BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ 2 TẠI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA: TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGHÀNH: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUỐC TẾ
ĐỐI VỚI NƯỚC CHUYỂN GIAO.
Nhóm 20:
1) Trần Thanh Hải 180
2) Phạm Tấn Phong 197
3) Phạm Văn Thái 208
4) Nguyễn Phước Toàn 220
5) Đinh duy Toàn 221
6) Nguyễn Đình Tuấn 224
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2009
I-GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Một đặc điểm nổi bật của thế giới ngày nay là sự phân chia giàu nghèo ngày
càng lớn giữa các nước phát triển và đang phát triển. Một số nước đang phát triển
ở Châu Á, đặc biệt là tại các nước Đông Nam Á đã vươn lên một cách mạn mẽ và
đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng, giảm khoảng cách giàu nghèo trong khuôn
khổ của phát triển bền vững bằng con đường công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất
nước. Trong đó, công nghệ đóng vai trò cốt lõi của mọi quá trình, là chìa khóa cho
sự thành công trong quá trình phát triển kinh tế. Trong xã hội hiện đại, vai trò của
công nghệ ngày càng tăng lên. Những tiến bộ như vũ bão của khoa học - công
nghệ trong hai thập kỉ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học, công nghệ nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy và chiến
lược của nhiều nước. Ngày nay không một ai còn có thể hoài nghi về vai trò của
công nghệ trong phát triển kinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia. Trong xu thế toàn
cầu hóa kinh tế hiện nay vấn đề chuyển giao công nghệ quốc tế là một hiện tượng
tất yếu và rất đáng quan tâm. Tuy nhiên chuyển giao công nghệ quốc tế không chỉ
1.2. Phân loại công nghệ
Do có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm công nghệ nên cũng có nhiếu
cách phân loại công nghệ khác nhau. Vì vậy để thuận tiện cho việc quản lý, người
ta phân thành 4 loại sau:
Thứ nhất là các bí quyết kỹ thuật, phương án công nghệ, quy trình công nghệ,
tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kỹ thuật. Có thể lấy ví dụ như công thức sản xuất
nước hoa cK, tài liệu thiết kế kỹ thuật một chiếc xe Honda,…
Thứ hai là các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hóa (theo điều 4, chương I, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp 28/1/1989). Một vài ví dụ như là: sáng chế “máy bơm nước đạp chân” của
ông Nguyễn Tất Hải ở Nghệ An, kiểu dáng Coca Cola, …
Thứ ba, các giải pháp nói trên có thể bao gồm máy móc, thiết bị có hàm chứa
nội dung công nghệ. Từ ví dụ ở trên ta có thể phát triển thêm: máy tách hương liệu
trong cách thức sản xuất nước hoa,…
Cuối cùng là các dịch vụ hỗ trợ và tư vấn. Cũng giống như hàng hóa, công
nghệ cũng có công nghệ hữu hình và công nghệ vô hình. Công nghệ vô hình trong
dịch vụ và tư vấn có thể kể đến: công nghệ mã hóa kỹ thuật số trong dịch vụ thuê
bao của hãng Napster,
Ngoài ra, trong cùng một nghành công nghiệp, người ta còn sử dụng khái niệm
“công nghệ sản phẩm” (thiết kế như thế nào: biểu hiện các khả năng áp dụng các
tri thức mới, sang tạo ra các sản phẩm có đặc tính mới) để phân biệt với “công
nghệ quá trình” (sản xuất như thế nào: biểu hiện bằng khả năng chế tạo sản phẩm
một cách kinh tế bằng cách tăng sản lượng, hạ giá thành ). Ví dụ: Mỹ là quốc gia
đứng đầu trong công nghệ sản phẩm nhưng trong một thời gian dài đã thua Nhật
Bản về công nghệ quá trình. Do chưa đủ tiềm lực R&D và hiểu rất rõ rằng công
nghệ sản phẩm dễ bị bắt chước và mất bản quyền, nên trong một thời gian dài (cho
đế đầu những năm 1980) người Nhật đã tập trung vào công nghệ quá trình lien
quan đến việc tổ chức sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp gắn liền với các quan
niệm, nguyên tắc đặc thù về quản lí của người Nhật khó bị bắt chước thừ đó giữ
được lợi thế cạnh tranh bền vững hơn.
hoặc không thiết bị kèm theo qua hình thức mua bán, cung cấp các đối tượng: bí
quyết kĩ thuật; phương án, qui trình công nghệ; tài liệu thiết kế sơ bộ và thiết kế kĩ
thuật; công thức bản vẽ, sơ đồ bảng biểu, … cũng được coi là chuyển giao công
nghệ. Chỉ khi mua bán hàng hóa mà không kèm theo sự chuyển giao các quyền sở
hữu công nghiệp khác thì không được công nhận.
