1
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam . 3
1.1.1. Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em trên thế giới. 3
1.1.2. Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em Việt Nam. 5
1. 2. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng 8
1.2.1- Nguyên nhân trực tiếp 8
1.2.2. Nguyên nhân quan trọng 12
1.2.3. Nguyên nhân cơ bản . 13
1.3. Vai trò của vi chất dinh dưỡng đến tăng trưởng ở trẻ em . 15
1.3.1. Sắt và sự phát triển của cơ thể . 15
1.3.2. Vai trò của kẽm với sự phát triển trẻ em. 16
1.3.3. Vai trò của Vitamin A với sự phát triển của trẻ em. 22
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu 38
2.2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu 42
2.3. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 44
2.3.1. Đánh giá tình trạng SDD của trẻ em dưới 5 tuổi 44
2.3.2. Xét nghiệm hoá sinh máu và vi chất dinh dưỡng . 46
2.3.3. Một số yếu tố liên quan đến tỉ lệ SDD . 472
2.4. Quá trình tổ chức nghiên cứu 48
2.4.1. Tập huấn cho các cán bộ tham gia nghiên cứu 48
2.4.2. Tổ chức khám, đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em . 49
2.4.3. Triển khai nghiên cứu can thiệp. 50
2.5. Xử lý và phân tích số liệu. 55
2.6. Các biện pháp khống chế sai số 58
2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 58
2.8. Tính khả thi tính khoa học và nhu cầu thực tiễn 60
đối tượng điều tra ban đầu . 106
4.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện khẩu phần lên tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em
25-48 tháng tuổi ăn bán trú tại một số trường mầm non huyện Tiền Hải, Thái Bình 111
4.4. Những ưu điểm và tính mới của nghiên cứu 125
4.5. Những hạn chế của nghiên cứu 125
KẾT LUẬN 127
KIẾN NGHỊ 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC
CC/T
Chiều cao
Chiều cao theo tuổi
CN
CN/T
CN/CC
Cân nặng
Cân nặng theo tuổi
Cân nặng theo chiều cao
CT Can thiệp
ĐC Đối chứng
Số trung bình 4
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2. 1. Giá trị trung bình của một số chất dinh dưỡng của ngao 53
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 62
Bảng 3.2. Tỷ lệ % SDD thể nhẹ cân theo nhóm tuổi và giới tính 63
Bảng 3.3. Tỷ lệ % SDD thể thấp còi theo nhóm tuổi và giới tính 64
Bảng 3.4. Tỷ lệ SDD thể gầy còm theo nhóm tuổi và giới tính 65
Bảng 3.5. Phân tích tỷ lệ SDD theo 3 chỉ tiêu nhân trắc 67
Bảng 3.6. Đặc điểm mắc thấp còi phối hợp với các thể SDD khác 67
Bảng 3.7. Mô hình hồi quy logistic xác định liên quan một số yếu tố KTXH và
SDD thấp còi 68
Bảng 3.8. Mô hình hồi quy logistic xác định mối liên quan một số yếu tố
môi trường với SDD thấp còi 69
Bảng 3.9. Mô hình hồi quy về mối liên quan một số yếu tố cá nhân với SDD
thấp còi 70
Bảng 3.10. Tần số tiêu thụ thực phẩm thường xuyên của trẻ trong tháng qua 72
nhóm tuổi 83
Bảng 3.22. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên chiều cao và tình trạng
SDD thấp còi theo giới tính 84
Bảng 3.23. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên chiều cao và tình trạng
SDD thấp còi theo tình trạng dinh dưỡng ban đầu 85
Bảng 3.24. Hiệu quả can thiệp đối với nồng độ Hb, kẽm huyết thanh và
IGF1 qua các thời điểm can thiệp. 87
Bảng 3.25
.
Hiệu quả can thiệp giảm
tỷ lệ thiếu máu và thiếu kẽm 89
Bảng 3.26. Một số chỉ số dinh dưỡng và cơ cấu khẩu phần ăn của trẻ trước
sau can thiệp nhóm tuổi 25-36 tháng 91
Bảng 3.27. Một số chỉ số dinh dưỡng và cơ cấu khẩu phần ăn của trẻ trước
sau can thiệp nhóm tuổi 37-48 tháng 92
Bảng 3.28. Hiệu quả can thiệp khẩu phần ăn của trẻ 93
6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
chiếm 26,7% trẻ ở dưới 5 tuổi [67].
