BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOÀI TẢO KHÁC
NHAU ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG
CỦA ẤU TRÙNG HẦU THÁI BÌNH DƯƠNG
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Nguyệt Ánh
MSSV: 46135242
Giáo viên hướng dẫn
Th.S Phùng Bảy
Th.S Cái Ngọc Bảo Anh
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC LOÀI TẢO KHÁC NHAU Nannochloropsis sp.,
Chaetoceros sp., Isochrysis sp. ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG VÀ TỈ LỆ SỐNG
CỦA ẤU TRÙNG HẦU THÁI BÌNH DƯƠNG Crassostrea gigas (Thunberg,
1793)
Luận văn tốt nghiệp
Chuyên ngành nuôi trồng thuỷ sản, khoá 2004 – 2009
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Nguyệt Ánh
MSSV: 46135242
Giáo viên hướng dẫn
Th.S Phùng Bảy
Th.S Cái Ngọc Bảo Anh
Nha Trang, tháng 11 năm 2008
LỜI CẢM ƠN
2.3 Nghiên cứu sử dụng vi tảo làm thức ăn cho ấu trùng
động vật thân mềm 14
Phần III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1. Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
2. Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng 16
2.1. Phương pháp gây nuôi tảo 16
2.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các loài tảo đơn bào đến
tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình dương 17
2.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 18
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
1. Gây nuôi sinh khối tảo 22
2. Ảnh hưởng của các loài tảo đơn bào đến tốc độ sinh trưởng và
tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương 24
Phần V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 27
1. Kết luận 27
2. Đề xuất ý kiến 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Phụ lục A
Phần I: MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng thủy sản đã phát triển nhanh
chóng, đa dạng hóa cả về hình thức cũng như đối tượng nuôi. Trong đó, động vật
thân mềm được xem như là những đối tượng rất có tiềm năng trong nuôi trồng
thủy sản và đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Hầu Thái Bình Dương
Crassostrea gigas là loại động vật thân mềm hai mảnh vỏ phân bố và được ứng
dụng vào nuôi rộng rãi trên khắp thế giới, bắt đầu phát triển nuôi tại Việt Nam vì
giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng rất cao. Thịt hầu thơm ngon và bổ, giá trị dinh
dưỡng cao (chứa 45 – 75% protein, 7 -11% lipid, 19 – 38% glucid, nhiều chất
khoáng và vi-ta-min), có thể bổ sung nguồn dinh dưỡng cần thiết cho người cao
tuổi, chống béo phì và nâng cao tầm vóc nên hầu là loài có giá trị kinh tế lớn. Thịt
hầu có thể ăn sống (với wasabi và chanh đang được hầu hết các nước ưa chuộng),
hầu Thái Bình Dương.
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích: nuôi cấy tảo làm thức ăn cho ấu
trùng hầu Thái Bình Dương; tìm hiểu được sự kết hợp các loài tảo đơn bào nào
thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng hầu.
Do kiến thức, hiểu biết của bản thân còn hạn hẹp, thời gian thực hiện đề tài
ngắn, bắt đầu làm quen với phương pháp viết báo cáo khoa học, nên đề tài không
tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy cô và các bạn góp ý kiến để đề tài
được hoàn chỉnh hơn.
Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Tình hình nghiên cứu hầu Thái Bình Dương.
1.1. Trên thế giới:
Vị trí phân loại:
Ngành Mollusca
Lớp Bivalvia
Bộ Ostreoida
Họ Ostreidae
Giống Crassostrea
Loài Crassostrea gigas (Thunberg, 1793)
Đặc điểm hình thái:
Cũng như các động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, hầu Thái Bình Dương
có hai vỏ úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép vỏ. Hai vỏ này rất cứng, thô,
khác nhau hình dạng và kích thước: vỏ phải thì nhỏ, nông nằm ở trên còn vỏ trái
thì cứng, lớn, sâu dùng để bám chặt vào vật bám và nằm ở dưới. Hầu Thái Bình
Dương không có răng bản lề ở bên trong, cơ khép vỏ có màu tím hay nâu trong khi
rìa của màng áo có màu đen. Để phân biệt với các loại hầu khác, đặc điểm dễ nhận
biết là hầu Thái Bình Dương khi trưởng thành có tỉ lệ chiều dài và chiều rộng vỏ
tương đối lớn (khoảng 3/1 so với 2/1 ở hầu cửa sông hay 1,5/1 so với nhiều loại
hầu khác). Chính đặc điểm này nên người ta thường gọi hầu Thái Bình Dương là
hầu ống hay hầu dài. Ngoài ra hai mép lưng bụng của hầu gần như song song với
nhau cũng là một đặc điểm nhận dạng khác (Gosling, 2003).
mùn bã hữu cơ và những chất hòa tan trong nước như amino acid, muối khoáng
(đặc biệt là muối calci rất cần thiết cho sự hình thành vỏ).
