Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ dưới 5 tuổi vùng ven biển Tiền Hải tỉnh Thái Bình (tóm tắt) - Pdf 18


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ thống kê nhiều quốc gia cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ
em trên thế giới đã có sự thay đổi rõ rệt, SDD thể nhẹ cân đã giảm nhanh
song SDD thể thấp còi vẫn còn cao và thường kèm theo thiếu vi chất. Năm
2011 tỷ lệ SDD thấp còi trên thế giới là 27,5%, trung bình ở các nước châu Á
là 26,8%. Tỷ lệ SDD thể thấp còi Việt Nam năm 2012 vẫn còn cao chiếm
trên một phần tư trẻ ở dưới 5 tuổi.
Nguyên nhân của SDD rất đa dạng và phức tạp, nhiều nghiên cứu chỉ
ra rằng lượng protein động vật và vi chất dinh dưỡng khẩu phần mới chỉ đạt
khoảng 30% đến 50% nhu cầu của trẻ. Vấn đề môi trường ô nhiễm, các bệnh
nhiễm trùng của trẻ, nhận thức của bà mẹ và người nuôi trẻ, phong tục tập
quán, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cũng có tác động đáng kể đến tình trạng
suy dinh dưỡng của trẻ. Việc phòng chống SDD đã được triển khai rộng
khắp trên toàn quốc, nghiên cứu bổ sung đa vi chất trong đó có kẽm đã đạt
được kết quả tốt. Nghiên cứu cải thiện bữa ăn bổ sung đảm bảo đủ nhu cầu
dinh dưỡng từ nguồn thực phẩm sẵn có ở địa phương là một cách tiếp cận tốt
nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Tiền Hải là huyện nuôi nhiều
ngao sò có hàm lượng chất dinh dưỡng rất cao, ngoài các chất đạm, chất béo
còn có các vitamin, chất khoáng như canxi, sắt, đặc biệt là kẽm với hàm
lượng cao hơn nhiều so với các thực phẩm khác.
Với giả thiết nếu sử dụng ngao bổ sung vào khẩu phần của trẻ có thể sẽ
làm tăng thêm nhiều vi chất quan trọng và lượng protid đáng kể để phục hồi
SDD, nhất là SDD thấp còi. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài "Thực
trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ
dưới 5 tuổi tại vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình"
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi và một số
yếu tố liên quan ở vùng ven biển Tiền Hải tỉnh Thái Bình năm 2011.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1- Tình hình trẻ em thấp còi trên thế giới và Việt Nam.
- Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới:
Tổng hợp từ thống kê các quốc gia cho thấy từ năm 1990 đến năm 2010, tỷ lệ
trẻ em bị thấp còi trên thế giới đã giảm
39,7% xuống còn 26,7%
, giảm bình quân khoảng
0,7%/năm. Tốc độ giảm SDD không song hành với mức tăng trưởng kinh tế. Thấp
còi giảm trong 2 thập kỉ qua ở một vài khu vực đã đạt những tiến bộ đáng kể như châu
Á. Ở châu Phi tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi. Sau 20 năm, tỷ lệ thấp còi vẫn dao
động trong mức 40%. Khoảng 80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở 14
quốc gia trong đó 4 nước là Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar có tỷ lệ trẻ
em dưới 5 tuổi thấp còi cao nhất (hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi).

3
- Tình hình suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ em Việt nam: Những
nghiên cứu trong nước cho thấy Việt Nam là một trong 20 quốc gia phải
gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của tình trạng SDD trẻ em. Trong những
năm gần đây các thể SDD nặng đã giảm rất nhiều, nhưng tỷ lệ thấp còi vẫn
còn rất cao. Tỉnh Thái Bình năm 1991 có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là
58,5%, và thấp còi là 59,9% đến năm 2012 tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân
còn 16%, tỷ lệ nhẹ cân ở huyện Tiền Hải là 15,7%
2. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng.
- Nguyên nhân do thiếu ăn về số lượng, không đảm bảo chất lượng và mắc
các bệnh nhiễm khuẩn: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng khẩu phần ăn của trẻ ở nông
thôn Việt Nam chỉ đáp ứng khoảng 30- 50% nhu cầu protein động vật và thiếu đa
vi chất dinh dưỡng. Người ta ước đoán nhiễm trùng ảnh hưởng đến 30% sự giảm
chiều cao của trẻ. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng của trẻ tăng lên rõ rệt vào những mùa có
các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét.
Nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra rằng thiếu vitamin A tiền lâm sàng