Hiện nay, SDD thể vừa và nhẹ rất phổ biến và có ý nghĩa sức khoẻ
quan trọng vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ bệnh tật và
tử vong so với trẻ em không bị SDD. Thiếu dinh dưỡng và thường xuyên
mắc bệnh nhiễm khuẩn không chỉ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao mà
còn gây tổn thương đến chức năng và cấu trúc của não bộ, do đó làm chậm
quá trình phát triển nhận thức và trí tuệ của trẻ [95]. Hậu quả của SDD gây
ra các tác động tiêu cực lâu dài đến sức khỏe không chỉ ở hiện tại mà còn
tác động đến cả thế hệ sau.
Nguyên nhân của SDD rất đa dạng và phức tạp. Có thể do trẻ không
được nuôi dưỡng đầy đủ, khẩu phần ăn của trẻ thiếu cả về số lượng và chất
lượng, trong đó thiếu các chất như protein, chất béo, vitamin, vi chất, acid
amin, các chất cung cấp năng lượng. Kết quả nghiên cứu về khẩu phần ăn
của vùng nông thôn nước ta cho thấy lượng protein động vật và vi chất
dinh dưỡng mới chỉ đạt khoảng 30% đến 50% nhu cầu của trẻ. Vấn đề môi
trường ô nhiễm, các bệnh nhiễm trùng của trẻ, nhận thức của bà mẹ và
người nuôi trẻ, phong tục tập quán, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cũng có tác
động đáng kể đến tình trạng SDD của trẻ [36],[39],[45]. Nhiều nghiên cứu
can thiệp phòng chống SDD bằng bổ sung vi chất và đa vi chất trong đó có
2
kẽm đã đạt được kết quả tốt cải thiện được tình trạng SDD thấp còi
[16],[34],[41].
Tiền Hải là huyện ven biển có nhiều các thủy hải sản như tôm, cua,
ngao sò, cá , trong đó ngao, sò có chứa các chất đạm, chất béo các
vitamin, chất khoáng như canxi, sắt, kẽm với hàm lượng cao hơn nhiều so
với các thực phẩm khác [65].
Với giả thiết nếu sử dụng ngao bổ sung vào khẩu phần của trẻ có thể
sẽ làm tăng thêm nhiều vi chất quan trọng và lượng protid đáng kể để phục
hồi SDD, nhất là SDD thấp còi. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài
quốc gia trong đó 4 nước là Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar có
tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp còi cao nhất (hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị
SDD thấp còi). Đến năm 2012 tỷ lệ thấp còi chung toàn thế giới khoảng
25,0%, tương đương với 162 triệu trẻ; trong đó 56% ở Châu Á, 36% ở châu
Phi [147].
Tỷ lệ SDD trên thế giới hiện giảm bình quân khoảng 0,7%/năm. Khu
vực châu Mỹ Latinh và vùng Carribe đạt mức giảm 0,6%/năm và khu vực
châu Phi chỉ đạt được mức giảm 0,3%/năm [147]. Diễn biến tỷ lệ SDD thể
4
thấp còi cho thấy tốc độ giảm suy SDD không hoàn toàn song hành với
mức tăng trưởng kinh tế, ở một số quốc gia tuy kinh tế tăng trưởng không
cao nhưng tỷ lệ SDD thể thấp còi giảm nhanh do tiến hành các can thiệp có
hiệu quả. Khi tỷ lệ SDD thấp còi càng xuống thấp thì tốc độ giảm sẽ càng
chậm lại.
