MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC
BẢNG DANH MỤC BIỂU ĐỒ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CC Chiều cao
CC/T Chiều cao theo tuổi
CN Cân nặng
CN/T Cân nặng theo tuổi
CN/CC Cân nặng theo chiều cao
CT Can thiệp
ĐC Đối chứng
CSHQ Chỉ số hiệu quả
IGF-1 Insulin-like Growth Factor -1 (Hormon tăng trưởng IGF-1).
HAZ Height-for-Age Zscore (Chỉ số Z-score chiều cao/tuổi)
Hb Hemoglobin
HQCT Hiệu quả can thiệp
NCHS National Center for health Statistic
Trung tâm Thống kê sức khỏe quốc gia Mỹ NCDDKN
Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị
SDD Suy dinh dưỡng
SD Độ lệch chuẩn
TE Trẻ em
UNICEF The United Nations Children's Fund
Quỹ nhi đồng liên hợp quốc UNU Đại
học liên hợp quốc
WAZ Weight-for-Age Zscore - Chỉ số Z-score cân nặng/tuOi
WHZ Weight-for-Height Zscore - Chỉ số Z-score cân nặng/chiều cao
WHO World Health Organization - Tổ chức Y tế thế giới
X Số trung bình
Tiền Hải là huyện ven biển có nhiều các thủy hải sản như tôm, cua, ngao
sò, cá trong đó ngao, sò có chứa các chất đạm, chất béo các vitamin, chất khoáng
như canxi, sắt, kẽm với hàm lượng cao hơn nhiều so với các thực pham khác [65].
Với giả thiết nếu sử dụng ngao bo sung vào khau phần của trẻ có thể sẽ làm
tăng thêm nhiều vi chất quan trọng và lượng protid đáng kể để phục hồi SDD,
3
nhất là SDD thấp còi. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài "Thực trạng suy
dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ dưới 5 tuồi tại vùng
ven biển Tiền Hải, Thái Bình ".
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên
quan ở vùng ven biển Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm 2011.
2. Xác định tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm ở trẻ em thấp còi 25-48 tháng tuổi chọn từ đối
tượng điều tra ban đầu.
3. Đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện khau phần lên tình trạng dinh dưỡng cho trẻ
em 25-48 tháng tuổi ăn bán trú tại một số trường mầm non huyện Tiền Hải, Thái
Bình.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình suy dinh dưỡng ở trẻ em trên thế giới và Việt Nam.
1.1.1. Tinh hình suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em trên thế giới.
Từ 576 cuộc điều tra đại diện của các quốc gia và vùng lãnh tho trong giai
đoạn 1990 đến 2010 cho thấy năm 1990 trên thế giới tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD
thể thấp còi chiếm khoảng 40% tương ứng là 253,1 triệu trẻ. Vùng châu Mỹ La
tinh và Caribe là 24,6% (13,7 triệu). Tỷ lệ SDD thấp còi châu Á năm 1990 là
48,4% (188,7 triệu). Các quốc gia đang phát triển là 44,6% (248,4 triệu); các quốc
gia phát triển 6,1% (4,7 triệu). Đến năm 2010 trên toàn cầu, thấp còi ở trẻ em đã
giảm từ 39,7% xuống còn 26,7%. Xu hướng này dự kiến sẽ còn 21,8% vào năm
2020. Tuy nhiên, mức độ giảm tỷ lệ SDD thấp còi có sự khác nhau rõ rệt giữa các
khu vực. Ớ châu Phi tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi. Sau 20 năm, tỷ lệ SDD thấp
còi vẫn dao động trong mức 40%, trong khi đó châu Á có những chuyển biến
tiếp tục giảm từ 29,8% năm 2000 xuống khoảng 16,3% năm 2020; Tuy nhiên có
sự khác biệt giữa các vùng. ớ Châu Phi sẽ có mức độ giảm ít hơn rất nhiều từ
34,9% xuống còn 31,1% trong khoảng 20 năm tới, nhưng số lượng sẽ tăng từ 44
triệu trẻ năm 2000 lên 48 triệu vào năm 2020 do tăng dân số. ớ Châu Á, Châu Mỹ
Latinh và Carribe, cả tỷ lệ và số lượng trẻ SDD thể thấp còi sẽ tiếp tục giảm trong
5
cùng một chu kỳ thời gian. Nhưng trong khi tỷ lệ SDD thấp còi đang giảm chậm
thì sự gia tăng số trẻ em dưới 5 tuối trong các nước kém phát triển đã làm cho số
lượng trẻ em bị thấp còi trong nước kém phát triển giảm chậm hơn so với tỷ lệ
[85],[136].