Khi còn trong giai đoạn sống trôi nổi, ấu trùng hầu ăn chủ yếu các loại tảo
đơn bào nổi như Isochrysis sp., Chaetoceros sp., Nannochloropsis sp…. Đến giai
đoạn sống bám, thức ăn của hầu là các loài tảo đáy và mùn bã hữu cơ.
Hầu không có phương thức bắt mồi chủ động, thức ăn nhờ dòng nước đưa
đến mang, qua chọn lọc của mang và xúc biện được đưa tới miệng. Chúng chỉ có
khả năng chọn lọc thức ăn theo độ lớn: hạt nhỏ thích hợp thì được tiêu thu, hạt lớn
không thích hợp thì bị thải ra ngoài. Do đó trong dạ dày của hầu ta còn bắt gặp
những hạt không tiêu hóa được. Chi tiết này cho chúng ta biết rằng khi chọn bãi
nuôi hay khi ương giống hầu điều quan trọng là chúng ta nên chọn vùng có nước
chảy hay nước thủy triều ra vào để đảm bảo thức ăn được mang đến cho hầu
thường xuyên.
- Sinh trưởng:
Hầu Thái Bình Dương có tốc độ sinh trưởng nhanh (có thể sinh trưởng hơn
75mm trong vòng 12 tháng đầu tiên). Tuy nhiên tại vùng nước Wadden Sea (Đan
Mạch) hầu có thể sinh trưởng đạt 100mm sau 12 tháng nuôi đầu tiên. Hầu Thái
Bình Dương có thể sống tới 10 năm và đạt cỡ trung bình khoảng 150 – 200mm
(Spenser, 2002)
Đặc điểm sinh sản
Giống như hầu hết các loại hầu khác, hầu Thái Bình Dương thay đổi giới
tính trong vòng đời. Chúng thường tham gia sinh sản đầu tiên như là con đực và
sau đó chuyển thành con cái. Các yếu tố môi trường đặc biệt là thức ăn có thể ảnh
hưởng tới giới tính của hầu. Trong điều kiện dồi dào thức ăn, hầu đực có xu hướng
chuyển giới tính thành con cái và ngược lại trong điều kiện thức ăn hạn chế hay
chúng thành lập những quần thể với mật độ quá lớn, toàn bộ là hầu đực. Một số ít
cá thể thì lưỡng tính. Việc đẻ trứng phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thường
diễn ra vào những tháng mùa xuân và mùa hè. Theo Spenser (2002) thì nhiệt độ đẻ
trứng của hầu Thái Bình Dương dao động trong khoảng 22 – 25
0
- Hầu giống: khi ấu trùng hoàn toàn biến thái và bám chắc vào vật bám, ấu
trùng trở thành hầu con có hình dáng ngoài giống với hầu trưởng thành. Tuy nhiên
tùy thuộc vào loại vật bám mà hầu có hình dạng khác nhau. Kích thước đạt từ
1mm.
Tình hình sản xuất giống:
Mặc dù nuôi hầu đã có lịch sử xuất phát từ lâu đời nhưng sản xuất giống
hầu chỉ bắt đầu 40 năm trở lại đây ở một số nước như Nhật (Pacific oyster,
Crassostrea gigas), Úc (Sydney Rock oyster, Saccostrea glomerata), Mỹ
(Crassostrea virginica) và Pháp. Từ đó tới nay, qui trình sản xuất giống đã dần
được hoàn thiện và phát triển ở trình độ cao. Cụ thể là trong những năm đầu của
thập niên 90 của thế kỉ XX, sản lượng con giống từ sinh sản nhân tạo chiếm gần
90% của tổng sản lượng hầu giống ở Anh, Ca-na-đa và Mỹ (Wong, 1993). Việc
sản xuất giống ở mọi nơi đều theo một trình tự chung là chọn lọc, thu thập hầu bố
mẹ và nuôi vỗ, cấy tảo làm thức ăn, kích thích cho đẻ hay cho thụ tinh nhân tạo,
ương nuôi ấu trùng và con giống.
Hiện nay, xung quanh vịnh Dabob và vịnh Willipa (thuộc bang
Washington, Mỹ) có khoảng 11 trại sản xuất giống, họ chia làm 3 phần: một phần
sản xuất con giống bán sang các nước châu Âu, một phần để nuôi thành con giống,
một phần nữa bán trong giai đoạn ấu trùng điểm mắt. Lượng con giống sản xuất đã
tăng lên đáng kể, có khoảng 50.000 thùng giống (1 thùng = 13.000 – 20.000 con)
mỗi năm từ vùng ven biển Thái Bình Dương.