do đó có tác dụng phòng tránh các bệnh về dinh dưỡng, nhiễm trùng, ký sinh
trùng và các bệnh do điều kiện sinh hoạt và học tập
- Biện pháp can thiệp Y tế tới tình trạng dinh dưỡng trẻ em:
Bằng cách khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm các bệnh nhiễm trùng,
ký sinh trùng, bệnh do thiếu dinh dưỡng, thừa dinh dưỡng người ta thấy rằng
cũng đã giúp trẻ em phòng tránh được các biến chứng của bệnh, nâng cao
tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và từ đó có tác dụng phòng chống các bệnh
nhiễm trùng, ký sinh trùng và các bệnh mạn tính khác.
- Các nghiên cứu can thiệp cải thiện khẩu phần ăn của trẻ: Biện
pháp tốt nhất để cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng qua việc dùng
các thực phẩm sẵn có ở địa phương. Người ta cũng đã rất quan tâm đến hải
sản đặc biệt là ngao chứa hàm lượng vi chất cao, nhất là kẽm sắt và vitamin
B12. Một số tác giả cho thấy rằng việc tăng cường hướng dẫn các kỹ thuật
chế biến tại cộng đồng đã giúp cho việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ
em. Tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm là một can thiệp đặc hiệu
và đã thành công trên nhiều nước. 5
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Giai đoạn 1: Điều tra ban đầu trên đối tượng trẻ em dưới 5 tuổi trong
thời gian tháng 7 năm 2011 tại 6 xã thuộc huyện Tiền Hải.
- Giai đoạn 2: Nghiên cứu can thiệp trong 12 tháng (từ tháng 9 năm
2011 đến tháng 9 năm 2012) trên trẻ em 25-48 tháng. Nhóm đối chứng (ĐC)
thực hiện tại 2 xã Đông Minh và Nam Hà và nhóm can thiệp khẩu phần (CT)
tại 2 xã Đông Cơ và An Ninh
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1- Thiết kế nghiên cứu: gồm 2 giai đoạn kế tiếp nhau.


p (1 - p)

(Công thức 1)
e
2

Tính cho 5 nhóm tuổi ở 6 xã, chọn mẫu chùm thì số trẻ cần điều tra là 3.080 trẻ.

6
+ Xác đinh tỷ lệ thiếu vi chất ở trẻ em 25-48 tháng tuổi bị thấp còi: Sử dụng
công thức 1, tính được cỡ mẫu xét nghiệm kẽm và Hb là 303 trẻ.
+ Nghiên cứu can thiệp: chọn mẫu có mục đích cho nghiên cứu can thiệp,
trong đó đã chọn toàn bộ trẻ 25-48 tháng tuổi có ăn tập trung tại trường mầm
non ở các xã. Cỡ mẫu cho 1 nhóm CT như sau:
( )
( )
( )
( )
[
]
( )
2
120
2
12121001
11
pp
ppZppZ
n


Tính ra cỡ mẫu xét nghiệm Hb, kẽm là 112 trẻ và IGF1 là 70 trẻ thấp
còi cho mỗi nhóm.
2.2.3. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu: Phân loại trẻ SDD bằng các
chỉ số cân nặng/tuổi, chiều cao/tuổi, cân nặng/chiều cao theo thang phân loại của
WHO 2006. Xét nghiệm Hemoglobin bằng phương pháp cyanmethemoglobin.
Định lượng kẽm huyết thanh theo phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử.
Định lượng IGF1 (Insulin-Like Growth Factor I) theo phương pháp miễn dịch phát
quang (Chemiluminescence Immunoasay).
2.2.4. Xử lý số liệu:
Số liệu được phân tích bằng phần mềm Stata 10.0 tại Trường Đại học Y
Dược Thái Bình và Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Sử dụng các phép tính giá trị
trung bình, tỷ lệ %, các test thống kê ứng dụng trong nghiên cứu y sinh học để
phân tích kết quả. Sử dụng hồi quy logistic trong phân tích đa biến để xác định
các yếu tố liên quan, loại trừ các yếu tố nhiễu và ảnh hưởng tương tác.
+ Tính chỉ số hiệu quả:

