Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngô nếp tại thừa thiên huế trong vụ đông xuân 2007 2008 - Pdf 22

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề:
Cây ngô (Zeamays SL) là một trong những cây trồng mà tính đa dạng
và khả năng thích nghi có lẽ không có cây trồng nào sánh kịp. Với năng suất
cao và giá trị kinh tế lớn, ngô đã trở thành loại cây trồng được người nông dân
đặc biệt quan tâm.
Ngô là một trong ba loại cây ngũ cốc chính, đứng thứ nhất về năng suất,
thứ hai về sản lượng, thứ ba về diện tích. Nhiều nước nhiều vùng trên thế giới
dùng cây ngô làm cây lương thực chính. Toàn thế giới dùng 21% sản lượng
ngô làm lương thực cho người, các nước ở Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi sử
dụng 85%, Tây Trung Phi 80%, Bắc Phi 42%, Tây Á 27%, Nam Á 75%,
Đông Nam Á và Thái Bình Dương 39%, Đông Á 30%, Trung Mỹ và Caribe
61%, Nam Mỹ 12% .
Trên thế giới, ngô là cây trồng đứng vị trí thức ba chỉ sau lúa mì và lúa
nước về diện tích, đứng thứ hai về sản lượng và đứng thứ nhất về năng suất.
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Hàm lượng dinh
dưỡng của hạt ngô nhìn chung cao hơn so với hạt của các loại ngũ cốt khác.
Tinh bột ngô chiếm 68% trọng lượng hạt, thấp hơn so với hạt lúa mì 7%, gần
bằng gạo và cao hơn hạt yến mạch 8%, prôtein cũng tương đối khác, cao hơn
gạo 3% và thấp hơn lúa mì 5%. Hạt ngô giàu lipit cao hơn gạo 8%. Vì vậy
ngô là nguồn lương thực quan trọng, đặc biệt nó cung cấp bữa ăn hàng ngày
cho người dân ở nông thôn và miền núi .
Ngô là cây ngũ cốc có giá trị lớn bởi nó rất đa dạng và là nguồn cung
cấp dinh dưỡng cần thiết, ngô nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới. Tuỳ
vào phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… mà các nước trồng ngô làm
lương thực cho con người. Ở các nước khác nhau, sản lượng ngô dùng làm
lương thực cho người cũng khác nhau. Ví dụ như châu Mỹ Latinh, bánh ngô
là khẩu phần cơ bản của họ trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, một số nước
Bồ Đào Nha, Venezuala, Ấn Độ, Mexicô, người dân sử dụng ngô làm thức ăn
chính. Vì vậy, trên thế giới ngô vẫn là cây lương thực rất quan trọng. Ngoài ra

Đông Xuân 2007-2008".
1.2.Tầm quan trọng và giá trị kinh tế của cây ngô
1.2.1.Tầm quan trọng :
Cây ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Trên
thế giới, ngô đứng thứ ba về diện tích, thứ hai về sản lượng và thứ nhất về
năng suất. Theo số liệu của CIMMYT tronh giai đoạn 1990-1992 trên thế giới
gieo trồng 129.804.000 ha ngô và cho năng suất bình quân là 3,8 tấn/ha, cho
sản lượng gần 500 triệu tấn.Ngô nuôi sống gần 1/3 dân số thế giới.
Ở Việt Nam cây ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa[2].
Trong ngô có đầy đủ các chất dinh dưỡng cho người và gia súc nên được sử
dụng rộng rãi.
Giá trị sử dụng rộng rãi của cây ngô được chứng minh bằng 670 mặt
hàng khác nhau của các ngành lương thực ,công nghiệp thực phẩm,công
nghiệp dược và công nghiệp nhẹ.
1.2.2.Giá trị kinh tế của cây ngô:
Ngô có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Hàm lượng dinh dưỡng
trong ngô rất phong phú, hơn hẳn lúa mì và gạo nên ngô làm lương thực cho
người. Tất cả các nước trồng ngô nói chung đều ăn ngô ở mức độ khác nhau,
các nước ở Tây Trung Phi dụng 80% sản lượng ngô làm lương thực cho
người, Bắc Phi 42%, Đông Nam Á và Thái Bình Dương 39%, Nam Á75%,
Tây Á 27%, Nam Mỹ 12%, Đông Âu và Liên Xô củ 4%, nếu như ở Châu Âu
khẩu phần ăn là bánh mỳ, khoai tây, sữa,Châu Á là cơm(gạo), cá, rau xanh,
thì Châu Mỹ La Tinh là bánh ngô đậu đỗ và ớt.
Ngô còn là cây thức ăn gia súc rất quan trọng hiện nay. Hầu như 70%
chất tinh trong thức ăn tổng hợp là từ ngô, ngoài việc cung cấp chất tinh, cây
ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc, đặt biệt là bò
sữa.Ở Liên Xô (củ) khoảng 20 triệu ha ngô, trong đó chỉ có 3 triệu ha trồng để
lấy hạt, diện tích còn lại được trồng để làm thức ăn ủ chua.
Thực tiễn phát triển chăn nuôi đã cho thấy hiệu quả cao của ngô: thông
thường để sản xuất 1kg sữa bò cần 5kg thức ăn ngô ủ xanh, 1kg thịt bò cần

