Suy dinh dưỡng thấp còi và cách phòng chống
( 4:24 PM | 12/10/2011 )
Ở Việt Nam, theo số liệu điều tra toàn quốc của Viện Dinh
dưỡng (2010) thì tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi ở trẻ
dưới 5 tuổi là 29,3%. So với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế
giới (WHO) thì SDD thấp còi ở trẻ em nước ta còn ở mức cao.
Chương trình phòng chống SDD trẻ em phấn đấu đạt mục tiêu
đến năm 2020 là giảm tỷ lệ SDD thấp còi xuống 23%. Thế nào là trẻ bị SDD thấp còi?
Trẻ thấp còi là trẻ có chiều cao theo tuổi thấp hơn so với trẻ bình
thường cùng tuổi. Hiện nay, đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
thường dựa vào chuẩn tăng trưởng của WHO 2006. Điểm ngưỡng
Zscore dưới trừ 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) là suy dinh dưỡng. Nếu
cân nặng theo tuổi <-2SD là SDD nhẹ cân (underweight) và chiều
cao theo tuổi <-2SD là SDD thấp còi (stunting). SDD thấp còi
phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc là hậu quả của
một quá trình tích lũy bắt đầu xảy ra từ thời kỳ bào thai và kéo dài
đến tuổi trưởng thành.
Các yếu tố nguy cơ gây SDD thấp còi
Cân nặng sơ sinh thấp dưới 2.500g bao gồm cả trẻ đẻ non vì SDD
bào thai, trẻ không những nhẹ cân mà chiều dài cũng thấp. Nguyên
nhân chủ yếu do người mẹ thiếu dinh dưỡng hoặc mắc bệnh trong
thời kỳ mang thai làm cho thai nhi chậm phát triển trong tử cung.
Chế độ nuôi dưỡng: dinh dưỡng có ảnh hưởng nhiều đến sự tăng
trưởng và phát triển của trẻ. Nếu khẩu phần thiếu hụt protein năng
lượng và các vi chất dinh dưỡng (kẽm, sắt, iod, vitamin A… )
không những làm cho trẻ bị SDD nhẹ cân mà còn ảnh hưởng đến
phát triển chiều cao của trẻ, nhất là ở những trẻ không được nuôi
Một hội thi về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ tại Đăk Lăk.
Phòng chống SDD thấp còi
Thời cơ vàng để phòng chống SDD thấp còi có hiệu quả là thời kỳ
bà mẹ mang thai và trẻ em trong 2 năm đầu đời.
Chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ có thai: dinh dưỡng của bà mẹ trong
thời kỳ mang thai có ảnh hưởng nhiều đến phát triển bào thai. Chế
độ ăn phải đảm bảo nhu cầu protein, năng lượng, vitamin và
khoáng chất để phòng chống thiếu năng lượng trường diễn, thiếu
máu, thiếu canxi… Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng (2007)
nhu cầu năng lượng của phụ nữ mang thai cao hơn phụ nữ không
có thai là 360kcal/ngày trong 3 tháng giữa và 475kcal/ngày trong 3
tháng cuối và nhu cầu protein cao hơn từ 10-18g/ngày. Thức ăn đa
dạng và có đủ 4 nhóm thực phẩm (ngũ cốc khoai củ, đạm động vật,
đậu đỗ, dầu mỡ, rau xanh hoa quả). Ngoài chế độ ăn nên uống
thêm viên sắt, acid folic (60mg sắt nguyên tố + 400mcg acid folic)
để phòng chống thiếu máu và dị tật ống thần kinh thai nhi. Cần
khám thai định kỳ và theo dõi tăng cân từng quý để bổ sung dinh
dưỡng kịp thời.
Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ trong 2 năm đầu đời: Đây là giai
đoạn chuyển tiếp về nuôi dưỡng trẻ từ trong bụng mẹ đến môi
trường bên ngoài tử cung, trẻ bắt đầu bú mẹ, ăn bổ sung rồi tiến tới
các chế độ ăn cùng gia đình. Trong giai đoạn này trẻ tăng trưởng
và phát triển nhanh nhưng hệ miễn dịch chưa hoàn chỉnh nên dễ
mắc các bệnh nhiễm khuẩn nhất là tiêu chảy, viêm đường hô hấp
cấp… sữa mẹ là thức ăn tốt nhất đối với trẻ nhỏ, cho trẻ bú sớm
ngay sau đẻ, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu (180 ngày). Từ 6
tháng tuổi trở lên cho ăn bổ sung, thức ăn bổ sung có đủ 4 nhóm
thực phẩm cùng với bú mẹ kéo dài 18-24 tháng. Khi trẻ bị bệnh
không được kiêng khem quá mức, tiếp tục cho trẻ bú mẹ, ăn nhiều
bữa trong ngày, thức ăn dễ tiêu hóa, đủ dưỡng chất.