1.1.2. Tinh hình suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em Việt Nam.
SDD protein năng lượng ở trẻ em vẫn đang là một thách thức đối với công
tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Với những định hướng chiến lược Quốc gia về
dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 cùng sự chung tay của cộng đồng đã yêu cầu
giảm tỷ lệ SDD là một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế, xã hội
[6]. Trong những năm gần đây các thể SDD nặng đã giảm rất nhiều, hiện nay
SDD chủ yếu là thể nhẹ và vừa, số trẻ em SDD gầy còm cấp tính đã hạ thấp đáng
kể, nhưng tỷ lệ thấp còi vẫn còn rất cao. SDD thấp còi là hậu quả của thiếu dinh
dưỡng kéo dài, ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của trẻ em. Trong mấy thập
kỷ qua, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuối ở Việt Nam đã có những mức giảm mạnh
tương đương với xu hướng giảm tỷ lệ SDD trong khu vực [24],[67].
Tỷ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuối đã giảm từ 59,7% năm 1985
xuống 56,5% năm 1990 và 36,5% năm 2000, đến năm 2005 tỷ lệ SDD thể thấp còi
là 29,6% (theo quần thể tham chiếu NCHS). Tuy nhiên kết quả cho thấy tỷ lệ SDD
thể thấp còi thay đối 31,9% năm 2009 và 29,3% năm 2010 [66] (do từ năm 2006
sử dụng quần thể tham chiếu của WHO [144]). Mặt khác giảm SDD thể thấp còi
là một thách thức, khó hơn rất nhiều so với giảm SDD thể nhẹ cân [23],[27],[40].
Nếu như năm 1999, tỷ lệ SDD nhẹ cân và thấp còi không có sự khác biệt đáng kể
thì sau hơn 1 thập kỷ, 2 tỷ lệ này có sự chênh lệch rất rõ ràng. Từ năm 1999 đến
năm 2010 trong cả nước tỷ lệ SDD thể nhẹ cân giảm xuống một cách bền vững từ
mức trung bình theo khuyến nghị của WHO nhưng cá biệt vẫn còn những vùng có
tỷ lệ thấp còi ở mức cao và rất cao. Sự khác biệt về tỷ lệ SDD giữa các vùng miền
là rất rõ ràng.
Tỷ lệ thấp còi cũng có sự khác biệt khá lớn giữa thành thị và nông thôn. ớ
vùng thành thị vào năm 2006 tỷ lệ thấp còi đã gần về điểm đầu của mức trung
bình theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (22,6%), trong khi ở nông thôn tỷ lệ
7
này vẫn còn ở điểm giữa của mức cao (34,8%) [66]. Nghiên cứu của Hoàng Đức
Hạnh tại Hà Nội năm 2011 cho thấy tỷ lệ SDD trẻ em ở thể nhẹ cân là 8,6%, thể
thấp còi là 17,8% và thể gầy còm là 2,9% [18]. Kết quả của Vũ Quỳnh Hoa năm
2010 tại thành phố Hồ Chí Minh cũng cho kết quả tương tự [21]. Trong khi đó,
các nghiên cứu ở những vùng nông thôn khác nhau trên toàn quốc đều cho thấy tỷ
lệ SDD thấp còi chiếm khoảng 1/3 số trẻ dưới 5 tuổi [28],[32],[55]. Nguyên nhân
là do sự bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ y tế, trình độ dân trí và khoảng cách
giàu nghèo ngày càng lớn giữa khu vực nông thôn, miền núi so với các thành phố
lớn và các khu đô thị [66].