Loại còn lại và về việc thực hiện các hỗ trợ và tư vấn. Bên giao hỗ trợ kỹ thuật,
lựa chọn công nghệ, hướng dẫn lắp đặt thiết bị, vận hành thử dây chuyền công
nghệ cho bên nhận. Bên giao tư vấn các nghiên cứu phân tích đánh giá về cơ hội
đầu tư, cơ hội tiền khả thi và khả thi các dự án đầu tư đổi mới công nghệ. Bên
nhận nhận được sự đào tạo huấn luyện nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và
quản lý của cán bộ quản lý kỹ thuật và công nhân. Hỗ trợ thực hiện dịch vụ về thu
nhập, xử lý và cung cấp thông tin về thị trường, công nghệ pháp lý, tài nguyên môi
trường của bên giao. Tất cả những điều trên đây đều là chuyển giao công nghệ.
Dựa vào quyền hạn của bên giao bên nhận và giá cả, người ta còn chia chuyển
giao công nghệ thành 3 hình thức:
Hình thức
Yếu tố
Chuyển giao giản
đơn
CGCN không độc
quyền
CGCN giữ độc
quyền
Người giao
Bán cho một hoặc
một số người trên
cùng địa phương.
Trao quyền cho
người mua giới hạn
trong phạm vi lãnh
1. Tác động tích cực của chuyển giao công nghệ đối với nước chuyển giao:
Trước hết, cần hiểu rằng, trong thị trường nền kinh tế thế giới, sự cạnh tranh
chủ yếu diễn ra giữa các công ty chứ không phải là sự cạnh tranh của các quốc gia.
Các công ty luôn muốn bành trướng thị trường từ quốc gia này sang quốc gia khác
nhằm nâng cao vị thế cũng như lợi nhuận của mình. Xuất phát từ sự chuyên môn
hóa và phân công lao đông trong sản xuất cũng như mong muốn nâng cao lợi thế
cạnh tranh của mình, buộc phải có quá trình chuyên giao công nghệ giữa các công
ty nắm giữ các kỹ thuật cao mà suy rông ra là sự chuyển giao công nghệ giữa các
quốc gia với nhau. Như vậy tác dụng đầu tiên của quá trình chuyển giao công nghệ
đối với nước chuyển giao là xuất phát từ lợi ích của các công ty của các quốc gia
này. Tác động này được xét dưới hai chiến lược sản xuất của các công ty, tập toàn
đa quốc gia:
+ Sản xuất tập trung: sản xuất tại một quốc gia, sau đó xuất khẩu sang các
quốc gia khác. Do tính quy mô của dự án sản xuất quá lớn, đồng thời quá trình
R&D phải đi kèm với quá trình sản xuất mới đem lại hiểu quả cao cho nên các bí
quyết độc đáo để sản xuất ra sản phẩm thường không phải la sản phẩm để chuyển
giao công nghệ. Trong trường hợp này các công ty vẫn phải chuyển giao công
nghệ cho các chi nhánh và cho khách hang ở các quốc gia khác trong công đoạn
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
5
lắp đặt, chảy thử, bảo hành, bảo trì hay sửa chữa nhằm giữ uy tín cho sản phẩm
của mình, đảm bảo cam kết với khách hàng cũng như hỗ trợ tiếp thị. Điển hình
cho loại chiến lược này này là Microsoft, Coca-cola hoặc các sản phẩm về công
nghiệp vũ trụ.
+ Sản xuất phân tán: đặt nhiều cơ sở sản xuất ở các vị trí gần nguồn tài
nghuyên, nguyên nhiên liệu hoặc là gang thị trường tiêu thụ hoặc chia quá trình
sản xuất ra một sản phẩm thành nhiều công đoạn ở các nước khác nhau nhằm nâng
cao được lợi thế trong cạnh về các mặt sau:
• Tận dụng được nguồn nhân công rẻ ở các nước đang phát triển.