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
2.1 Nguồn gốc của cây ngô:
- Vùng và thời điểm phát sinh cây ngô:
Ngày nay cây ngô được trồng ở tất cả các châu lục, thích nghi với tất cả
các loại hình sinh thái từ ôn đới, cận nhiệt đới đến nhiệt đới cao và nhiệt đới
thấp, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến từ 38
o
N lên gần 58
o
B, từ độ cao 1 – 2 m đến
4000 m so với mặt nước biển.
Nhưng vùng phát sinh của cây ngô lại có nhiều quan điểm. Qua quá
trình nghiên cứu lâu dài, quan điểm cho rằng ngô xuất hiện ở Đông Nam
Châu Á đã bị bác bỏ (Aderson – 1945).
Nếu lịch sử phát triển của các nước Đông Nam Á gắn liền với nền văn
minh lúa nước thì đối với các bộ tộc da đỏ châu Mỹ lịch sử phát triển của họ
là nền văn minh cây. Họ coi ngô không chỉ là nguồn lương thực bảo tồn sự
sống mà còn là văn hóa, là niềm tin, là tín ngưỡng, là thần thánh, là chúa trời
bảo hộ cho cuộc sống an bình của họ. Vì vậy quá trình thuần hóa và lan
truyền cây ngô ở châu Mỹ là hoàn toàn thuộc về các bộ tộc da đỏ cổ đại.
Theo Vavilov (1926) đã cho rằng Mêxicô là trung tâm thứ nhất (trung
tâm phát sinh) cách đây khoảng 5000 năm, vùng Andet (Peru) là trung tâm
thứ 2, cách đây khoảng 3000 năm, nơi mà cây ngô đã trải qua quá trình tiến
hóa nhanh chóng [6]. Ngày nay, các nhà khoa học trên thế giới hầu như đã
công nhận và thống nhất Mêxicô là trung tâm phát sinh cây ngô, thậm chí
người ta còn cho rằng cái nôi đầu tiên là thung lũng Tehuacan – nằm ở bang
này là các di tích về cây ngô được tìm thấy ở đây là cổ nhất và biểu hiện
chuổi tiến hóa rõ rệt nhất.
Người ta đã tìm thấy hóa thạch phấn ngô, Teosinte, Tripsaceem trong
khi khai quật ở Bellas Atfes – Thành phố Mêxicô. Mẫu phấn ngô cổ nhất