Tình hình SDD thấp còi tại tỉnh Thái Bình và huyện Tiền Hải.
Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy tình trạng SDD trẻ em của tỉnh
Thái Bình còn rất cao, năm 1991 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân (CN/T) là 58,5%, và thấp
còi (CC/T) là 59,9% mặc dù Thái Bình là vựa lúa của miền bắc là tỉnh đồng bằng
sông Hồng [36]. Năm 2006 kết quả nghiên cứu tại huyện Tiền Hải cho thấy tỷ lệ
SDD thể nhẹ cân là 22,6%, về nhận thức của bà mẹ có con SDD có tới 51% bà mẹ
vẫn cho là con phát triển bình thường [57]. Năm 2010 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân của
Thái Bình giảm xuống còn 17,3%, SDD thấp còi là 26,7% cao hơn so với tỷ lệ
chung của vùng đồng bằng sông Hồng là 25,5% [66].
1. 2. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng
SDD do tác động của nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với y tế, lương
thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Các nguyên nhân gồm:
nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân quan trọng, nguyên nhân cơ bản và nó ảnh
hưởng đến SDD nói chung và SDD thấp còi ở các cấp độ khác nhau.
còn cho rằng sữa non là ban cần vứt bỏ đi . Một lý do khác ảnh hưởng đến nuôi
con bằng sữa mẹ là do mẹ thiếu sữa, thiếu sữa khiến bà mẹ phải cai sữa cho con
trước 6 tháng tuổi, việc thiếu sữa xảy ra phổ biến ở các bà mẹ ở thành phố do căng
thẳng công việc, do phải đi làm sớm, số lần cho trẻ bú ít đi là nguyên nhân gây
thiếu sữa ở các bà mẹ [89].
9
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khau phần ăn của trẻ ở nông thôn Việt Nam chỉ
đáp ứng khoảng 30- 50% nhu cầu protein động vật và vi chất dinh dưỡng [39],
[40],[48]. Kết quả điều tra về tình trạng thiếu đa vi chất dinh dưỡng ở trẻ nhỏ tại
các vùng nông thôn Việt Nam của Nguyễn Văn Nhiên và cộng sự cho thấy tỷ lệ
thiếu kẽm, selenium, magnesium, và đồng theo thứ tự là 86,9%, 62,3%, 51,9%, và
1,7%,. Mặt khác, 55,6% trẻ bị thiếu máu và 11,3 % số trẻ bị thiếu vitamin A.
Thiếu đồng thời từ 2 vi chất dinh dưỡng trở lên chiếm tới 79,4% trẻ [121]. Người
ta đã ước tính có khoảng 600-700 triệu người trên toàn thế giới bị thiếu sắt [145].
Thiếu máu và thiếu sắt ở trẻ nhỏ có thể dẫn tới chậm phát triển cả về tinh thần và
thể chất và ảnh hưởng xấu tới sức khỏe [83],[131]. Ở Việt Nam, một số điều tra về
thiếu máu do thiếu sắt ở trẻ em tại một số vùng nông thôn (Sóc Sơn, ngoại thành
Hà Nội) của tác giả Lê Thị Hợp và cộng sự [98], nghiên cứu của Berger, Khúc Thị
Tuyết Hường, Trần Thị Lan cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em Việt Nam vẫn còn ở
mức rất cao [32],[41],[72].
Năm 2006, tỷ lệ thiếu máu trung bình ở trẻ em chung toàn quốc là 29,2%, tỷ
lệ thiếu máu cao nhất ở nhóm 6-12 tháng tuổi, tới 56,9%; có xu hướng giảm khi
tuổi của trẻ tăng lên: 45% ở nhóm 12-24 tháng tuổi, 38% ở nhóm 24-36 tháng
tuổi. Khi chế độ ăn thiếu sắt như thiếu sữa mẹ, cho ăn dặm chưa đúng cách làm
trẻ bị thiếu các thức ăn nguồn gốc động vật là những nguồn quan trọng cung cấp
sắt dẫn đến thiếu máu [100]. Trong những trường hợp nhu cầu sắt lớn hơn bình
thường khi đó sữa mẹ thường không đủ thỏa mãn nhu cầu sắt của cơ thể trẻ,
những trẻ này cần được bắt đầu bổ sung sắt sớm, tối thiểu là từ 2 tháng tuổi, tốt
nhất là trong suốt sáu tháng đầu đời [145].