• Giảm được chi phí đáng kể chi phí vận tải, tồn kho, cung ứng nghuyên
Pháp 191 496 426
Italia 71
Nhật 185
( Đơn vị: triệu USD)
- Thu nhập từ hoạt động mua bán licence của Colombia cũng khá cao ( có thể
tham khảo biểu đồ ở phần phụ lục trang
- Bằng những ràng buộc ký kết hợp đồng licence (CGCN), hoặc thanh toán
bằng trái phiếu, cổ phần của công ty mua, bên chuyển nhượng kỹ thuật, công nghệ
sẽ từng bước thiết lập sự kiểm tra của mình đối với các công ty, cũng như quốc gia
nhận chuyển giao công nghệ. Ngoài ra, khi thực hiện quá trình chuyển giao công
nghệ, bên chuyển giao sẽ có một số ưu đãi nhất định trong cam kết với nước
chuyển giao:
+ Bắt buộc bên mua côngn ghệ phải mua kèm một số công nghệ khác có
liên quan (Tie-ins). Điều này nghĩa là, để có thể vận hành được máy móc thiết bị
theo công nghệ đã được chuyển giao, bên mua công nghệ bắt buộc mua máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện… của bên bán licence hoặc là
từ các nguồn khác do bên chuyển giao chỉ định, trong khi người mua công nghệ có
thể tìm được nguồn hàng rẻ hơn. Như thế nghĩa là, bên chuyển giao đã kiếm them
được một phần thu nhập ngoài phần thu nhập chính từ hoạt động chuyển giao công
nghệ. Khoản thu nhập còn dược tăng lên ở chỗ bên nhận công nghệ còn phải trả
phí trong các dịch vụ bảo hành, sửa chửa, kiểm định chất lượng, tiếp thị cũng như
cung cấp thông tin.
+ Bắt buộc bên mua công nghệ không được mua của người khác (Tie-
outs). Một khi đã mua từ một nguồn thì bên mua công nghệ bị rang buộc chỉ sử
dụng công nghệ đó, không được phép ( hoặc được phép nhưng thực chất là không
thể) mua một công nghệ tương tụ hoặc bổ sung từ nguồn khác. Vô hình chung,
bên chuyển giao công nghệ đã tạo được một sự kiểm soát trong lĩnh vực công
nghệ đó đối với nước chuyển giao.
+ Bắt buộc người mua phải cung cấp miễn phí mọi thông tin, mọi ý tưởng
tìm hiểu những rủi ro đối với bên chuyển giao trong hoạt động chuyển giao công
nghệ.
2.1. Tạo ra đối thủ cạnh tranh cho chính mình (hiệu ứng Bumerang) :
Chuyển giao công nghệ giúp nâng cao năng lực công nghệ cho người mua
trong cùng 1 ngành công nghiệp với người bán. Rõ ràng người bán càng hoàn
thành tốt cam kết chuyển giao công nghệ với người mua bao nhiêu thì càng làm
tăng thêm khả năng cạnh tranh của người mua với chính mình bấy nhiêu. (Mặc dù
theo Porter, có 2 loại đối thủ cạnh tranh: đối thủ “tốt” – good competitor, và đối
thủ “xấu” – bad competitor. Tạo ra đối thủ tốt sẽ có lợi cho người bán công nghệ
vì có động lực để vươn lên, cùng nhau khuếch trương sản phẩm, có “sân sau” để
thải công nghệ lạc hậu khi cần thiết…chỉ có điều đáng tiếc là phân biệt giữa các
đối thủ tốt và các đối thủ xấu chẳng bao giờ là rõ ràng và càng không phải là bất
biến! ).
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
8
Tạo ra đối thủ cạnh tranh cho chính mình là “bài học” đắt giá cho nhiều công
ty của Nhật và Mỹ khi chuyển giao công nghệ cho Hàn Quốc, Đài Loan trong lĩnh
vực điện tử. Các công ty SamSung, Daewoo, Acer… sau khi nhận được công nghệ
(dù chưa phải là tiên tiến nhất) đã quay trở lại cạnh tranh với “chính quốc” trên thị
trường hàng điện tử dân dụng bằng cách đưa ra những sản phẩm có giá hạ hơn mà
chất lượng không thua kém là bao.