hoặc nhiều đột biến xảy ra với cây Teosinte đã làm thay đổi một vài cấu trúc
mà tạo nên cây ngô nguyên thủy. Thực tế có rất nhiều điểm tương đồng giữa
ngô và Teosinte về hình thái, tế bào, di truyền của chúng có thể lai với nhau
cho con lai hữu hiệu. Gần Beodle (1978), Kato (1988) phân tích sự tương
đồng về hình thái, tế bào đặc biệt là các phức hợp nốt ở NST đã khẳng định
ngô bắt nguồn từ Teosinte một năm ở Mexico.
2.2. Vai trò của cây ngô:
Ngô là cây quang hợp theo chu trình C4, không có hô hấp sáng, có
điểm bù CO
2
rất thấp, do đó có cường độ quang hợp cao, khác với loài cây
kiểu C3 có hiệu quả sử dụng ánh sáng là 3 – 4% thì cây kiểu C4 là 5 – 6%. Do
đó trong suốt thời gian sinhh trưởng ngô tích lũy một khối lượng chất hữu cơ
nhiều hơn nên có sức sinh trưởng mạnh và cho sinh khối lớn hơn cây quang
hợp theo chu trình C3.
Vai trò đó thể hiện qua các mặt sau:
- Ngô làm lương thực cho người: toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng
ngô làm lương thực cho người (Tây Trung Phi 80%, Bắc Phi 42%, Đông Nam
Á và Thái Bình Dương 39% ) Nếu ở Châu Âu khẩu phần ăn cơ bản là bánh
mì, khoai tây, sữa là bánh ngô, đậu đỗ và ớt. Vì vậy, nên phạm vi thế giới mà
phong phú các chất dinh dưỡng hơn lúa mì và gạo.
Bảng1: Thành phần hóa học của hạt ngô so với gạo phân tích 100g
Thành phần hóa học Gạo trắng Ngô vàng
Tinh bột (gr) 65,0 68,2
Chất đạm (gr) 8,0 9,6
Chất béo (gr) 2,5 5,2
Sinh tố A (mg) 0,0 0,03
Sinh tố B1 (mg) 0,2 0,3
Sinh tố B2 (mg) 0,0 0,1
Sinh tố C (mg) 0,0 1.7

1995 đạt 517,112 triệu tấn, năm 1997 đạt 573,452 triệu tấn, năm 1998-1999
đạt 594 triệu tấn, năm 1999- 2000 đạt 599,406 triệu tấn và đến năm 2003 đạt
637,4 triệu tấn tăng so với năm 2002(603,189 triệu tấn) (Nguồn Grain WM và
T, March 2003).
Các nước sản xuất ngô chủ yếu với sản lượng năm 2004(triệu tấn) EU là
53,2, Trung Quốc là 130,0, Brazin 42,0 và Thái Lan 4,4(theo thống kê về sản
lượng của ủy ban ngũ cốc quốc tế(IGC)-Vinanet).
Bảng 2.1:Tình hình sản xuất ngô thế giới và một số nước năm 2003
Nước Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
Thế giới 142,33 3,41 637,4
Mỹ 28,79 8,92 256,9
Trung Quốc 23,52 4,85 114,2
Brazin 12,94 3,70 47,8
Mêhicô 7,78 2,53 19,7
Achentina 2,32 6,47 15,0
Ấn Độ 7,00 2,11 14,8
Pháp 1,67 7,14 11,9
Nam Phi 3,35 2,90 9,7
Tây Ban Nha 0,47 9,11 4,3
Thái Lan 1,15 3,91 4,5
Lào 0,048 2,33 0,12
Mianma 0,30 2,50 0,75
Inđônêxia 3,36 3,25 10,91
(Nguồn: FAO,2003)
Sản lượng ngô thế giới tăng nhanh trong những năm qua một phần là do

nhiều vùng. Từ 1985-1991 năng suất ngô nước ta năm trong khoảng 1,47-1,56
tấn/ha, năng suất còn thấp hơn trung bình ở các nước đang phát triển khác(2,4
tấn/ha) do Việt Nam chỉ sử dụng chủ yếu các giống địa phương.
Thời gian qua, nước ta có những chuyển biến quan trọng trong nghề
trồng ngô đó là việc chuyển từ trồng các giống địa phương, giống thụ phấn tự
do cải tiến sang trồng ngô lai. Đồng thời áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ
thuật và những chính sách khuyến nông. Cây ngô đã có những bước lớn về
diện tích và năng suất.
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1992-2005
Năm Diện tích
(1000ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(tấn)
1992 478,00 1,56 747,9
1993 496,5 1,77 882,2
1994 534,7 2,14 1143,9
1995 556,8 2,13 1184,2
1996 615,2 2,50 1535,7
1997 662,9 2,49 1650,6
1998 649,7 2,48 1611,3
1999 691,8 2,55 1753,1
2000 730.2 2,75 2005,9
2001 729,5 2,96 2161,7
2002 810,4 3,08 2314,7
2003 909,8 3,22 2933,7
2004 990,4 3,49 3453,0
2005 995.0 3,51 3500,0
Sản lượng ngô ngày càng cao từ 587,1 tấn năm 1985 lên 1184,2 tấn năm