Ở Việt Nam, kết quả của một số nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ
huyết thanh và thiếu máu ở 682 trẻ nhỏ ở các vùng miền núi phía Bắc của Việt
Nam, tác giả Nguyễn Công Khan, Phan Văn Huân và cộng sự đã phát hiện thấy tỷ
lệ thiếu máu và thiếu vitamin A ở những vùng này vẫn rất cao và đưa ra khuyến
nghị về các nghiên cứu trong tương lai cần xác định xem nếu tăng tiêu thụ tiền
vitamin A - carotenoids thì có giảm được tỷ lệ thiếu máu ở trẻ nhỏ hay không
[102]. Các bệnh lý khác như dị tật bẩm sinh, tim tiên thiên, các bệnh của các cơ
1
quan bộ phận khác trong cơ thể cũng làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của
trẻ và làm cho trẻ bị SDD.
1.2.2. Nguyên nhân quan trọng: Do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà
mẹ trẻ em, kiến thức chăm sóc của người nuôi trẻ, nước sạch vệ sinh môi trường.
Người ta thấy rằng tình trạng thiếu dịch vụ chăm sóc y tế, vệ sinh môi
trường kém, không có hệ thống nước sạch, dẫn đến bệnh tật phát sinh và không
được ngăn chặn đẩy lùi sẽ làm tăng tỷ lệ SDD của trẻ [120]. Một tình trạng tiền
lâm sàng có xu hướng pho biến ở các nước đang phát triển là bệnh đường ruột do
môi trường (EE - environmental enteropathy) hay còn gọi là bệnh đường ruột
nhiệt đới. Loại bệnh này không có biểu hiện ra bên ngoài nhưng có thể làm rối
loạn hấp thu chất dinh dưỡng do làm thay đổi cấu trúc và chức năng của ruột non.
Có giả thiết cho rằng EE gây ra tình trạng chậm tăng trưởng và có thể làm giảm
hiệu quả của các can thiệp dinh dưỡng. Các nhà nghiên cứu suy đoán rằng việc
tiếp xúc liên tục với vi khuẩn gây bệnh có thể làm cho trẻ mắc bệnh EE và hạn chế
khả năng hấp thu tốt và sử dụng tối đa các chất dinh dưỡng từ thức ăn dù trẻ có bị
tiêu chảy hay không [108].
Sự khác biệt về tỷ lệ SDD nhất là SDD thấp còi tại các vùng có điều kiện
kinh tế xã hội khác nhau đã phản ánh tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình ảnh
hưởng đến tình trạng SDD của trẻ. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi năm 2010 bị SDD thấp
còi của vùng Đông Nam Bộ là 19,2% trong đó thành phố Hồ Chí Minh chỉ có
7,8%, trong khi vùng Tây Nguyên là 35,2%, vùng trung du miền núi phía Bắc là
33,7% [66].
Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của bà mẹ và người chăm sóc trẻ có
trạng thiếu dinh dưỡng trẻ em kéo dài đồng thời thiếu nhiều vi chất dinh dưỡng,
đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển tầm vóc cơ thể và sự phát triển trí tuệ của trẻ
hiện tại cũng như sau này [15],[99],[110]. SDD và thiếu vi chất ở trẻ em là nguyên
nhân tử vong của hơn 3 triệu trẻ em hàng năm hay chiếm tới 45% nguyên nhân tử
vong trẻ trong năm 2011 [74]. Vì vậy, thực hiện các can thiệp bổ sung đa vi chất
Biểu
hiện
Nguyên
nhân
trực
tiếp
Nguyên
nhân quan
trọng
Nguyên
nhân cơ
bản
Nguồn: Shrimptom & Kachondham, 2003
1
và bổ sung sớm có tác dụng cải thiện đáng kể lên tình trạng dinh dưỡng và sự phát
triển của trẻ [43],[44],[49],[50].