( )
100%
A
BA
CSHQ

=

+ Tính hiệu quả can thiệp:
HQCT = |H
1
- H
2

49 – 60 274
58 (21,2)
312
81 (26,0) > 0,05
Chung

1471 342 (23,2) 1571 477 (30,4)
< 0,05
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.3 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em
nữ đều thấp hơn so với trẻ nam cùng tuổi, tỷ lệ SDD thấp còi tăng cao ngay
trong nhóm tuổi từ 13 đến 36 tháng tuổi và giảm dần ở các nhóm tuổi sau.
Tuy nhiên, sự khác biệt chỉ gặp ở nhóm dưới 25 tháng tuổi. So sánh giữa 2
giới cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ nữ là 23,2% thấp hơn nam là 30,4%
có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
-0,25
-1,21
-0,68
-1,37
-1,43 -1,41
-1,27
-0,98
-1,3
-1,45
-1,6
-1,4
-1,2
-1
-0,8
-0,6
-0,4

29.3
8.3
8.7
13.4
11.8
3.6
5.1
3.7
4.7
0
10
20
30
40
≤ 12 tháng 13-24 tháng 25-36 tháng 37-48 tháng 49-60 tháng
Nhóm tuổi
Tỷ lệ %
Thấp còi Nhẹ cân Gầy còm

Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ 3 thể suy dinh dưỡng theo nhóm tuổi
Kết quả biểu đồ 3.4 cho thấy cả 2 thể SDD nhẹ cân và thấp còi đều có

p OR(95%CI)

p
1- Nghề mẹ

Cán bộ 542 19,6

1 1
Công nhân 286 26,4

1,5 (1,04
-2,1)

<0,05

1,3 (0,7-2,2) >0,05

Nông dân 1912 28,0

1,6 (1,2-2,2)

<0,05

1,3 (0,8-2,2) >0,05

Buôn bán, nội trợ 302 27,8

1,6 (1,1-2,3)

<0,05


> 0,05

0,6 (0,3-1,2) > 0,05

4- Số con trong GĐ

1-2 con 2658

27,2 1 1
Trên 2 con 384 25,3 0,9 (0,7-1,2)

> 0,05

0,9 (0,5-1,6) > 0,05

Kết quả bảng 3.7 phân tích 4 nhóm yếu tố liên quan đến điều kiện gia đình
trẻ em cho thấy khi phân tích đơn biến thì thấy cả 4 nhóm đều có khác biệt với p
< 0,05 nhưng khi phân tích hồi quy đa biến cho thấy rằng chỉ có các yếu tố liên
quan đến nguồn nước, hố xí, nghề nghiệp của mẹ là có liên quan đến tỷ lệ thấp
còi với p < 0,05.

< 0,05
Giới tính

Nữ 1474 23,2 1 1
Nam 1571 30,4 1,4 (1,2-1,7)

< 0,01

1,5 (1,3-1,7)
<0,01
Nhóm tuổi

≤ 12 tháng 529 18,2 1

1

13-24 tháng 679 29,3 1,86 (1,4-2,5)
< 0,01

1,8 (1,4-2,4)

< 0,01
25-36 tháng 662 31,6 2,1 (1,6-2,7)

< 0,01

2,0 (1,5-2,7)

Bảng 3.11. Giá trị trung bình của Hb, Zn ở trẻ em thấp còi
Xét
nghiệm
25-36 tháng 37-48 tháng Chung
n n
Hb
170 12,1 ± 1,3 133 12,5 ± 1,2 12,3±1,3
Kẽm
170
63,7 ± 14,4* 133 67,3 ± 11,7*
65,3±13,4
(*: p <0,05)
Kết quả bảng 3.11 cho trình bày giá trị trung bình của Hemoglobin,
kẽm, IGF1 ở trẻ thấp còi nhóm 25 - 36 tháng và 37-48 tháng, trong đó chỉ có
hàm lượng kẽm huyết thanh là có sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi với p<0,05.