Tỷ lệ thấp còi giảm trong 2 thập kỉ qua và một vài khu vực đã đạt được
những tiến bộ đáng kể. Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương có tỷ lệ thấp
còi giảm nhanh nhất. Khu vực này đã giảm được 30% SDD thấp còi, từ
42% năm 1990 xuống còn 12% năm 2011. Thành tựu này chủ yếu là do sự
cải thiện từ Trung Quốc. Tỉ lệ thấp còi ở Trung Quốc đã giảm trên 30%
năm 1990 xuống 10% năm 2010 [85],[147]. Tỉ lệ thấp còi ở Mỹ Latinh và
vùng Caribe giảm gần một nửa trong thời gian này. Khu vực phía Nam
Châu Á và Trung Đông và khu vực phía bắc Châu Phi cũng giảm được hơn
1/3 tỉ lệ thấp còi từ năm 1990. Tuy nhiên, sự tiến bộ trong giảm thấp còi ở
tiểu vùng Sahara Châu Phi chỉ giảm 7%, từ 47% năm 1990 xuống 40%
năm 2011. Hơn 1/3 các nước tiểu vùng Sahara Châu Phi vẫn có tỉ lệ thấp
còi rất cao, Tây Phi và Trung Phi giảm rất ít 5%, từ 44% năm 1990 xuống
39% năm 2011, toàn thế giới giảm 14%, từ 40% năm 1990 xuống 26% năm
2011 [136].
Nhìn chung xu hướng tỷ lệ SDD thể thấp còi ở các nước đang phát
lệ SDD nhẹ cân và thấp còi không có sự khác biệt đáng kể thì sau hơn 1
thập kỷ, 2 tỷ lệ này có sự chênh lệch rất rõ ràng. Từ năm 1999 đến năm
2010 trong cả nước tỷ lệ SDD thể nhẹ cân giảm xuống một cách bền vững
từ 36,7% xuống còn 17,5%, đến năm 2012 là 16,2%. Tuy nhiên tỷ lệ SDD thể
thấp còi giảm chậm hơn từ 38,7% năm 1999 xuống 29,6% năm 2005. Đến năm
6
2006 và 2007 tỷ lệ SDD thấp còi tăng lên 31,9% và 33,9% là do thay đổi
việc áp dụng chuẩn từ quần thể tham khảo của Mỹ sang áp dụng chuẩn của
WHO năm 2006 và tiếp tục giảm xuống 29,3% năm 2010 và đến năm 2012
là 26,7% [67].
SDD thấp còi theo tuổi.
Tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi khác nhau theo lứa tuổi. Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi là thấp nhất đối với
cả 3 thể (thể nhẹ cân, thể thấp còi, thể gầy còm), sau đó tăng nhanh và thời
kỳ trẻ 6-24 tháng tuổi, là thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao hơn do đây là
thời kỳ trẻ cai sữa, ăn sam có nhiều ảnh hưởng đến lượng thức ăn hấp thụ
được của trẻ và cũng là thời kỳ trẻ có nhu cầu dinh dưỡng rất cao. Sức miễn
dịch tự nhiên giảm, dễ mắc các bệnh truyền nhiễm hơn và mẹ bắt đầu đi
làm cũng là những lý do dẫn đến tỷ lệ SDD tại nhóm 6-24 tháng tuổi cao
[22],[25],[35]. SDD thể nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục
tăng trong năm thứ 2 và đạt tỷ lệ cao nhất lúc trẻ được 36 đến 41 tháng
tuổi. SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng
nhanh từ 6 đến 23 tháng tuổi và gần như đi ngang, thậm chí giảm đi vào 54
đến 59 tháng tuổi [66].
Tỷ lệ SDD thể thấp còi bình quân chung cả nước năm 2010 là 29,3%,
có sự khác biệt rõ rệt giữa các vùng sinh thái ở Việt Nam. Tỷ lệ SDD thể
thấp còi cao nhất là ở vùng Tây nguyên (35,2%), Miền núi và Trung du
phía Bắc (33,7%), Bắc miền Trung và ven biển miền Trung (31,4%). Thấp
nhất ở đồng bằng sông Hồng (25,5%) và Đông Nam Bộ (19,2%). Một số
huyện Tiền Hải cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 22,6%, về nhận thức của
8
bà mẹ có con SDD có tới 51% bà mẹ vẫn cho là con phát triển bình thường
[57]. Năm 2010 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của Thái Bình giảm xuống còn
17,3%, SDD thấp còi là 26,7% cao hơn so với tỷ lệ chung của vùng đồng
bằng sông Hồng là 25,5% [66].
1. 2. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng
SDD do tác động của nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với y tế,
lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Các
nguyên nhân gồm: nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân quan trọng, nguyên
nhân cơ bản và nó ảnh hưởng đến SDD nói chung và SDD thấp còi ở các
cấp độ khác nhau.