1.3.1. Sắt và sự phát triển của cơ thể.
Nhu cầu sắt hàng ngày đối với trẻ bú mẹ: 1 mg/kg/ngày từ 4-6 tháng, trẻ có
cân nặng sơ sinh thấp: 2-4 mg/kg/ngày từ 1 tháng đến 12 tháng, cho tới liều tối đa
có thể 15mg/ngày. Bổ sung sắt đường uống đạt hiệu quả cải thiện nồng độ
hemoglobin ở nhóm trẻ 0-59 tháng tuổi thiếu máu hoặc thiếu sắt. Ớ nhóm trẻ thiếu
máu hoặc thiếu sắt, nồng độ hemoglobin đã được cải thiện khi bổ sung sắt [133],
[149]. Việc bổ sung phối hợp các vi chất hoặc biện pháp tăng cường vi chất vào
thực pham giúp hỗ trợ hấp thu và giảm tỷ lệ thiếu máu ở trẻ nhỏ [17],[34],[35].
Kết quả của một số nghiên cứu khác cũng cho thấy vai trò của sắt và sự
tan kẽm nên ảnh hưởng xấu đến hấp thu kẽm. Sắt vô cơ có thể làm giảm hấp thu
kẽm, nhiều nghiên cứu còn chứng tỏ sắt hem cũng có tác dụng ức chế hấp thu
kẽm tương tự. Canxi làm tăng bài tiết kẽm và do đó làm giảm tỷ lệ hấp thu kẽm.
Mức độ hoà tan của kẽm có một vai trò rất quan trọng trong hấp thu kẽm. Kẽm
tham gia vào quá trình tong hợp protein vận chuyển retinol trong gan (RBP) và có
tác dụng làm tăng hiệu quả bổ sung vitamin A trong điều trị hội chứng thiếu
vitamin A tương ứng với nồng độ RBP tăng. Ngược lại thiếu vitamin A cũng ảnh
hưởng đến hấp thu kẽm do giảm tổng hợp protein vận chuyển kẽm ở ruột [76].
Nhu cầu kẽm được khuyến nghị hàng ngày ở trẻ nhỏ từ 0 đến 4 tháng tuổi là
1,25 mg/ ngày; ở trẻ 5-12 tháng tuổi là 1,1mg/ ngày; ở trẻ trai từ 110 tuổi là 1,6
mg/ ngày; ở trẻ gái từ 1-9 tuổi là 1,55 mg/ ngày, tuy nhiên tùy vào tỷ lệ hấp thu mà
lượng kẽm khuyến nghị dùng hàng ngày có thể tăng từ
2.5 lần đến 10 lần. Ngưỡng nồng độ kẽm huyết thanh ở trẻ em thấp khi hàm
lượng kẽm huyết thanh dưới 70 ^g/dl [78].
Vai trồ của kẽm trong hoạt động của các enzym:
Kẽm có một vai trò sinh học không thể thiếu đối với sức khỏe con người. Nó
tham gia vào thành phần của trên 300 enzym khác nhau, là chất xúc tác không thể
thiếu được của ARN- polymerase trong quá trình nhân bản ADN và tổng hợp chất
1
protein. Đây là chức năng quan trọng giúp kích thích tăng trưởng của trẻ em. Kẽm
vừa là cấu trúc, vừa tham gia duy trì hàng loạt các cơ quan quan trọng trong cơ
thể. Kẽm có độ tập trung cao trong não nên thiếu kẽm có thể dẫn đến các rối loạn
dẫn truyền thần kinh. Kẽm tham gia điều hòa chức năng của hệ thống nội tiết và
có trong thành phần của hormon một số tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến
thượng thận, sinh dục. Kẽm còn có tác dụng chống oxy hóa, chống lại các tổn
thương do nhiễm trùng và nhiễm các độc tố, bảo vệ tế bào niêm mạc, giúp mau
lành vết thương [76].
