằng đơn đăng ký nhãn hiệu, do một người có quyền

gia hạn cùng một nhãn hiệu tại nước xuất xứ của nhãn hiệu.

(e) Biểu tượng chính thức

Công ước quy định các dấu hiệu phân biệt của các quốc gia và các tổ ch
ức quốc tế
liên chính phủ tại Điều 6ter. Điều này buộc một thành viên, trong những trường hợp
nhất định, phải từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký và cấm sử dụng, kể cả nhãn hiệu hay các
thành phần của nhãn hiệu, các dấu hiệu phân biệt của các quốc gia thành viên và các
tổ chức quốc tế liên chính phủ nhất định quy định tại Điề
u này.

Các quy định tại Điều 6ter không được áp dụng nếu cơ quan có thẩm quyền của một
quốc gia thành viên cho phép sử dụng các dấu hiệu phân biệt của quốc gia này làm
nhãn hiệu. Tương tự, các cơ quan có thẩm quyền của một tổ chức liên chính phủ có
thể cho phép người khác sử dụng các dấu hiệu phân biệt của mình làm nhãn hiệu.
Ngoài ra, trong trường hợp các dấu hiệu phân biệt của m
ột quốc gia thành viên, thì
công dân của quốc gia thành viên bất kỳ được phép sử dụng các dấu hiệu phân biệt
của nước mình có thể sử dụng các dấu hiệu đó ngay cả khi chúng tuơng tự với các
biểu tượng như vậy của quốc gia thành viên khác.

Dấu hiệu phân biệt của quốc gia được đề cập tại Điều 6ter bao gồm: quốc huy, quốc
kỳ và các biểu tượ
ng khác, các dấu hiệu kiểm tra, xác nhận và đảm bảo chính thức và
sự bắt chước bất kỳ mang đặc điểm của huy hiệu.

Mục đích của các quy định nêu tại Điều 6ter liên quan tới các dấu hiệu phân biệt của
quốc gia, nhằm loại trừ việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với
quốc huy, quốc kỳ hoặc các biể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status