1.2.1- Nguyên nhân trực tiếp
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD ở trẻ là thiếu ăn về số lượng, không
đảm bảo chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. Trong đó, chất lượng
khẩu phần ăn cần xem xét hơn là số lượng khẩu phần, trong đó vai trò của
protein động vật chất béo, vitamin, vi chất, acid amin và acid béo cần thiết.
Nếu khẩu phần ăn của trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein trẻ sẽ chậm
tăng cân, rồi giảm cân dẫn đến chậm phát triển chiều cao, trong trường hợp
thiếu protein kéo dài thì trẻ sẽ bị thấp còi [39],[40],[146].
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc đã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một
trong bốn biện pháp bảo vệ sức khỏe trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất
cho trẻ. Trong thời gian 4-6 tháng đầu sau sinh, sữa mẹ là nguồn cung cấp
đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ, có tỷ lệ các
chất dinh dưỡng cân đối và dễ hấp thu, đặc biệt là protein và vitamin A.
Thêm vào đó, sữa mẹ được xem là yếu tố khởi đầu, phát triển thành phần vi
khuẩn chí đường ruột [89]. Sữa mẹ chứa oligosaccharides làm tăng sự phát
triển của các loài vi khuẩn bifidobacteria, đây là loại vi khuẩn có mặt sớm
triệu người trên toàn thế giới bị thiếu sắt [145]. Thiếu máu và thiếu sắt ở trẻ
nhỏ có thể dẫn tới chậm phát triển cả về tinh thần và thể chất và ảnh hưởng
xấu tới sức khỏe [83],[131]. Ở Việt Nam, một số điều tra về thiếu máu do
thiếu sắt ở trẻ em tại một số vùng nông thôn (Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội)
của tác giả Lê Thị Hợp và cộng sự [98], nghiên cứu của Berger, Khúc Thị
Tuyết Hường, Trần Thị Lan cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em Việt Nam
vẫn còn ở mức rất cao [32],[41],[72].
Năm 2006, tỷ lệ thiếu máu trung bình ở trẻ em chung toàn quốc là
29,2%, tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở nhóm 6-12 tháng tuổi, tới 56,9%; có xu
hướng giảm khi tuổi của trẻ tăng lên: 45% ở nhóm 12-24 tháng tuổi, 38% ở
nhóm 24-36 tháng tuổi. Khi chế độ ăn thiếu sắt như thiếu sữa mẹ, cho ăn
dặm chưa đúng cách làm trẻ bị thiếu các thức ăn nguồn gốc động vật là
những nguồn quan trọng cung cấp sắt dẫn đến thiếu máu [100]. Trong
những trường hợp nhu cầu sắt lớn hơn bình thường khi đó sữa mẹ thường
không đủ thỏa mãn nhu cầu sắt của cơ thể trẻ, những trẻ này cần được bắt
đầu bổ sung sắt sớm, tối thiểu là từ 2 tháng tuổi, tốt nhất là trong suốt sáu
tháng đầu đời [145].
Ở Việt Nam, kết quả của một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ thiếu
kẽm ở trẻ sơ sinh cao tới 30-40% [31]. Các tác giả Berger và cộng sự năm
2004 đã đánh giá tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ em tại cộng đồng, dựa vào nồng độ
kẽm huyết thanh thấp (<10,7 µmol/L) dao động trong khoảng 25 - 40% tùy
theo địa phương và nhóm tuổi nghiên cứu [72]. Trong Chiến lược toàn cầu
về nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ WHO và UNICEF đã đưa ra chương
trình các khuyến nghị về việc áp dụng phương pháp bổ sung đa vi chất dinh
dưỡng hàng ngày thay vì bổ sung sắt để phòng thiếu máu do thiếu sắt ở giai
đoạn trẻ dưới 2 tuổi [135].
11
Mắc các bệnh tật và nhiễm khuẩn.
Vòng xoắn giữa bệnh nhiễm trùng và SDD đã gây lên hậu quả tình
khác trong cơ thể cũng làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ và
làm cho trẻ bị SDD.
1.2.2. Nguyên nhân quan trọng: Do sự bất cập trong dịch vụ chăm
sóc bà mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh
môi trường.