Vai trồ của kẽm và mối liên quan với 1GF-1 tới tăng trưởng và phát triển
Kẽm có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của cơ thể, ảnh hưởng này có thể
giải thích nhiều tác dụng như: tăng hấp thu, tăng tổng hợp protein, tăng cảm giác
Tại Bangladesh nghiên cứu bố sung kẽm 70mg hàng tuần trong 12 tháng
cũng cho thấy giảm có ý nghĩa thống kê tỷ lệ mắc bệnh viêm phối và nhiễm trùng
khác ở trẻ em [70],[71]. Nghiên cứu cộng đồng của Nguyễn Xuân Ninh và cộng
sự năm 1996 bố sung kẽm cho trẻ từ 6 đến 36 tháng tuối bị SDD có kết quả tăng
mức cân và chiều cao tốt hơn. Tác giả còn nhận thấy trẻ được bố sung kẽm có
mức hormon tăng trưởng (IGF-1) trong máu cao hơn có ý nghĩa thống kê so với
nhóm chứng và cho rằng vai trò kích thích tăng trưởng của kẽm được thông qua
mức IGF-1 trong máu. Mặc dù xương cần có những dưỡng chất thành phần như
các amino acid, calcium, phosphor và magne, rối loạn hoạt động các hooc-mon có
vai trò điều hòa tạo thành xương ở đĩa xương tăng trưởng có thể hạn chế tăng
trưởng xương [122]. IGF-1 là chất đưa tin quan trọng của tín hiệu dinh dưỡng dẫn
đến xương dài ra. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, ở những trẻ thiếu hụt kẽm,
IGF-1 nhạy với tình trạng kẽm của cơ thể, bố sung kẽm dẫn đến tăng trưởng chiều
cao đáng kể [111],[ 128].
Một số nghiên cứu đánh giá tác dụng của kẽm đơn độc hoặc kết hợp đối với
tình trạng dinh dưỡng của cơ thể, kết quả cho thấy bố sung kẽm đơn thuần hoặc
bổ sung kẽm kết hợp với sắt cũng không gây tác dụng âm tính lên tình trạng sắt,
trong khi đó nếu bổ sung sắt liều cao có thể gây hậu quả thiếu kẽm nặng hơn [90],
[107]. Trong một nghiên cứu ở Việt Nam do Berger và các chuyên gia của Viện
dinh dưỡng năm 2006 cho thấy kết hợp bổ sung sắt và kẽm cho hiệu quả dương
1
tính rõ rệt về tình trạng sắt và kẽm ở trẻ nhỏ. Tuy vậy hiệu quả dương tính của bổ
sung kẽm đơn lẻ lên tình trạng kẽm và tốc độ tăng cân cho thấy sự tương tác âm
tính của sắt khi bổ sung vào cùng kẽm [72]. Một số nghiên cứu khác cũng cho kết
quả tương tự [91],[107],[109].
Nghiên cứu tiến hành tại Việt Nam của các tác giả Berger J, Nguyễn Xuân
Ninh, Nguyễn Công Khẩn và cộng sự năm 2006 về kết hợp bổ sung sắt và kẽm
cho trẻ sơ sinh cũng đã cho thấy hiệu quả lên việc cải thiện tình trạng vi chất dinh
dưỡng và tốc độ phát triển của trẻ [72]. Tác giả Nguyễn Thanh Danh đã cho thấy
tác dụng của bổ sung kẽm đối với triệu chứng chán ăn kéo dài ở trẻ và nó còn có
giảm 23% nguy cơ tử vong do tiêu chảy [115],[141]. Liệu pháp sử dụng liều kẽm
gấp 2 lần nhu cầu hàng ngày trên những trẻ bị viêm phổi trong 5 - 6 ngày hoặc
dùng kéo dài cho đến khi trẻ khỏi cho thấy nhóm trẻ được bổ sung kẽm có thời
gian mắc bệnh trung bình ngắn hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm
chứng [105],[106]. Sử dụng gấp 3 lần kẽm so với nhu cầu hàng ngày ở trẻ tiêu
chảy cấp giúp tăng nồng độ kẽm huyết thanh và giảm mức độ nặng của bệnh [75].