11

Bảng 3.12. Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm ở trẻ em thấp còi
Chỉ số xét
nghiệm
Chỉ SDD thấp còi

(n=283)

Hải Thái Bình
Bảng 3.18. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên cân nặng và tình trạng
SDD nhẹ cân
Chỉ số Nhóm ĐC
(n=421)
Nhóm CT
(n=366)
p
Cân nặng trung bình (Kg,
X
± SD)
M
0
12,4 ±1,6 12,3±1,6 > 0,05
M
12
14,0±1,5 14,1±1,5 > 0,05
M
12
- M
0
1,6±0,47 1,7±0,46 < 0,01

WAZ- score (
X
± SD)
M
0
-1,0 ±0,85 -1,07 ±0,88 > 0,05
M

thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.19. Hiệu quả can thiệp lên cân nặng và tình trạng SDD nhẹ cân
theo nhóm tuổi
Các ch


s


25
-
36 tháng (a)

37
-
48 tháng (b)

p

Nhóm
ĐC

(n=240)

NhómCT

(n=199)

Nhóm
ĐC

> 0,05

M
12

-
1,01±0,7

-
0,95±0,69

-
1,05±0,6

-
1,09±0,67

> 0,05

M
12



M
0

-
0,0
5


ng nh


cân CN/T: n (%)

M
0

28 (11,7)

23 (11,6)

16 (8,8)

23 (13,8)

> 0,05

M
12

24 (10,0)

16 (
8,0)

13 (7,2)

17 (10,2)

mà hiệu quả can thiệp đạt tốt hơn (p < 0,05).
Bảng 3.20. Hiệu quả các biện pháp can thiệp lên chiều cao và tình trạng
SDD thấp còi
Chỉ số Nhóm ĐC (n=421) Nhóm CT (n=366) p
Chiều cao trung bình (cm,
X
± SD)
M
0
88,9±5,2 89,2±5,7 >0,05
M
12
95,4±5,1 96,1±5,3 < 0,05
M
12
- M
0
6,5±1,2 6,9±1,1 < 0,05
HAZ- score (
X
± SD)
M
0
-1,65±0,91 -1,57±0,97 >0,05
M
12
-1,63±0,81 -1,47±0,74 < 0,01
M
12
- M

(n=167)
HAZ- score (
X
± SD)
M
0
-1,66±0,9 -1,6±0,96 -1,64±0,87 -1,54±0,97
M
12
-1,72±0,8 -1,58±0,7 (*) -1,5±0,76 -1,34±0,75 (*)
M
12
– M
0
-0,06±0,4 0,03±0,38 (*) 0,13±0,31 0,19±0,33 (*)
p trước sau
< 0,05 > 0,05 < 0,01 < 0,01
Tỷ lệ thấp còi CC/T (n,%)
M
0
82 (34,2) 73 (36,7) 55 (30,4) 52 (31,1)
M
12
83 (34,6) 54 (27,1) 44 (24,3) 33 (19,7)
CSHQ (%) -1,2 26,2 20,1 36,7
HQCT (%) 27,4 16,6
(*) so sánh 2 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Kết quả bảng 3.21 chỉ ra rằng ở cả 2 nhóm tuổi đều thấy chỉ số Z-score trung
bình của nhóm CT tăng cao hơn nhóm ĐC một cách rõ rệt (p < 0,05). Tỷ lệ thấp
còi ở các nhóm tuổi đều giảm sau can thiệp nhưng hiệu quả can thiệp của nhóm 25-

(mg/dL)
M
0
65,6±14,5 66,1±12,7 > 0,05
M
12
73,2±11,2 80,7±15,8 <0,01
M
12
- M
0
7,6 14,7 < 0,01
p (trước sau)

< 0,01 < 0,001
IGF 1 trung
bình (ng/ml)
(
X
±SD)

M
0
106,5±28,6 101,5±40,1 > 0,05
M
12
93,8±31,4 125,8±43.7 < 0,01
M
12
- M

12
23,1 12,8 < 0,05
Mức giảm thiếu máu (%) 6,8 16,3 < 0,05
Chỉ số hiệu quả (%) 22,7 56,0 < 0,05
Hiệu quả CT % 33,3
Thiếu kẽm (%)
(< 70µg/dl)
M
0
66,7 70,9 > 0,05
M
12
43,6 28,2 < 0,05
Mức giảm thiếu kẽm (%) 23,1 42,7 < 0,05
Chỉ số hiệu quả (%) 34,6 60,2 < 0,05
Hiệu quả CT % 25,6
Kết quả 3.25 cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở cả nhóm ĐC và nhóm CT đều
đã giảm sau CT, nhưng mức giảm ở nhóm CT (16,3%) cao hơn ở nhóm ĐC
(6,8%) và hiệu quả can thiệp là 33,3% (p < 0,05). Tình trạng thiếu kẽm cũng
đã giảm sau CT ở cả 2 nhóm ĐC và CT, trong đó mức giảm thiếu kẽm ở
nhóm CT (42,7%) cao hơn nhóm ĐC (23,1%) và hiệu quả can thiệp là 25,6%.