Người ta thấy rằng tình trạng thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh
môi trường kém, không có hệ thống nước sạch, dẫn đến bệnh tật phát sinh
và không được ngăn chặn đẩy lùi sẽ làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ [120]. Một
tình trạng tiền lâm sàng có xu hướng phổ biến ở các nước đang phát triển là
bệnh đường ruột do môi trường (EE - environmental enteropathy) hay còn
gọi là bệnh đường ruột nhiệt đới. Loại bệnh này không có biểu hiện ra bên
ngoài nhưng có thể làm rối loạn hấp thu chất dinh dưỡng do làm thay đổi
cấu trúc và chức năng của ruột non. Có giả thiết cho rằng EE gây ra tình
trạng chậm tăng trưởng và có thể làm giảm hiệu quả của các can thiệp dinh
dưỡng. Các nhà nghiên cứu suy đoán rằng việc tiếp xúc liên tục với vi
khuẩn gây bệnh có thể làm cho trẻ mắc bệnh EE và hạn chế khả năng hấp
thu tốt và sử dụng tối đa các chất dinh dưỡng từ thức ăn dù trẻ có bị tiêu
chảy hay không [108].
Sự khác biệt về tỷ lệ SDD nhất là SDD thấp còi tại các vùng có điều
kiện kinh tế xã hội khác nhau đã phản ánh tình trạng an ninh thực phẩm hộ
gia đình ảnh hưởng đến tình trạng SDD của trẻ. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi
năm 2010 bị SDD thấp còi của vùng Đông Nam Bộ là 19,2% trong đó
13
thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 7,8%, trong khi vùng Tây Nguyên là 35,2%,
vùng trung du miền núi phía Bắc là 33,7% [66].
Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của bà mẹ và người chăm sóc
trẻ có vai trò quan trọng trong công tác phòng chống SDD trẻ em
[4],[20],[42]. Mặc dù kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ khá
tốt, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách giữa kiến thức và thực hành. Các hoạt
sóc bà mẹ,
trẻ em
Hệ thống chăm sóc
sức khỏe, nước và
vệ sinh môi trường
Yếu tố văn hóa và tín ngưỡng
Trình độ học vấn và nguồn nhân lực
Các nguyên tắc đạo đức
Khung luật pháp
Tài nguyên thiên nhiên
Ảnh hưởng của môi trường
Cơ sở hạ tầng
Biểu
hiện
Nguyên
nhân
trực tiếp Nguyên
nhân quan
trọng
Nguyên
nhân cơ
bản
T
thiện đáng kể lên tình trạng dinh dưỡng và sự phát triển của trẻ
[43],[44],[49],[50].
1.3.1. Sắt và sự phát triển của cơ thể.
Nhu cầu sắt hàng ngày đối với trẻ bú mẹ: 1 mg/kg/ngày từ 4-6 tháng,
trẻ có cân nặng sơ sinh thấp: 2-4 mg/kg/ngày từ 1 tháng đến 12 tháng, cho
tới liều tối đa có thể 15mg/ngày. Bổ sung sắt đường uống đạt hiệu quả cải
thiện nồng độ hemoglobin ở nhóm trẻ 0-59 tháng tuổi thiếu máu hoặc thiếu
sắt. Ở nhóm trẻ thiếu máu hoặc thiếu sắt, nồng độ hemoglobin đã được cải
thiện khi bổ sung sắt [133],[149]. Việc bổ sung phối hợp các vi chất hoặc
biện pháp tăng cường vi chất vào thực phẩm giúp hỗ trợ hấp thu và giảm tỷ
lệ thiếu máu ở trẻ nhỏ [17],[34],[35].
Kết quả của một số nghiên cứu khác cũng cho thấy vai trò của sắt và
sự miễn dịch của cơ thể. Các tác giả nhận thấy rằng khi bệnh nhân bị thiếu
máu nặng có thể giảm khoảng 20% tế bào bạch cầu. Người ta cũng thấy có
sự giảm của bạch cầu trung tính trong trường hợp thiếu sắt; thiếu sắt làm
tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong ở bà mẹ và trẻ em. Nhiều nghiên cứu đã
cho thấy những trẻ bị thiếu máu vừa và nặng có chỉ số thông minh và các
16
chức năng khác thấp hơn trẻ bình thường. Thiếu máu làm giảm sự tập trung
và ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức của trẻ [126],[129],[133].