Tập đoàn điện tử SamSung là một ví dụ điển hình của các trường hợp kiểu này.
+ Theo những số liệu thống kê gần nhất thì hãng Samsung của Hàn Quốc đã
vượt lên trên Motorola tại thị trường Mỹ về thiết bị điện tử cầm tay quý 3 năm
2008.
Biểu đồ về thị phần thiết bị điện tử cầm tay ở Mỹ:
+ Samsung cũng đã vượt Sony và đang giãn dần khoảng cách với Sony trong
cuộc cạnh tranh giành vị trí số 1 trên thị trường ti-vi kỹ thuật số Mỹ. Samsung
chiếm khoảng 26,7% thị phần TV kỹ thuật số Mỹ trong 11 tháng đầu năm 2008,
tiếp theo là Sony (14,8%), Panasonic (7,2%), Toshiba (6,8%) và LG Electronics
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
10
sánh được việc bị mất thị trường. Hơn nữa, các công ty nhận công nghệ do làm ăn
có lãi, có tiềm lực và tài chính đã kịp phát triển năng lực R&D của chính mình
(thu hút nhân tài, mua thiết bị thí nghiệm hiện đại, mua patent chứ không mua
license công nghệ…), có thể sáng tạo ra công nghệ mới và tích cực cạnh tranh trên
thị trường hàng công nghệ cao.
Điều đáng nói là, các nước mới bước vào quá trình công nghiệp hóa mong
muốn lặp lại thành công của những “con rồng” Châu Á sẽ gặp rất nhiều khó khăn,
là vì:
• Các công ty của các nước phát triển ngày càng trở nên thận trọng hơn trong
khi phải bộc lộ bí quyết công nghệ cao cấp của mình;
• Khoảng cách về công nghệ ngày nay đã trở nên quá rộng so với những năm
60-70, chiến lược đi lên từng bước mà các nước đã làm là “nhập khẩu, cải tiến, bắt
kịp” trong nhiều trường hợp không còn thích hợp nữa.
Cách khả dĩ là “nhảy cóc công nghệ - leapfrogging”, liên tục chuyển từ công
nghệ này sang công nghệ khác cao hơn, đi thẳng vào những công nghệ tiên tiến
nhất. Một trong những giải pháp hữu hiệu để có thể nâng cao năng lực R&D- nhân
tố quyết định sự thành bại của sách lược “đi tắt đón đầu”, là phải chú trọng phát
triển nguồn lực con người, coi đó là “yếu tố hàm chứa công nghệ” quan trọng bậc
nhất đối với các nước đang phát triển- những công nghệ “thâm dụng trí thức”
trong thời đại hiện nay.
Cũng cần lưu ý rằng bản thân các nước đang phát triển cũng có những công
nghệ truyền thống, đặc thù cần bảo vệ và phát huy, do đó càng phải thận trọng khi
chuyển giao công nghệ cho người khác.
2.2. Một số rủi ro khác ở các nước đang phát triển đối với người chuyển
giao:
• Không nắm được thông tin đầy đủ về thị trường và về đối tác địa phương.
Từ đó dẫn đến việc dễ vướng mắc những sai lầm trong đầu tư như đầu tư vào
những nơi có môi trường kinh doanh không ổn định, độ rủi ro trong đầu tư cao.
tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ trong một số lĩnh vực nhất định mà
đặc biệt là các lĩnh vực nông nghiệp và năng lượng. Vì vậy trong mục này chúng
tôi sẽ xét về hai khía cạnh trong hoạt động chuyển giao công nghệ những năm gần
đây ở Việt Nam, đó là hoạt động tiếp nhận chuyển giao công nghệ vào Việt Nam
và hoạt động chuyển giao công nghệ ra nước ngoài.
1. Hoạt động tiếp nhận chuyển giao công nghệ của Việt Nam.
Trong khoảng hơn 20 năm qua kể từ khi Việt Nam bắt đầu tiến hành Đổi mới,
“mở cửa” nền kinh tế và đặc biệt là kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), hoạt động chuyển giao công nghệ nước ngoài
vào Việt Nam đã diễn ra hết sức sôi động và đa dạng theo đúng nghĩa của nó.