15

Bảng 3.28. Hiệu quả can thiệp khẩu phần ăn của trẻ
Hiệu quả can thiệp
(%)

25
-

Canxi CSHQ 17,2 42,9 22,0 48,9
HQCT 25,7 26,9
Qua bảng 3.28 cho thấy, chỉ số hiệu quả về năng lượng, hàm lượng
protid, lipid, sắt, kẽm, canxin trong khẩu phần của nhóm can thiệp đều cao
hơn so với nhóm chứng ở cả nhóm 25-36 và 37-48 tháng tuổi. Vi chất kẽm
trong khẩu phần có hiệu quả can thiệp cao nhất là 42,5% ở nhóm 37-48
tháng và 30,8% ở nhóm 25-36 tháng tuổi. Tiếp đó là hiệu quả can thiệp về
canxi (25,7% nhóm 25-36 tháng tuổi và 26,9% nhóm 37-48 tháng tuổi). Hiệu
quả can thiệp về năng lượng, protid và lipid, sắt dao động trong khoảng từ
10-20%.

CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN
4.1. Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ
em dưới 60 tháng tuổi vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình.
Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân chung của 6 xã ven biển huyện Tiền Hải là
11,1%, thấp hơn so với trung bình của cả nước năm 2012 (16,2%), và của
tỉnh Thái Bình là 16%. Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân trong nghiên cứu của
chúng tôi thấp hơn kết quả điều tra tại Nghệ An, Yên Bái. SDD nhẹ cân trẻ
em ở trẻ trai (12,5%) cao hơn trẻ gái (9,6%), sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05. SDD thể nhẹ cân tăng dần theo độ tuổi, ở độ tuổi từ 1 đến

16

12 và từ 13 đến 24 tháng tuổi có tỷ lệ thấp 8,3% và 8,7%, từ 25 đến 36 tháng
tuổi tỷ lệ tăng rất nhanh (13,4%). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của
hầu hết các nghiên cứu từ trước đến nay. Chu Trọng Trang nghiên cứu tại
Nghệ An cho biết tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân tăng dần từ 4% ở nhóm dưới
6 tháng đến 29,6% ở nhóm 48 đến 60 tháng tuổi. Nguyên nhân là do trẻ từ 1
đến 24 tháng tuổi trẻ được chăm sóc tốt hơn được bú mẹ đảm bảo đủ dinh
dưỡng và an toàn cho trẻ nhất là ở dưới 6 tháng tuổi, trẻ trên 24 tháng tuổi

