39
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH BỜ SÔNG HƯƠNG
THEO LÝ THUYẾT ỔN ĐỊNH MÁI DỐC
Trần Hữu Tuyên, Đỗ Quang Thiên
Trường Đại học Khoa học, Đại học
Huế 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Với diện tích lưu vực 2830 km
2
, chảy ngang qua một đô thị cổ có nhiều di
tích lịch sử - văn hoá, sông Hương đóng một vai trò rất quan trọng trong đời
sống, tâm tư và tình cảm của người dân. Dòng sông này đã góp phần tạo nên môi
trường cảnh quan xanh - sạch - đẹp cho Huế. Vì thế, đảm bảo độ ổn định của bờ
sông Hương hiện nay là nhiệm vụ vô cùng cấp bách và mang tính thời sự.
Như đã biết, vào những mùa mưa lũ hàng năm gần đây, nhất là vào mùa
mưa lũ cuối năm 1998, 1999 và 2000 trên đoạn sông thuộc hạ lưu sông Hương
quá trình sạt lở bờ đã xảy ra rất mạnh mẽ. Nguyên nhân gây sạt lở bờ rất đa dạng, 40
nhưng nhìn chung có 2 nguyên nhân chính dẫn đến sự mất ổn định bờ sông
Hương như sau:
- Sạt lở bờ về những mùa lũ do xâm thực ngang của dòng chảy. Qui mô và
cường độ của hiện tượng này phụ thuộc vào chế độ thuỷ văn - thuỷ lực, lưu
lượng bùn cát cũng như hình thái lòng dẫn và cấu trúc địa chất của bờ
- Trượt trọng lực xảy ra khi hình dạng của lòng sông thay đổi do xâm thực
sâu của dòng chảy (do khai thác cát hoặc xây dựng các công trình ven bờ). Quá
Trong thời đại ngày nay với những tiến bộ và phát triển thần kỳ của khoa
học kỹ thuật, việc kiểm toán ổn định đã được chương trình hóa trên máy tính với
phần mềm SLOPE/W của hãng GEO- SLOPE Internation Ltd (Canada). Chương
trình này được thiết lập để tính toán hệ số an toàn nhỏ nhất theo phương pháp của
Canada (GLE - General limit equilibrium). Nhìn chung, phần mềm này đã tổng
hợp khá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến sự phân tích ổn định mái dốc, đặc biệt
là việc xét đến các tính chất của đất trong điều kiện bảo hòa nước (hệ số bảo hòa
khác 1) đã làm tăng độ chính xác của kết quả tính tóan. Đây là chương trình tính
toán độ ổn định mái dốc thông dụng nhất hiện nay dựa theo lý thuyết phân mảnh
do Fellenius đề xuất vào đầu thế kỷ 19 và cho đến nay không ngừng được hoàn
thiện. Chúng được xem như là phương pháp số (Soil mechanic; T.Wu - Boston,
1966) rất có hiệu lực để tính toán ổn định mái dốc vì có thể xét đến tính không
đồng nhất của khối đất đá và áp lực nước lổ rỗng tại mọi điểm trong khối đất. 42
Theo lý thuyết phân mảnh, khối đất được phân chia thành các mảnh thẳng
đứng và đánh số thứ tự từ 1 đến n. Từ sơ đồ lực tổng quát trên hình 1, cho thấy
lực tác động lên một mảnh bất kỳ như sau:
- Tải trọng ngoài tác động trên đỉnh mảnh Qi
- Trọng lượng mảnh Wi
- Lực tương tác của mảnh bên trái và bên phải: Et, Ep.
- Lực tiếp tuyến bên trái và bên phải mảnh: Xt,Xp.
- Lực pháp tuyến Ni tác động trên đáy mảnh.
- Lực tiếp tuyến Si tác động trên mặt trượt.
43
Phương pháp này ra đời đầu tiên và có cách tính đơn giản nhất với các giả
thiết sau:
- Xem mặt trượt là cung tròn hình trụ có tâm O, bán kính R
- Bỏ qua các lực tương tác giữa các mảnh: Ei = 0, Xi=0.
- Điểm đặt N là trung điểm đáy mảnh.
Phương pháp Bishop:
- Xem mặt trượt là cung tròn hình trụ có tâm O, bán kính R.
- Bỏ qua thành phần thẳng đứng của lực tương tác Xi=0.
- Điểm đặt phản lực N là trung điểm đáy mảnh . 45
Phương pháp Janbu:
Hiện nay, đây là phương pháp hoàn thiện nhất của lý thuyết phân mảnh dựa
trên các giả thiết:
- Mặt trụ tròn tâm O, bán kính R.
- Các điểm đặt của các lực tương tác nằm trên một đường cong trong phạm
vị khối trượt được gọi là đường tương tác.
- Điểm đặt phản lực N là trung điểm của đáy mảnh.
Giải hệ phương trình cân
bằng trên với một mái dốc cụ thể,
ta sẽ có các đường trượt khác
nhau tương ứng là các hệ số ổn
định khác nhau. Hệ số ổn định
nhỏ nhất (K
min
) đặc trưng cho độ
ổn định chung của khối đất. Tuy
nhiên K
min
sạt lở bờ sông hệ thống sông miền Trung”. Trong đó gồm có:
- Số liệu đo đạc địa hình tại 23 mặt cắt ngang của sông Hương (Hình 2). 47
- Tài liệu về cấu trúc địa chất được thu thập ở các công trình lân cận các
mặt cắt tính toán.
- Tính chất cơ lý của các lớp đất được xác định trong điều kiện bảo hoà
nước.
3.2. Các giả thiết tính toán:
- Các mặt cắt được lựa chọn để tính toán độ ổn định thuộc các đoạn bờ có
nguy cơ xảy ra trượt cao.
- Thời điểm tính toán trùng với mùa mưa lũ của khu vực tương ứng với điều
kiện bất lợi nhất đối với sự ổn định bờ sông.
- Bỏ qua ảnh hưởng của áp lực thuỷ động của dòng ngầm cũng như dòng
chảy mặt.
- Phương pháp Janbu được lựa chọn để xác định hệ số ổn định nhỏ nhất
K
min
.
3.3. Kết quả tính toán
Hệ số ổn định mái dốc K
min
tại các mặt cắt lựa chọn tính toán bằng chương
trình SLOPE/W được thể hiện ở hình 3 và bảng 1. 48
Kh.l
khá lớn.
- Các kết quả tính toán
trên đã loại trừ ảnh hưởng của
áp lực thuỷ động của nước
ngầm và dòng chảy mặt. Nếu
các nhân tố trên tác động công
hưởng với nhau thì độ ổn định
của bờ sông Hương giảm đi rất
nhiều.
0.930
Khoang cach (m)
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 26 28 30 32 34 36 38 40 42 44
a
-5
-4
-3
-2
-1
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
BY SLOPE STABILITY THEORY
Tran Huu Tuyen, Do Quang Thien
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
The slope stability theory has occurred in 1920's. It is used to analyse
slope stabilization of: dam, road, and canal bank of. In this article, the author
has analysed the stability of Tuan - Bao Vinh section of Huong riverbank using
Slope/W software. The research involved 29 slopes and base on Hue universities
project documents to find minimal safety coefficients and stability of Huong river
bank.
- In this caculating - section, K
min
coefficient: 0.8-1.2. Bank of Huong River
occurred within the limit of equilibrium state and landslide process would
happen if the balanced factors are changed.
- The anthors suggest a reduction for sand exploitation, construction in
Bao Vinh, Tuan, Thien Mu section of Huong River . 53