Một trong những kĩ thuật mới trong công nghệ sản xuất giống là kĩ thuật
cho bám đơn đã mang lại một viễn cảnh mới cho nghề nuôi hầu ở Colombia –
Anh. Họ có thể sản xuất hàng triệu con giống đơn phục vụ cho nghề nuôi hầu bằng
khay và bằng túi của vùng (Cross and Kingzett, 1992, trích theo Hà Đức Thắng,
2005). Ngoài ra, tại một số cơ sở nghiên cứu sản xuất hầu giống tam bội hay tứ bội
ở Mỹ và Ca-na-đa, người ta đã dùng hóa chất Epinephrine để tiêu hủy tuyến tiết
chất bám vào vật bám cứng của hầu tạo thành những con hầu giống đơn giúp ích
nhiều cho nuôi thương phẩm (Gregory, 2008)
Tình hình nuôi thương phẩm:
phát triển nghề nuôi hầu chỉ mới thực hiện trong những năm cuối của thế kỉ XX
với con giống chủ yếu thu vớt từ tự nhiên. Năm 2001 – 2003, Viện Nghiên Cứu
Nuôi Trồng Thủy Sản I tiến hành thử nghiệm thành công sản xuất giống nhân tạo
hầu Thái Bình Dương Crassostrea gigas bằng công nghệ của Úc. Tuy nhiên việc
nuôi hầu giống thành hầu thương phẩm còn gặp nhiều khó khăn do hầu có hiện
tượng chết hàng loạt (Đồng Xuân Vĩnh, 2004).
Từ năm 2001 – 2004, trong khuôn khổ nguồn kinh phí của Bộ Khoa Học &
Công Nghệ, đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất hầu giống và nuôi hầu
Crassostrea sp. thương phẩm” do kĩ sư Hà Đức Thắng làm chủ nhiệm đã được
thực hiện nghiên cứu sản xuất giống trên 3 đối tượng hầu phân bố khắp cả nước:
hầu Crassostrea rivularis vùng cửa sông ở miền Bắc, hầu C. lugubris ở miền
Trung, hầu C. belcheri ở miền Nam (Lê Trọng Phấn và Cao Văn Nguyện, 2003).
Đề tài đã xây dựng thành công quy trình sản xuất giống, hoàn toàn chủ động trong
các khâu của quy trình, thu được hàng triệu con giống có chất lượng tốt và số
lượng lớn hầu thương phẩm, tạo tiền đề cho công cuộc phát triển nghề nuôi hầu ở
nước ta. Từ đó trở đi mỗi vùng phát triển theo những hướng khác nhau: đa số các
hộ dân miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng) nhập con giống hầu C. gigas từ Trung
Quốc và Đài Loan về nuôi còn miền Nam có Công ty Nuôi Trồng Thủy Sản và
Thương Mại Viễn Thành tiếp tục sản xuất giống các loài hầu C. belcheri, C.
rivularis, C. eridalei để cung cấp cho hoạt động nuôi hầu của công ty và bán cho
người dân. Với tốc độ phát triển như hiện nay, trong các năm tiếp theo việc nuôi
hầu thương phẩm trên cả nước có thể được thực hiện nhờ vào con giống sản xuất
nhân tạo.
Ở nước ta tuy chưa có văn kiện nào ghi chép rõ ràng nhưng ở nhiều nơi
nhân dân đã biết nuôi hầu từ rất lâu đời như bãi hầu ở sông Gianh – Quảng Bình.
Ở Lạch Trường , do đê vỡ phải kè đá hàn khẩu, ít lâu sau có hầu đến bám nên hình
thành nghề nuôi hầu ở địa phương (Hà Quang Hiến, 1983). Tuy nhiên trong suốt
nhiều thập niên nghề nuôi hầu ở Việt Nam không có sự chú ý và phát triển đáng
kể. Vào năm 1972 trong chương trình hỗ trợ phi chính phủ, một tổ chức của Nhật
Bản đã cử chuyên gia sang giúp Việt Nam tiến hành dự án nuôi loài hầu cửa sông
tượng thủy sản.