Kết quả tổng điều tra toàn quốc 2009-2010 cũng cho biết tỷ lệ suy dinh
dưỡng thấp còi ở nam là 31,5% cao hơn so với ở nữ là 27,1%, sự khác biệt
cũng không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. SDD thể gầy còm chung của
trẻ dưới 5 tuổi là 4,5%, thấp hơn so với tổng điều tra toàn quốc của Viện
dinh dưỡng năm 2010 (7,1%). Tỷ lệ SDD thể gầy còm của nam là (5,7%)
cũng cao hơn so với nữ (3,1%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <
0,05, thấp hơn so với tổng điều tra năm 2010 tỷ lệ SDD gầy còm ở nam là
7,3% và ở nữ là 6,9%.
Trong tổng số 819 trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi ở vùng ven biển Tiền
Hải có 63,2% chỉ SDD thấp còi, 27% phối hợp với thể nhẹ cân, 3,9% phối
hợp cả nhẹ cân và gầy còm (cả ba thể) và đặc biệt có 5,9% trẻ thấp còi kết
hợp với thừa cân. Do đó khi can thiệp phòng chống SDD thấp còi chúng ta
cần chú ý đến việc bù thêm năng lượng trong khẩu phần ăn cho trẻ đồng thời
cũng cần phải phòng tránh trẻ không phục hồi được chiều cao mà lại bị thừa
cân béo phì và một trong các giải pháp không thể thiếu được là bổ sung thêm
vi chất dinh dưỡng cho trẻ nhất là các vi chất giúp cho phát triển tăng trưởng
chiều cao của trẻ. Tương ứng với tỷ lệ thấp còi cao thì giá trị trung bình
Zscore chiều cao theo tuổi ở tất cả các lứa tuổi đều có giá trị âm và thấp nhất
là nhóm 25-48 tháng tuổi và sự khác biệt rõ ràng nhất giữa nam và nữ là ở
lứa tuổi dưới 12 tháng. Nghiên cứu này cũng tương tự như phân tích của
Trần Thành Đô về xu hướng thay đổi giá trị Zscore ở trẻ em.
Suy dinh dưỡng thấp còi hiện nay đang là vấn đề của nhiều quốc gia
trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Theo số liệu của tổ chức Y
tế thế giới năm 2010, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trên thế giới là 26,7%
tương ứng 171 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi trong đó 167 triệu trẻ em
là ở các nước đang phát triển. Châu Á là nơi có diễn biến suy dinh dưỡng
thấp còi giảm rất nhanh từ 49% năm 1990 còn 28% năm 2010. Trong khi đó
châu Phi có mức giảm rất chậm, vẫn dao động trong vòng 40% sau 20 năm.
Các nước Mỹ Latin và vùng Caribe cũng có mức giảm 10% trong khoảng
thời gian này, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi chỉ còn 14%. Nguồn số liệu

bằng 1,4(1,1-1,8), trong hồi quy đa biến với OR (95% CI) bằng 1,3(1,02-
1,7). Xét mối tương quan hồi quy trong trường hợp gia đình sử dụng giếng
khơi trong hồi quy đơn biến với OR (95% CI) bằng 1,36(1,2-1,6), trong hồi
quy đa biến với OR (95% CI) bằng 1,4(1,1-1,6). Như vậy, có thể thấy môi
trường sống có tác động không nhỏ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
Vấn đề tuổi mẹ khi sinh cũng ảnh hưởng tới tình trạng SDD của trẻ.
Trẻ có tuổi mẹ khi sinh dưới 20 tuổi tỷ lệ SDD thấp còi cao 40,5% so với
tuổi bình quân từ 21 đến 40 tuổi 26,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với
p <0,05 và so sánh hồi quy đa biến và đơn biến đều có ý nghĩa liên quan.
Như vậy tuổi mẹ khi sinh thấp dưới hặc bằng 20 tuổi có mối liên quan làm
tăng tỷ lệ SDD thấp còi, vấn đề này hoàn toàn hợp lý vì mẹ ít tuổi dẫn đến

19

kinh nghiệm nuôi con và điều kiện kinh tế khó khăn. Đa số các bà mẹ này
còn phụ thuộc vào gia đình nên chưa thể chủ động trong việc nuôi trẻ, thiếu
cả kinh nghiệm chăm sóc, theo dõi đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
khỏe cũng như trẻ bị bệnh.
Một số nghiên cứu cho thấy tuổi của mẹ trên 40 . Cân nặng sơ sinh là
một trong những yếu tố có liên quan chặt chẽ tới suy dinh dưỡng đã được
nhiều nghiên cứu chứng minh. Nhóm trẻ có cân nặng sơ sinh bình thường thì
tỷ lệ SDD thấp còi là 28,2%, trẻ có cân nặng sơ sinh cao trên 3500 gam tỷ lệ
SDD thấp còi là 13,8%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01, so
sánh hồi quy đa biến và đơn biến đều xác định mối liên quan giữa cân nặng
sơ sinh cao giúp giảm tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ. Tuổi và giới tính là 2 yếu
tố cá nhân có liên quan khá chặt chẽ tới tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi dưới 12 tháng tuổi là 18,2%
thấp nhất, sau đó tăng dần ở 3 độ tuổi sau 13-24, 25-36; 37-48; 49-60 tháng
tuổi và có xu hướng giảm xuống song vẫn cao hơn so với dưới 12 tháng tuổi,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 so sánh hồi quy đơn biến cả 4