1.3.2. Vai trò của kẽm với sự phát triển trẻ em.
Vai trò của kẽm bắt đầu được đánh giá và ghi nhận từ năm 1869 trên
sinh vật thực nghiệm nhưng phải 1 thế kỷ sau đó vấn đề thiết yếu của kẽm
đối với con người và nguy cơ thiếu hụt kẽm mới chỉ được công nhận sau
một khám phá của Prasad [125],[130]. Trong 50 năm qua, hàng ngàn công
trình nghiên cứu đã cho thấy sự thiếu hụt kẽm ở người là khá phổ biến.
Thiếu hụt kẽm có thể ảnh hưởng đến gần 2 tỷ người trên thế giới. Nguyên
nhân do khẩu phần nghèo kẽm hoặc hàm lượng phytat cao trong thực phẩm
dẫn tới ức chế hấp thu kẽm [125].
2,5 lần đến 10 lần. Ngưỡng nồng độ kẽm huyết thanh ở trẻ em thấp khi
hàm lượng kẽm huyết thanh dưới 70 µg/dl [78].
Vai trò của kẽm trong hoạt động của các enzym:
Kẽm có một vai trò sinh học không thể thiếu đối với sức khỏe con
người. Nó tham gia vào thành phần của trên 300 enzym khác nhau, là chất
xúc tác không thể thiếu được của ARN- polymerase trong quá trình nhân
bản ADN và tổng hợp chất protein. Đây là chức năng quan trọng giúp kích
thích tăng trưởng của trẻ em. Kẽm vừa là cấu trúc, vừa tham gia duy trì
hàng loạt các cơ quan quan trọng trong cơ thể. Kẽm có độ tập trung cao
trong não nên thiếu kẽm có thể dẫn đến các rối loạn dẫn truyền thần kinh.
Kẽm tham gia điều hòa chức năng của hệ thống nội tiết và có trong thành
phần của hormon một số tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến thượng thận,
sinh dục. Kẽm còn có tác dụng chống oxy hóa, chống lại các tổn thương do
18
nhiễm trùng và nhiễm các độc tố, bảo vệ tế bào niêm mạc, giúp mau lành
vết thương [76].
Vai trò của kẽm và mối liên quan với IGF-1 tới tăng trưởng và phát triển
Kẽm có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của cơ thể, ảnh hưởng này
có thể giải thích nhiều tác dụng như: tăng hấp thu, tăng tổng hợp protein,
tăng cảm giác ngon miệng và tác động lên hormon tăng trưởng (GH-
Growth Hormon); hormon IGF-1. Một số nghiên cứu đã chứng tỏ rằng kẽm
có tác dụng kích thích tăng trưởng ở trẻ nhờ tác dụng trung gian làm tăng
hormon tăng trưởng giống insulin trong máu (IGF-1). IGF-1với nhiều
nhóm có cấu trúc polypeptid có liên quan tới quá trình tăng sinh và biệt hóa
tế bào lần đầu tiên được đề cập tới như những yếu tố kích thích tăng
trưởng. Cơ chế hoạt động của IGF-1cũng giống như các yếu tố có cấu trúc
polypeptid khác là gắn với những thụ thể đặc hiệu của tế bào để thúc đẩy
quá trình vận chuyển chất qua màng tế bào [76].
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của việc
máu cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng và cho rằng vai trò
kích thích tăng trưởng của kẽm được thông qua mức IGF-1 trong máu. Mặc
dù xương cần có những dưỡng chất thành phần như các amino acid,
calcium, phosphor và magne, rối loạn hoạt động các hooc-mon có vai trò
điều hòa tạo thành xương ở đĩa xương tăng trưởng có thể hạn chế tăng
trưởng xương [122]. IGF-1 là chất đưa tin quan trọng của tín hiệu dinh
dưỡng dẫn đến xương dài ra. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, ở những
trẻ thiếu hụt kẽm, IGF-1 nhạy với tình trạng kẽm của cơ thể, bổ sung kẽm
dẫn đến tăng trưởng chiều cao đáng kể [111],[128].
Một số nghiên cứu đánh giá tác dụng của kẽm đơn độc hoặc kết hợp
đối với tình trạng dinh dưỡng của cơ thể, kết quả cho thấy bổ sung kẽm đơn