Bo sung kẽm có thể có tác động mạnh trong sự phát triển của trẻ bú mẹ và
trẻ bị bệnh tiêu chảy. Trong điều kiện này có sự gia tăng đào thải kẽm trong phân
cũng như giảm hấp thu điều đó làm giảm lượng kẽm vào cơ thể. Sự giảm hấp thu
và tăng bài tiết gây lên sự mất cân bằng mạnh có hại cho quá trình và làm giảm
lượng kẽm ngay trong thời gian ngắn sau đó. Tiêu chảy nặng có thể gây ra triệu
chứng lâm sàng thiếu kẽm và nhu cầu 200 - 300 ^g kẽm hàng ngày giúp cải thiện
sức khỏe và các triệu chứng trên. Bo sung kẽm giúp giảm nguy cơ nhiễm khuan
đường hô hấp ở trẻ em tiêu chảy, giảm tỷ lệ tử vong, giảm mức độ và thời gian
điều trị do tiêu chảy gây ra [70],[73].
Như vậy, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy bổ sung kẽm cho trẻ dưới 5
tuổi có tác động tích cực trong phòng bệnh và kích thích tốc độ phát triển của trẻ.
Vì vậy cần triển khai rộng rãi trên những đối tượng nguy cơ ở Việt Nam và các
nước đang phát triển nhằm làm giảm nguy cơ bệnh tiêu chảy, nhiễm khuan, tăng
tốc độ phát triển thể lực và giảm SDD trẻ em.
1.3.3. Vai trò của Vitamin A với sự phát triển của trẻ em.
2
Ớ những trẻ được nuôi dưỡng tốt, khoảng 90% lượng vitamin A trong cơ
thể được tích luỹ ở gan dưới dạng retinyl palmitae. Tại gan diễn ra quá trình thuỷ
phân các ester retinyl thành dạng retinol để kết hợp với một protein đặc hiệu thành
retinol gắn protein (RBP). Holo-RBP là dạng vận chuyển chủ yếu của vitamin A.
RBP được giải phóng từ gan để duy trì vitamin A và RBP trong huyết tương để
đáp ứng nhu cầu sử dụng của các tổ chức trong cơ thể.
Đối với chức năng nhìn:
Mối liên hệ tuyến tính giữa phát triển SDD thấp còi và bệnh quáng gà và
cung cấp kiến thức, thay đổi hành vi, đưa ra một thực hành đúng, khoa học thay
cho một thực hành sai lầm đang tồn tại. Trong giáo dục phòng chống thiếu dinh
dưỡng cho trẻ thì bà mẹ hoặc phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có vai trò đặc biệt quan
trọng nhưng cũng cần mở rộng đến các nhóm đối tượng khác có ảnh hưởng lớn
đến các đối tượng có nguy cơ [29],[40].
Giáo dục kiến thức dinh dưỡng và vệ sinh phòng bệnh trong nhà trẻ mẫu
giáo và các bà mẹ sẽ có tác dụng rất lớn đến thực hành về ăn uống và thực hành
phòng tránh bệnh tật đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm, do đó có tác dụng phòng
tránh các bệnh về dinh dưỡng, nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh do điều
kiện sinh hoạt và học tập [4].
Kiểm tra giám sát thường xuyên các hoạt động thực hành vệ sinh và dinh
dưỡng cũng sẽ giúp cho người nuôi dạy trẻ (cô giáo và người nuôi trẻ) làm đúng
hơn tốt hơn và hiệu quả hơn trong việc nâng cao thể lực và giảm tỷ lệ SDD và
bệnh nhiễm trùng [19],[37],[57].