Giá trị dinh dưỡng lớn nhất của tảo liên quan đến thành phần và hàm lượng
các acid béo không no đa nối đôi mạch dài (HUFA) không thay thế, đặc biệt hai
thành phần thuộc nhóm “ω
3
” là: acid eicosapentaenoic (EPA) – 20:5n-3 và acid
decosahexaenoic (DHA) – 22:6n-3 (Jeffrey và ctv, 1994; trích theo Lục Minh
Diệp, 2006). Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần và hàm lượng các chất
dinh dưỡng quan trọng như HUFA có trong tảo có thể thay đổi theo nồng độ,
thành phần của phân bón, các nguyên tố vi lượng và vitamin trong môi trường
nuôi. Vì vậy cần bổ sung thành phần khoáng và vitamine khi nuôi sinh khối nhằm
đạt giá trị dinh dưỡng cao nhất.
Ngoài yếu tố dinh dưỡng, cường độ ánh sáng cũng là một tác nhân làm thay
đổi giá trị dinh dưỡng của tảo.
Bảng 1: Yêu cầu sinh thái cho nuôi tảo biển (trích theo Lục Minh Diệp, 2006).
Vị trí/khâu nuôi Độ mặn
(ppt)
Nhiệt độ
(
0
C)
pH Cường độ sáng Chu kỳ chiếu
sáng (sáng : tối)
Trong phòng
(lưu giữ, nhân
giống)
20 – 30 20 – 25 7–8 2.500–5.000 lux
(đèn neon)
24 : 0
Ngoài trời (nuôi
Lipid
(%)
Walne 10.11 5.17 4.28 25.95
ES 12.09 7.23 5.21 28.38
F2 10.81 8.18 5.59 26.82
Algal-1 16.15 9.57 4.28 20.68
2.2. Nghiên cứu nuôi và sử dụng vi tảo làm thức ăn cho ấu trùng động vật
thủy sản.
Nuôi vi tảo dùng làm thức ăn trong nuôi trồng thủy sản đã được phát triển
từ lâu đời. Năm 1871, Phamintsin đã tiến hành nuôi tảo lục Protococales (Hoàng
Thị Bích Mai, 1995). Từ năm 1910, Allen và Nelson đã tiến hành nuôi đơn loài
dùng làm thức ăn cho động vật không xương sống (Ryther và Goldman, 1975;
(trích theo Hà Lê Thị Lộc, 2000). Bruce và cộng sự (1939; trích theo Hà Lê Thị
Lộc, 2000) lần đầu tiên đã phân lập và nuôi giữ hai loài tảo đơn bào Isochrysis
galbana và Pyramimonas grossii làm thức ăn cho ấu trùng hầu.
“Phương pháp của Glancy” (1965) đã được ông sử dụng để nuôi ấu trùng
hai mảnh vỏ. Nước biển tự nhiên được lọc qua than hoạt tính rồi đi qua một túi
lưới có mắt lưới nhỏ. Sau đó được đặt trong nhà gương kín, không bón phân.
Phương pháp này vừa dễ làm vừa ít tốn kém hơn phương pháp nuôi đơn loài
nhưng do không điều khiển được thành phần loài nên hiệu quả cũng không cao.
Do vậy, phương pháp nuôi tảo đơn loài vẫn được sử dụng phổ biến hơn.
Tại Trung Quốc, nghiên cứu nuôi tảo đã đươc bắt đầu từ những năm 1940.
Guo và cộng sự (1959) (trích theo Hà Lê Thị Lộc, 2000) đã phân lập và nuôi hai
loài tảo đơn bào Tetraselmis sp. và Dunnaliella sp. Từ những năm 1980, nhiều
loài tảo đã được tiến hành phân lập và phát triển nuôi đại trà như Tetraselmis
subcordifornis, Chaetoceros muelleri, Tetraselmis sp., Isochrysis galbana,
Pavlova viridis… Tất cả những loài tảo này có thể phát triển rất tốt ở nhiệt độ
25°C.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu nuôi vi tảo biển làm thức ăn cho các
động vật thủy sản nuôi chỉ mới được tiến hành gần đây cùng với sự phát triển của
Vi tảo đã góp phần quan trọng trong sự thành công của các đề tài sản xuất
giống hải sản tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III trong nhiều năm qua
như làm tăng tỷ lệ sống lên 3,95% của vẹm xanh Perna viridis ở giai đoạn ấu
trùng chữ D đến con giống 3 – 5mm khi sử dụng hỗn hợp tảo tươi
Nannochloropsis oculata, Chaetoceros đơn bào, Isochrysis, Platymonas (5000 –
60000 tb/ml). Ốc hương Babylonia areolata giai đoạn Verliger lên 60 – 65% với
hỗn hợp tảo đơn bào Nannochloropsis oculata, Chaetoceros, Isochrysis,
Platymonas (5000 – 10000 tb/ml) kết hợp với thức ăn tổng hợp. Sò huyết Anadara
granosa ở giai đoạn ấu trùng nổi lên 70% với Nannochloropsis oculata,
Chaetoceros, Platymonas (3000 – 10000 tb/ml). Trai ngọc Pinctada maxima giai
đoạn ấu trùng chữ D – Umbo là 23%. Tu hài Lutraria rhychaena ấu trùng nổi đến
con giống 7 – 10mm lên 1,42% với Nannochloropsis oculata, Chaetoceros,
Isochrysis, Platymonas (3000 – 15000 tb/ml) so với thức ăn tổng hợp Lansy,
Fripak là 0,34%. Điệp quạt giai đoạn ấu trùng chữ D đến ấu trùng spat lên 7,5 –
9,5% với hỗn hợp Chaetoceros muelleri, Isochrysis, Platymonas (3000 – 10000
tb/ml) so với thức ăn tổng hợp AP, BP là 0 – 2,5%. Hải sâm Holothuria scabra
giai đoạn ấu trùng nổi Auricularia lên 10,4 – 37,3% với hỗn hợp Nannochloropsis
oculata Chaetoceros muelleri (20000 – 40000 tb/ml) so với thức ăn hỗn hợp là
Spirunila khô với Fripak là 10,4%.