2002 200
3
2001 2002 2003
Thanh Hóa 44,3 49,5 54,1 31,6 31,4 33,5 140 155,6 181,4
Nghệ An 33,9 35,5 45 26,6 28,3 29,6 90,2 100,
5
133,1
Hà Tĩnh 2,4 2,4 4,7 25,4 25,0 23,4 6,1 6,0 11,0
Quảng Bình 3,3 3,2 3,1 32,4 35,3 37,1 10,7 11,3 11,5
Quảng Trị 1,9 2,1 2,3 15,3 15,7 15,7 2,9 3,3 3,6
T Thiên Huế 1,4 1,4 1,3 24,3 27,9 30,0 3,4 3,9 3,9
Đà Nẵng 0,4 0,8 0,8 60,0 57,5 60,0 2,4 4,6 4,8
Quảng Nam 9,7 9,8 10,6 36,7 35,3 37,3 35,6 34,6 39,5
Quảng Ngãi 8,4 8,4 8,5 35,8 38,9 42,1 30,1 32,7 35,8
Bình Định 3,7 5,9 6,8 35,9 35,4 39,0 13,3 20,9 26,5
(Nguồn: Niên giám thống kê nông nghiệp Việt Nam,2003)
Qua bảng số liệu trên cho thấy diện tích trồng ngô khu vực miền Trung
năm 2003 đạt 37,4 nghìn ha, năng suất bình quân 33,5ta/ha, ngô được trồng ở
độ cao 0-600m. Hai tỉnh , diện tích của Thanh Hóa là 54100 ha, đạt sản lượng
181400 tấn, Nghệ An là 45000 ha, đạt sản lượng 133100 tấn .
2.1.4Tình hình sản xuất ngô ở địa bàn nghiên cứu.
Thừa Thiên Huế có tổng diện tích nông nghiệp là 41302,6 ha. Riêng cây
trồng hàng năm là 38341,6 ha, trong đó cây ngô chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng diện tích cây trồng đó.
Tình hình sản xuất ngô những năm gần đây của khu vực được thể hiện ở
bảng sau
Bảng 2.4:Tình hình sản xuất ngô ở Thừa Thiên Huế từ năm 1995-
2006
Năm Diện
tích(1000ha)

cứu cây trồng của khoa Nông Học, trường ĐHNL Huế.
3.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm.
Thí nghiệm gồm 4 công thức, bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên
(RCB) với 3 lần nhắc lại:
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Bảo
vệ
Bảo vệ
Bảo
vệ
I a III a II a IV a
II b IV b III b I b
III c II c IV c I c
Bảo vệ
 Tổng số ô thí nghiệm là 18 ô
 Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 12 m
2
 Tổng diện tích thí nghiệm: 144 m
2
 Diện tích bảo vệ: 28 m
2
 Tổng diện tích khu thí nghiệm: 172 m
2
 Điều kiện thí nghiệm:
Địa điểm và đất thí nghiệm:
Thí nghiệm được tiến hành trên đất cát nội đồng tại trung tâm nghiên
cứu cây trồng Tứ Hạ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.4. Quy trình kĩ thuật trồng và chăm sóc.
- Làm đất: đất được cày sâu, bừa kỹ, nhặt sạch cỏ, đảm bảo độ tơi xốp,
thoáng khí.

+ Thời gian từ gieo cho đến xoắn ngọn (ngày): Có 50% số cây xoắn
ngọn.
+ Thời gian từ gieo cho đến trổ cờ (ngày): có 50% số cây có cờ ló ra
trên đầy ngọn cây.
+ Thời gian từ gieo cho đến tung phấn (ngày): có 50% số cây có trục cờ
tung phấn.
+ Thời gian từ gieo cho đến khi phun râu (ngày): có 50% số cây có râu
dài từ 2 – 3 cm
+ Thời gian từ gieo cho đến khi chín (ngày): có 75% số cây khô lá bi ở
ngoài.
2. Tổng số lá trên cây: dùng kéo cắt một nửa lá hoặc dùng sơn đánh dấu
lá thứ 5 (kể cả lá mầm) và lá thứ 10 để đếm số lá chính xác. Được xác định là
một lá khi lá có 1/3 phần lá ló ra ở đầu ngọn cây.
2. Các chỉ tiêu về hình thái:
- Chiều cao cây cuối cùng.
- Chiều cao đóng bắp.
- Diện tích lá đóng bắp.
- Đường kính lóng gốc.
- Diện tích lá/cây.
- Chỉ số diện tích lá
- Chiều dài bắp.
- Đường kính bắp
3. Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu.
- Sâu đục thân, sâu đục bắp
- Tỷ lệ gãy thân, tỷ lệ đỗ ngã.
4. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.
- Số bắp hữu hiệu/cây.
- Số hàng/bắp.
- Trọng lượng một bắp
- Số bắp/hàng.