Nhìn chung, công nghệ nước ngoài chuyển giao vào Việt Nam chủ yếu theo 3
luồng chính: Chuyển giao công nghệ qua nhập cư của các chuyên gia, chuyển giao
công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chuyển giao công nghệ
theo các hợp đồng mua bán “thuần túy”.
1.1. Chuyển giao công nghệ qua nhập cư của các chuyên gia.
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
12
Đây là loại chuyển giao công nghệ vô hình hầu như không thông qua các hợp
đồng thương mại nên bên nhận không chịu những ràng buộc do bên giao hoặc do
chính phủ nước bên chuyển giao áp đặt. Bằng luồng chuyển giao này chúng ta có
khả năng nhận được những công nghệ cần thiết trong khoảng thời gian ngắn nhất
với giá rẻ mà chúng ta không thể nào đạt được bằng các luồng chuyển giao công
nghệ khác. Việt Nam là một nước có tiềm năng rất lớn trong luồng chuyển giao
công nghệ này. Theo thống kê, hiện nay ngoài Việt Nam có khoảng hơn 3 triệu
Việt kiều sinh sống trên hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có khoảng hơn
1,5 triệu người sống tại Hoa Kỳ, hơn 250.000 người sinh sống tại Pháp và 180.000
người sinh sống tại Úc…Đa số Việt kiều đã định cư ở nước ngoài và có nhiều
người đã trở thành các chuyên gia có trình độ khá cao. Tuy vậy hiện nay thực
trạng chuyển giao công nghệ trong luồng này lại không đáng kể so với tiềm năng
do nhiều lí do mà trước hết là cơ chế, chính sách chưa hợp lí, thiếu đồng bộ trong
như lâu dài của bên nhận chuyển giao công nghệ được đảm bảo tốt nhất. Trên thực
tế, luồng chuyển giao công nghệ này đã hình thành lâu ở Việt Nam kể từ khi Miền
Bắc được giải phóng cho đến năm 1987. Nói chung các trường hợp này hầu hết là
nhập kĩ thuật từ nước ngoài ( chủ yếu là Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Ấn Độ
và một số nước khác) với vốn sử dụng hầu hết là vốn viện trợ ( vốn vay ưu đãi
hoặc vốn viện trợ không hoàn lại). Tuy vậy do những nhận thức sai lầm trong
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
14
quan niệm của các cơ quan, đơn vị Nhà nước về vai trò của chuyển giao công
nghệ và phần mềm công nghệ mà tuyệt đại đa số các trường hợp chuyển giao công
nghệ này đều không phát huy hiệu quả.
Kể từ khi thực hiện Đổi mới và mở cửa, do yêu cầu bức xúc của việc nâng cao
hiệu quả đối với công nghệ của các doanh nghiệp trong nước thì quy mô của luồng
chuyển giao công nghệ này đã có những sự tăng trưởng khá tích cực (khoảng 6-
7% số hợp đồng chuyển giao công nghệ), tuy vậy vẫn còn rất khiêm tốn, chưa
tương xứng với tiềm năng thực sự nó.
2. Hoạt động chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài.
Do những lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ quốc tế cũng như nhằm chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực tham gia
vào hoạt động chuyển giao công nghệ ra nước ngoài. Hoạt động chuyển giao công
nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài chủ yếu theo hai luồng chính, đó là đầu tư trực
tiếp nước ngoài và chuyển giao theo hợp đồng mua bán công nghệ (chủ yếu là
trong lĩnh vực nông nghiệp).
2.1.Chuyển giao công nghệ ra nước ngoài theo đầu tư FDI
Công nghệ từ Việt Nam được chuyển giao sang nước ngoài cùng đầu tư trực
tiếp nước ngoài FDI của các doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực năng
lượng, sản xuất điện năng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, trong đó đặc biệt là
lĩnh vực năng lượng, lĩnh vực trồng cây công nghiệp. Nền kinh tế kinh tế tiếp tục
tăng trưởng tạo điều kiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tài chính
cũng như kinh nghiệm để đầu tư ra nước ngoài. Mặt khác, các doanh nghiệp Việt
quốc gia châu Á (Philippines, Myanmar, Lào, Campuchia, Bangladesh…).
