i
MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục bảng, biểu vi
Lời cám ơn viii
Tóm tắt ix
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1. Lý do nghiên cứu đề tài 1
1.2. Giới thiệu và mô tả dịch vụ Driver - Hold - Guide 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 7
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
1.5. Sơ bộ phương pháp nghiên cứu 8
1.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
1.7. Kết cấu đề tài 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 10
2.1. Giới thiệu 10
2.2. Một vài khái niệm về du lịch 10
2.2.1. Khái niệm du lịch 10
2.2.2. Sản phẩm du lịch 11
2.2.2.1. Khái niệm sản phẩm du lịch 11
2.2.2.2. Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch 12
2.2.2.3. Những đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch 12
2.2.3. Thực hiện phân tích sản phẩm du lịch 13
2.2.3.1. Phân tích sản phẩm cốt lõi 13
2.2.3.2. Phân tích sản phẩm hỗ trợ 15
2.2.3.3. Phân tích sản phẩm bổ sung 17
ii
3.3.2. Đo lường mức độ tác động của nhân tố “an toàn” 37
3.3.3. Đo lường mức độ tác động của nhân tố “động lực” 38
3.3.4. Đo lường mức độ tác động của nhân tố “điều kiện thuận tiện” 38
3.4. Các giả thuyết nghiên cứu 39
3.5. Phương pháp phân tích dữ liệu 39
3.5.1. Phương pháp đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s alpha 39
3.5.2. Phương pháp phân tích nhân tố EFA 40
3.5.3. Phương pháp hồi quy đa biến 41
3.6. Tóm tắt 43
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 44
4.1. Giới thiệu 44
4.2. Thông tin về mẫu nghiên cứu 44
4.2.1. Giới tính 44
4.2.2. Độ tuổi 44
4.2.3. Trình độ học vấn 45
4.2.4. Thu nhập 46
4.2.5. Tình trạng công việc 46
4.2.6. Tình trạng hôn nhân 47
4.3. Kết quả thống kê về các hoạt động mà du khách sẽ tham gia và các loại phương
tiện dự định sử dụng khi đi du lịch ở Nha Trang 48
4.3.1. Các hoạt động du khách dự định sẽ tham gia 48
4.3.2. Các loại phương tiện du khách dự định sẽ sử dụng 49
4.3.3. Những nhu cầu khác du khách cần khi sử dụng dịch vụ 50
4.4. Kết quả thống kê mô tả về nhu cầu của du khách với dịch vụ DHG 50
4.5. Đánh giá độ tin cậy của thang đo 51
4.5.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo “đánh giá kết quả” 51
iv
4.5.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo “yếu tố an toàn” 53
4.5.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo “động lục sử dụng” 54
5.1.1. Du lịch có trách nhiệm là gì? 73
5.1.2. “Du lịch có trách nhiệm” ở Việt Nam 73
5.1.3. Lợi ích bước đầu đạt được từ “Du lịch có trách nhiệm” 74
5.2. Du lịch bằng xe máy (dịch vụ DHG) 74
5.2.1. Một vài thảo luận chung về dịch vụ DHG 74
5.2.2. Một vài kiến nghị đối với các đơn vị kinh doanh dịch vụ 75
5.3. Hạn chế của nghiên cứu và bước nghiên cứu tiếp theo 80
vi
DANH MỤC BẢNG - BIỂU - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mô tả dịch vụ Driver - Hold - Guide 4
Sơ đồ 2-1 : Mô hình hành vi của người mua 25
Sơ đồ 2-2 : Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi 25
Sơ đồ 2-3 : Mô hình quá trình quyết định của người mua 26
Sơ đồ 2-4. Mô hình TAM (Nguồn: Fred Davis, 1989) 28
Sơ đồ 2-5 : Mô hình TRA (Nguồn: Davis et al, 1989) 29
Sơ đồ 2-6 : Mô hình TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) 29
Sơ đồ 2-7 : Mô hình nghiên cứu đề nghị 31
Biểu đồ 4-1: Độ tuổi nhóm du khách 5
Biểu đồ 4-2: Trình độ học vấn 5
viii
LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tôi xin được dành lời cám ơn chân thành nhất đến cô PGS.TS.
Nguyễn Thị Kim Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn và hết lòng giúp đỡ tôi hoàn
thành đề tài lần này. Mặc dù rất bận rộn với công việc thường ngày của mình nhưng
Cô đã không ngừng ngại dành thời gian để chỉ bảo và quan tâm đến việc hoàn thành
bài luận của chúng tôi. Đây phải nói là một điều rất may mắn đối với tôi mà không
phải sinh viên nào cũng có được từ Thầy Cô hướng dẫn của mình.
Kết đến, tôi xin gửi lời cám ơn đến quý anh/chị Quyền, Sơn, Sâm ở cụm các
khách sạn 64 Trần Phú B, khách sạn Hoàng yến, nhà hàng Olivia (14B Trần Quang
Khải), quán kem Italy D&J, cùng các bạn bè đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc hoàn
thành đề tài.