o
TB
(
0
C)
T
o
Max
(
0
C)
T
o
Min
(
0
C)
A
o
TB
(%)
A
o
Min
(%)
1 19,6 32,5 15,6 118,2 68 92 45
2 15,8 24,3 12,5 84,6 1 94 72
3 21,8 35,8 13,5 80,2 122 90 57
4 25,9 36,3 21,2 74,1 169 87 56
5 26,5 37,5 23,5 45 75 82,5 42,5

tại các công thức thí nghiệm.
Giống
Mọc 3 lá 8 lá Xoắn
ngọn
Trổ
cờ
Tung
phấn
Phun
râu
Chín
Cồn hến 10 12 27 51 60 63 68 97
MX 4 10 12 25 49 58 63 67 89
TN 177 10 12 26 50 59 63 67 92
Nếp vàng 10 12 25 48 58 61 66 85

Qua số liệu bảng trên chúng tôi nhận thấy:
- Thời kỳ mọc mầm: được tính từ khi gieo đến khi ngô mọc mũi
chông. Sau khi gieo, hạt hút no nước. Bên trong hạt các phản ứng sinh lý, sinh
hóa diễn ra mạnh: các chất hưu cơ phức tạp được oxy hóa, đã tạo ra các chất
hữu cơ đơn giản và năng lượng kích thích hạt nẩy mầm. Qúa trình nẩy mầm
của hạt ngô phụ thuộc nhiều vào chất lượng hạt giống điều kiện ngoại cảnh,
độ thoáng của đất và độ sâu lâp hạt. Thí nghiệm của chúng tôi ở thời kỳ này
gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi, do đó tất cả các công thức mọc đều có
thời gian mọc mầm tương đối dài.
Qua theo dõi thời gian mọc mầm tại các giống thí nghiệm chúng tôi
nhận thấy, tất cả các giống đều có thời gian từ gieo đến mọc mầm là 10 ngày.
- Thời kỳ ba lá: Cây ngô chuyển từ sống nhờ chất dinh dưỡng trong hạt
sang sống tự dưỡng nhờ vào chất dinh dưỡng trong đất và quang hợp của lá.
Đây là thời kỳ ngô rât mẩn cảm với điều kiện ngoại cảnh. Sau mọc, nếu gặp

thức phát triển tốt.
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Thời gian hoàn thành ở giai đoạn này của
các giống là từ 48 -51 ngày. Trong đó giống ngô nếp cồn hến vẫn là giống có
thời gian dài nhất (51 ngày)
Thời điểm trổ cờ
Thời điểm này kết thúc quá trình hình thành tế bào sinh dục, chiều cao
cây phát triển gần tối đa trước lúc trổ cờ, bộ rễ ăn sâu và rộng, cây vươn
nhanh, lá phát triển mạnh đặc biệt là chiều cao cây. Các lóng phát triển dài ra
rất nhanh, chủ yếu các bộ phận trên ngọn. Khi trổ cờ bông cờ vươn rất nhanh
ra khỏi bẹ lá trên cùng. ở thời kỳ này, các yếu tố thời tiết có ảnh hưởng quan
trọng và quyết định đến quá trình ra hoa và chất lượng của hoa. Đây là thời
kỳ khủng hoảng dinh dưỡng nói chung cả đạm, lân, kali. Nhìn chung thời gian
hoàn thành giai đoạn này của các giống là từ 58-60 ngày.
Thời điểm tung phấn phun râu
Thời điểm này tuy ngắn nhưng có vai trò quyết định đến năng suất của
ngô. Nếu cây ngô tung phấn, phun râu trong điều kiện ngoại cảnh thuận lợi
thì quá trình thụ phấn, thụ tinh sẽ tiếna hành tốt và có ảnh hưởng đến số
hạt/hàng. Cây đạt chiều cao lớn nhất và cây ngô rất mẩn cảm với điều kiện
ngoại cảnh. Ở thời điểm này cơ quan sinh sản đực tiếp tục tung phấn, thụ
phấn, đặc trưng ở chổ sinh trưởng mạnh của chỉ nhị, lộ bao phấn ra ngoài,
sau đó bao phấn nở và phấn hoa chín tung ra. Hoa đực tàn và khô. Qúa trình
tung phấn thường xảy ra vào buổi sớm muộn và buổi chiều, nếu gặp hạn và
mưa lớn sẽ ảnh hưởng đến kết quả thụ phấn, thụ tinh rất rõ. Nếu nhiệt độ thấp
thời điểm này kéo dài và phun râu chậm, chênh lẹch thời gian giữa tung phấn
rộ và phun râu rộ. Thời gian từ tung phấn đến phun râu cang ngắn càng tốt,
đảm bảo cho quá trình thụ tinh xảy ra tốt, khả năng hình thành hạt cao.Qua thí
nghiệm trên đồng ruộng chúng tôi thấy thời gian giữa tung phấn rộ và phun
râu rộ chênh lệch từ 0-3 ngày.Như vậy, rất phù hợp với điều kiện thụ phấn,
thụ tinh của cây ngô.
Thời gian từ gieo đến tung phấn, phun râu của các giống là từ 61-63