V- TỔNG KẾT
Chuyển giao công nghệ quốc tế luôn là một trong những trọng tâm của tất cả
các quốc gia không chỉ là các quốc gia đang phát triển mà còn của các quốc gia
phát triển. Với những luận điểm đã được đề cập và nghiên cứu như trên chúng tôi
nhận thấy rằng chuyển giao công nghệ quốc tế có những lợi ích to lớn, nhưng bên
cạnh đó nó cũng không ít những tác động tiêu cực cho các nước chuyển giao. Do
vậy các quốc gia chuyển giao bên cạnh việc tăng cường chuyển giao công nghệ ra
nước ngoài thì cũng cần phải định lượng đúng và kiểm tra chặt chẽ những rủi ro có
thể xảy ra để đảm bảo lợi ích hàng đầu cho mình.
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
16
$803
M
il
Cu
mulati
vely
Millions
FY84
FY85
FY86
FY87
FY88
FY89
FY90
FY91
FY92
FY93
3 Malaysia 7 812,472,740
4 Angiery 1 243,000,000
5 Campuchia 39 211,259,268
6 Madagascar 1 117,360,000
7 Irắc 1 100,000,000
8 Iran 1 82,070,000
9 Hoa Kì 40 80,114,754
10 Indonesia 3 46,180,000
11 Cuba 1 44,520,000
12 Cameroon 2 42,785,714
13 Singapore 21 29,796,564
14 Cu Ba 1 18,970,000
15 Hồng Kông 9 12,645,099
16 CHLB Đức 5 11,542,372
17 Trung Quốc 6 10,824,150
18 Thái Lan 4 10,405,200
19 Ba Lan 2 7,900,000
20 Cayman Islands 2 4,050,000
21 Angola 5 3,732,387
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
18
22 Tajikistan 2 3,465,272
23 Ukraina 4 3,357,286
24 Nhật Bản 8 2,803,050
25 Australia 7 2,137,200
26 Hàn Quốc 7 2,103,500
27 Cộng hòa Séc 2 1,935,900
28 Bỉ 2 1,052,000
29 Côt Điavoa 1 999,700
30 Nam Phi 1 950,000
1.Tác động tích cực của chuyển giao công nghệ đối với nước chuyển giao 4
2. Tác động tiêu cực của chuyển giao công nghệ đối với nước chuyển giao 7
2.1 Tạo ra đối thủ cạnh tranh cho chính mình (hiệu ứng Bumerang) 7
2.2 Một số rủi ro khác ở các nước đang phát triển đối với người chuyển giao 7
IV- Tình hình chuyển giao công nghệ ở Việt Nam trong những năm gần đây 10
1. Hoạt động tiếp nhận chuyển giao công nghệ của Việt Nam 11
1.1. Chuyển giao công nghệ qua nhập cư của các chuyên gia 11
1.2. Chuyển giao công nghệ thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 11
1.3. Chuyển giao công nghệ theo các hợp đồng mua bán “thuần túy” 12
2. Hoạt động chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài 13
1.4. Chuyển giao công nghệ ra nước ngoài theo đầu tư FDI 13
1.5. Chuyển giao công nghệ ra nước ngoài theo hợp đồng mua bán chuyển giao công nghệ 14
V-Tổng kết 14
Phụ Lục 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Giáo trình chuyển giao công nghệ, Đại học Ngoại thương, 1998.
2) Quan hệ Kinh tế Quốc tế Lí thuyết và Thực tiễn, Nhà Xuất bản Hà Nội, 1997.
3) Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 ngày 29/11/2006
4) Website chính thức của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: www.chinhphu.vn.
5) Website của Bộ Ngoại giao: http://www.mofa.gov.vn.
6) Website của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: http://fia.mpi.gov.vn.
7) Báo điện tử Vietnamnet: www.vietnamnet.vn.
8) Báo điện tử Sài gòn Giải phóng: www.sggp.org.vn.
9) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: www.vi.wikipedia.org.
10) Báo điện tử Dân trí: www.dantri.com.vn
11) Báo Điện tử - Thời báo Kinh tế Việt Nam: www. vneconomy .com.vn
12) Website Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kì: www.vietnamembassy.us
Và một số tài liệu và website khác.
Tiểu luận Quan hệ kinh tế quốc tế
21