1.4.2. Biện pháp can thiệp y tế tới tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm các bệnh nhiễm trùng, ký sinh
trùng, bệnh do thiếu dinh dưỡng, thừa dinh dưỡng, cũng chính là giúp trẻ em
phòng tránh được các biến chứng của bệnh, nâng cao tình trạng dinh dưỡng, sức
khỏe và từ đó có tác dụng phòng chống các bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng và
các bệnh mạn tính không lây khác. Bổ sung vi chất dinh dưỡng như: sắt, kẽm,
vitamin A giúp phục hồi dinh dưỡng và chống các bệnh nhiễm khuan. Kết quả
2
nghiên cứu bo sung vi chất cho trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi của Gia Bình, Bắc Ninh
cho thấy số ngày mắc bệnh trung bình, số lần mắc bệnh, tỷ lệ mắc tiêu chảy trên 2
lần trong 6 tháng và tỷ lệ tiêu chảy kéo dài trên 3 ngày thấp hơn so với nhóm
chứng [16].
Các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng nếu không được khám điều trị kịp thời
sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ. Một số nghiên cứu cho thấy thấy tác
động tích luỹ của nhiễm khuan đường hô hấp kèm theo sốt đến nguy cơ SDD thấp
còi tương tự như tác động của tiêu chảy.
trứng, nước mắm, xì dầu, chè, các sản phẩm sữa, mì sợi, bánh mì, bánh bích qui,
thức ăn cho trẻ em và các “thực phẩm gia giảm” như đồ uống, gia vị, kẹo [3],[33],
[134].
Các nghiên cứu bố sung sắt vào thực phẩm cho thấy, việc bố sung đã góp
phần tăng vi chất dinh dưỡng vào khẩu phần ăn của trẻ em hàng ngày, đặc biệt là
khi nhu cầu của trẻ cao và những trẻ mà chế độ ăn có chất lượng thấp đã có hiệu
quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ [124],[132]. Ở các nước đang phát
triển bổ sung đa vi chất đặc biệt là sắt, kẽm giúp tăng trưởng, giảm nguy cơ tử
vong và các bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ như tiêu chảy, viêm phổi [137],[150].
Năm 1993 ở Peru, trong chương trình ăn trưa tại trường học trẻ đã được nhận
100g bánh quy đã tăng cường vitamin A, Bj, B
2
, C, B12, PP, acid folic, sắt, kẽm và
iod. Tại Huancayo, là một vùng có chương trình này, tỷ lệ thiếu máu đã giảm từ
68,1% xuống còn 17,6% trong vòng 6 tháng. Tại Trung Quốc, đã tăng cường sắt
vào ngũ cốc và từ tháng 12/1997 đã và đang nghiên cứu để tăng cường sắt vào
nước mắm và xì dầu [89]. Một triệu trẻ em trong chương trình bữa ăn trưa ở Chi
Lê được cung cấp 10g bánh bích quy tăng cường 6% nồng độ Hb của máu bò
cung cấp 1mg sắt 1 ngày [139]. Tại những vùng có tỷ lệ thiếu máu do thiếu sắt
cao, sau 3 năm đánh giá chương trình bánh bích qui có tăng cường sắt hem đã có
hiệu quả rõ rệt cải thiện tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu của trẻ em [135],
[136]. Tại Thái Lan đã có các nghiên cứu thành công về tăng cường sắt vào nước
mắm và mì sợi [74],[139]. Năm 1998, Mỹ đã tăng cường acid folic vào bột mì
(hàm lượng 1,54 mg/kg bộ mì) để đề phòng tật nứt đốt sống và khuyết tật ống thần
kinh ở phụ nữ có thai vì họ mắc bệnh này tương đối cao dịch vụ y tế công cộng ở
2
Mỹ khuyến nghị rằng phụ nữ ở tuổi sinh đẻ cần ăn ít nhất 400 ^g acid folic hàng
ngày để phòng chống khuyết tật ống thần kinh ở trẻ sơ sinh [100]. Như vậy, việc
tăng cường vi chất vào thực phẩm đã thành công trên nhiều nước. Hiện nay, người
ta đã có nhiều hiểu biết về kỹ thuật tăng cường rõ ràng nên chiến lược này có khả