dao động trong khoảng 25 - 40% tùy theo địa phương và nhóm tuổi nghiên
cứu. Hằng số sinh học của người Việt Nam thập kỷ 90 của thế kỷ 20 cho biết
nồng độ kẽm ở lứa tuổi 1-36 tháng là 93,07 µg/dL ở nam và 97,18 µg/dL ở
nữ. Như vậy, trẻ thấp còi có nồng độ kẽm huyết thanh thấp hơn nhiều so với
trẻ bình thường. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ thiếu máu trẻ SDD thấp còi từ 25 đến 36 tháng tuổi
35,5%, trẻ từ 37 đến 48 tháng tuổi 20,3% có xu hướng giảm dần phù hợp với kết
quả đánh giá tình trạng thiếu máu toàn quốc năm 2008, có xu hướng giảm khi tuổi
của trẻ tăng lên: 45% ở nhóm 12-24 tháng tuổi, 38% ở nhóm 24-36 tháng tuổi,
29% ở nhóm 36-48 tháng tuổi; 19,7% ở nhóm 48-59 tháng tuổi. Tuy nhiên tỷ lệ
thiếu máu tương ứng theo nhóm tuổi thấp hơn năm 2008, đây là kết quả của
chương trình phòng chống thiếu máu của trẻ tại địa phương.
Tỷ lệ thiếu kẽm trẻ chỉ SDD thấp còi 70,3%, trẻ thấp còi kết hợp với
gầy còm là 75%, không có sự khác biệt lớn giữa thể SDD, tuy nhiên tỷ lệ
thiếu kẽm cao hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Lan ở trẻ từ 12 đến 36 tháng
tuổi (dao động từ 35,4% đến 43,5%). Trẻ được coi là thiếu kẽm khi nồng độ kẽm
huyết thanh < 70 µg/dl hoặc < 10,7 µmol/l. Tuy nhiên theo nhiều nhà nghiên cứu
dinh dưỡng trên thế giới hàm lượng kẽm huyết thanh không có giá trị cao trong
việc đánh giá tình trạng kẽm. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng kẽm huyết
thanh chỉ chiếm 0,1% tổng lượng kẽm trong cơ thể, và hàm lượng kẽm huyết
thanh thường duy trì ở mức độ rất thấp như vậy nhưng lại có mức độ giao động
rất nhiều tùy theo tình trạng sinh lý và lượng kẽm trong thức ăn. Song nó cũng
có tác dụng phản ánh tình trạng cung cấp kẽm qua thức ăn hàng ngày của trẻ
trong quá trình nuôi dưỡng và nếu thiếu lâu dài sẽ làm cho cơ thể thiếu kẽm thực
sự cung cấp cho quá trình phát triển cơ thể. Nghiên cứu tại khu vực nông thôn

21

của Đông Timor cho thấy thiếu vi chất dinh dưỡng cũng là một vấn đề có ý
nghĩa sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng khi tác giả cho biết tỷ lệ thiếu máu,

chương trình phòng chống SDD thể thấp còi hiện nay.
Thiếu kẽm là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc
gia trên thế giới. Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước đều bổ sung

22

kẽm qua dược phẩm hoặc thực phẩm bổ sung vi chất. Trong khi đó nghiên
cứu của chúng tôi đã chọn ngao là loại thực phẩm giàu kẽm (đứng thứ 2 sau
sò) nhưng có giá thành phù hợp để cải thiện khẩu phần ăn của trẻ. Trong
ngao ngoài lượng protid, lipid còn có nhiều vi chất cần thiết cho sự phát triển
của trẻ như sắt, đồng, canxi, vitamin A, B12, B6 và đặc biệt là kẽm. Hàm
lượng kẽm trước can thiệp của cả 2 nhóm đều dao động trong khoảng 56,6 ±
14,5 ở nhóm ĐC và 66,1 ± 12,7 ở nhóm CT thấp dưới ngưỡng nồng độ kẽm
huyết thanh của trẻ em (70 µg/ dl), sau can thiêp ở cả 2 nhóm đều cao hơn
ngưỡng, mức tăng hàm lượng kẽm trung bình trước và sau can thiệp ở cả
nhóm ĐC và nhóm CT đều tăng rõ rệt, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, tuy
nhiên ở nhóm CT tăng 14,7g/dl, gấp hai lần so với nhóm ĐC (7,6 g/dl) sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Điều này hoàn toàn phù hợp vì ở
nhóm CT đã được bổ sung thêm nỗi ngày 2 mg kẽm trong thực phẩm ngao
bổ sung. Kết quả giảm mức độ thiếu kẽm ở nhóm CT là 42,7% cao hơn
nhóm ĐC (23,1%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết quả phù hợp với kết
quả can thiệp bổ sung kẽm cho trẻ SDD thấp còi từ 6 đến 36 tháng tuổi năm
2011 của Nguyễn Thanh Hà tỷ lệ thiếu kẽm giảm từ 44,7% xuống còn 9,3%.
Một nghiên cứu tại New Zealand cũng đã tiến hành một thử nghiệm chế độ
ăn uống trong vòng 20 tuần để đánh giá hiệu quả của bổ sung thịt đỏ và sữa
giàu vi chất đối với tình trạng thiếu kẽm nhẹ ở trẻ. Kết quả cho thấy khẩu
phần kẽm tăng mạnh đến 0,8mg/ngày ở nhóm ăn thịt đỏ và 0,7mg/ngày ở
nhóm dùng sữa nhưng nồng độ kẽm huyết thanh và kẽm ở tóc chưa tăng
tương ứng.
Trong nghiên cứu này, tình trạng dinh dưỡng của trẻ đã được cải thiện