Nếp vàng 36.6 79.3 123.6 163.2 167.5
Qua phân tích bảng số liệu trên chúng tôi nhận thấy:
- Giai đoạn 20 ngày sau trồng: chiều cao cây của các công thức thí
nghiệm đã đạt khá lớn, dao động từ 19.37 đến 36.6 và có sự chệnh lệch khá
lớn giữa các giống thí nghiệm. Cụ thể, giống có chiều cao lớn nhất là Nếp
vàng (đạt 36.6 cm), tiếp đến là giống Cồn hến (28.8 cm). Thấp nhất là giống
MX4 (đạt 19.37 cm).
- Giai đoạn 30 ngày sau trồng: đây là giai đoạn cây ngô phát triển bộ rễ
mạnh và chuyển hắn sang sinh sống nhờ nguồn dinh dưỡng trong đất. qua
theo dõi cho thấy cây ngô tại tất cả các công thức đều có tốc độ phát triển
chiều cao rất mạnh. Đến cuối giai đoạn này hầu hết các công thức đều có
chiều cao cây đạt từ 40.37 đến 79.3 cm. Số liệu còn cho thấy, có sự phân hoá
rất lớn về chiều cao cây giữa các giống thí nghiệm trong giai đoạn này. Cụ
thể, giống có chiều cao cây lớn nhất trong giai đoạn này là giống Nếp vàng
(đạt 79.3 cm). Thấp nhất là giống MX4
- Giai đoạn 40 ngày sau trồng: đây có thể được coi là giai đoạn có tốc
độ tăng trưởng chiều cao lớn nhất của cây ngô. Các giống đều tăng từ 40-50
cm về chiều cao cây, do đó tác động các biện pháp kỹ thuật và phân bón trong
giai đoạn này được xem là có hiệu quả nhất đới với cây ngô.
Qua nghiên cứu số liệu chúng tôi nhận thấy, các giống đều có chiều cao
cây đạt từ 116.36 đến 123.6 cm. trong đó giống có chiều cao lớn nhất vẫn là
giống Nếp vàng, tiếp đến là giống Cồn hến (đạt 119.1 cm), thấp nhất vẫn là
giống MX4. Đây cũng là giai đoạn mà tất cả các giống tham gia thí nghiệm có
sự tăng trưởng chiều cao cây rất nhanh.
- Giai đoạn 50 ngày sau trồng: Các giống vẫn tiếp tục tăng trưởng chiều
cao khá mạnh. ở cuối giai đoạn này hầu hết các giống đã gần đạt chiều cao
cây tối đa, dao động từ 154.5 đến 166.17 cm. Điều đặc biệt là giống MX4 có
tốc độ tăng trưởng chiều cao rất mạnh trong giai đoạn này, và trở thành giống
có chiều cao cây lớn nhất trong giai đoạn này.
- Giai đoạn 60 ngày sau trồng: Tất cả các giống vẫn tiếp tục tăng trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status