Nguyễn Thị Xuân Thu (1995) sử dụng hỗn hợp các loài tảo đơn bào
Chlorella, Chaetoceros, Platymonas để ương ấu trùng điệp quạt Chlamys nobilis
cho tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của ấu trùng cao hơn sử dụng tảo đơn loài.
Châu Văn Thanh (1998) cho ấu trùng vẹm vỏ xanh Chloromytilus viridis ăn
hỗn hợp tảo đơn bào Platymonas sp., Nannochloropsis oculata, Chaetoceros sp.
giai đoạn chữ D đến hậu kì đỉnh vỏ có tỷ lệ sống trên 73.53%.
Ngô Anh Tuấn (2005) cho ấu trùng điệp seo Comptopallium radula ăn hỗn
hợp tảo tươi Nannochloropsis oculata và Tetraselmis sp. với tỷ lệ 1:1 cho kết quả
tốt hơn so với dùng tảo tươi đơn loài: thời gian biến thái từ ấu trùng chữ D đến ấu
thể Spat nhanh hơn, tốc độ tăng trưởng bình quân ngày cao hơn, tỷ lệ sống cao
hơn.
- Môi trường dinh dưỡng: F/2 (Guillard và Ryther, 1962).
Thành phần dinh
dưỡng
Nồng độ bón
(ppm)
Thành phần dinh
dưỡng
Nồng độ bón
(ppm)
NaNO
3
KH
2
PO
4
.H
2
O
Na
2
EDTA
FeCl
3
.6H
2
O
Na
2
SiO
3
Na
2
MoO
4
.2H
2
O
B
1
(Thiamin)
Biotin
B
12
(Cyanocobalamin)
0,01
0,18
0,0006
0,1
0,5
0,5
- Theo dõi các giai đoạn phát triển của tảo (các pha sinh trưởng, tốc độ sinh
trưởng tương đối của quần thể tảo). Mật độ tảo theo dõi ngày 1 lần vào buổi sáng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của các loài tảo đơn bào đến tốc
độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương.
- Dụng cụ nuôi ấu trùng: bể composite 1m
3
đặt trong nhà.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm: 4 lô thí nghiệm, thí nghiệm được lặp lại 3
lần.
- Nên ghi thêm:
+ Công thức tính mật độ tảo:
X = x
i
x 400 x 10
4
(tế bào/ml)
Trong đó: X: mật độ tảo (tế bào/ml).
x
i
: số tế bào tảo đếm được trong một ô nhỏ của buồng
đếm.
+ Công thức tính tốc độ tăng trưởng tương đối của quần thể tảo:
µ
0
ln
N
N
t
=
N
t
: mật độ tảo ngày hôm sau.
N
0
: mật độ tảo ngày hôm trước.
− Theo dõi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ mặn, pH) ngày 2 lần: sáng
7
h
00, chiều 14
h
Trong đó: n: số vạch trên thước đo kính hiển vi.
a: độ bội của kính.
− Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều dài của ấu trùng
(µm/con/ngày).
DGL =
12
12
tt
LL
−
−
Trong đó: L
1
là chiều dài đo ở thời điểm t
1
L
2
là chiều dài đo ở thời điểm t
2
Xử lí số liệu
- Áp dụng phương pháp thống kê sinh học, sử dụng phần mềm MS-Excel
2003.
+ Giá trị trung bình:
Giá trị trung bình:
x
=
∑
=
N
i