µg/dL, nồng độ Hb là 12,3 ± 1,3 g/dl.
- Ở trẻ 25-48 tháng tuổi thấp còi có 27,7% thiếu máu và 70,6% thiếu
kẽm, trong đó có 19,5% phối hợp cả thiếu máu và thiếu kẽm. Nhóm 25-36
tháng có tỷ lệ thiếu máu cao hơn nhóm 37-48 tháng với p <0,05.
3. Hiệu quả can thiệp cải thiện khẩu phần lên tình trạng dinh dưỡng
trẻ em 25 - 48 tháng tuổi tại trường mầm non
- Kết quả can thiệp đã làm cho khẩu phần trẻ em 25-48 tháng nhóm
CT được cải thiện rõ rệt so với nhóm ĐC. Vi chất kẽm trong khẩu phần có
hiệu quả can thiệp cao nhất đạt 42,5% ở nhóm 37-48 tháng và 30,8% ở nhóm
25-36 tháng tuổi. Hiệu quả can thiệp về canxi là 25,7% nhóm 25-36 tháng
tuổi và 26,9% nhóm 37-48 tháng tuổi. Hiệu quả can thiệp về năng lượng,
protid và lipid, sắt đạt từ 10-20%.
- Hiệu quả can thiệp đối với SDD thể thấp còi tốt hơn đối với SDD thể
nhẹ cân (23,3% so với 12,4%), trong đó tốt hơn đối với cả tỷ lệ SDD mắc mới

24

và tỷ lệ SDD được phục hồi. Can thiệp ở nhóm 25-36 tháng đạt hiệu quả tốt
hơn so với nhóm 37-48 tháng ở cả 2 thể SDD.
- Can thiệp 12 tháng vừa có khả năng phục hồi vừa có khả năng dự
phòng được SDD thể thấp còi: Tỷ lệ SDD mắc mới thể thấp còi ở nhóm ĐC
là 5,0% cao hơn so với nhóm CT (3,0%). Tỷ lệ phục hồi SDD thấp còi ở
nhóm ĐC là 7,4% thấp hơn so với nhóm CT là 13,4% (p < 0,05).
- Kẽm huyết thanh nhóm CT tăng 14,7 µg/dL còn nhóm ĐC chỉ tăng
7,6 µg/dL (p<0,001). Tỷ lệ thiếu kẽm ở nhóm CT giảm 42,7% nhưng ở nhóm
ĐC chỉ đạt 23,5%. HQCT đối với tình trạng thiếu kẽm đạt 25,6%
- Mức độ giảm thiếu máu ở nhóm ĐC là 6,8% và ở nhóm CT là
16,3% (p < 0,05). HQCT đối với tình trạng thiếu máu đạt 33,3%
- Mức độ tăng IGF-1 trung bình sau can thiệp của nhóm CT là
24,3ng/dl trong khi nhóm ĐC (-12,7%); sự khác biệt với p<0,01.


chuyên ngành: Y tế công cộng
M số: 62.72.03.01
Tóm tắt luận án tiến sỹ
Thái Bình - 2014


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status