Một lần nữa, tôi xin cám ơn quý Thầy Cô, cùng các anh/chị và bạn bè đã giúp đỡ
nhưng mang lại một số hàm ý thiết thực đối với các công ty du lịch, khách sạn khi
muốn đa dạng hóa sản phẩm du lịch của mình. Cụ thể là nghiên cứu giúp các công ty,
khách sạn xác định được những yếu tố nào tác động đến ý định sử dụng loại hình dịch
vụ này, đồng thời cũng đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này như thế
nào. Từ đó, các công ty du lịch, khách sạn có thể chọn lựa các điểm đến thích hợp,
hấp dẫn và độc đáo nhằm thu hút sự chú ý của du khách. Đồng thời có phương pháp
tiếp cận hợp lí sẽ tạo nên hiệu quả hơn trong việc thu hút du khách cho loại dịch vụ
này. Bên cạnh đó, các công ty cũng cần quan tâm nhiều đến chất lượng và uy tín
thông qua người thực hiện dịch vụ là tài xế, cộng với việc đảm bảo trách nhiệm của
công ty đối với du khách là rất cần thiết.
Cuối cùng, nghiên cứu này là cơ sở để sinh viên nghành du lịch mở rộng các
hướng nghiên cứu sau này, đi vào các nghiên cứu sâu hơn về sự tác động của các yếu
tố đến ý định sử dụng dịch mới không chỉ trong nghành du lịch mà cả các ngành khác
trong phạm vi ở thành phố Nha Trang nói riêng và Việt Nam nói chung.
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Lý do nghiên cứu đề tài
Việt Nam - một quốc gia tiềm năng du lịch với điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội thuận lợi, thích hợp để phát triển Du lịch thành một trong những
ngành kinh tế mũi nhọn.
Tính đến tháng 2/2010, Việt Nam có hơn 2.741 di tích, thắng cảnh được xếp
hạng di tích quốc gia, trong đó có 8 di sản được UNESCO công nhận là di sản thế
giới. Đồng thời, Việt Nam cũng đã được UNESCO công nhận 8 khu dự trữ sinh
quyển thế giới.
Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển trên thế giới với 125 bãi
tắm đẹp và là 1 trong 12 quốc gia có vịnh đẹp nhất thế giới (Hạ Long, Nha Trang).
Thực hiện chiến lược định hướng phát triển Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, vừa qua, Tổng cục Du lịch đã tiếp tục thực hiện Chương trình kích cầu du lịch
Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010
của tỉnh đã đề ra. Phấn đấu đến cuối năm 2010 thu hút 1,76 triệu lượt khách lưu trú,
doanh thu đạt trên 1.750 tỉ đồng và đến năm 2015 đạt 2,3 triệu lượt khách, trong đó
có 880.000 lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 3.000 tỉ đồng
Thực tiễn phát triển du lịch trong những năm qua cho thấy không thể phát triển
du lịch nếu chỉ trông chờ vào điều kiện tự nhiên và thế mạnh cảnh quan thiên nhiên.
Để du lịch trở thành ngành công nghiệp không khói, đòi hỏi cấp ủy, chính quyền có
những định hướng đúng đắn, sáng tạo làm chỗ dựa tin cậy cho doanh nghiệp đầu tư,
phát triển.
Theo khảo sát của Viện nghiên cứu xu hướng tương lai Kairos Future
International và Ducoral Vaccine tại Thụy Điển đã đưa ra một số dự báo khuynh
hướng du khách cho năm 2010 và những năm sắp tới: khuynh hướng 1: đi du lịch xa;
khuynh hướng 2: những trải nghiệm độc đáo; khuynh hướng 3: du lịch thân thiện với
môi trường; khuynh hướng 4: chăm sóc sức khỏe; khuynh hướng 5: cho cuộc sống
thêm phong phú.
Từ những nghiên cứu khảo sát khuynh hướng đi du lịch của du khách, những
người có trách nhiệm trong ngành du lịch nên quan tâm hơn đến những khuynh
hướng của du khách cũng như tìm hiểu họ thích gì, ghét gì vì muốn chiều lòng
“Thượng đế” thì cũng cần phải biết ý “Thượng đế”!. Từ đó, chúng ta có thể chủ động
trong việc thiết kế các sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn, đa dạng và phù hợp hơn với
sở thích của khách quốc tế cũng như khách nội địa. Tuy nhiên, theo ý kiến một
chuyên gia du lịch, không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước, việc đầu tư vào các sản
phẩm giải trí riêng lẻ như trung tâm thể thao, biểu diễn văn hóa, thậm chí cả sân golf
thường không có lời. Mà phải có các sản phẩm giải trí được tổ chức tốt, liên kết tốt
với các dịch vụ du lịch khác mới tạo được sức hấp dẫn lớn hơn cho ngành du lịch.
3
Điều tra thường niên của Hiệp hội Các đại lý lữ hành Anh (Association of
British Travel Agents - ABTA) cũng cho thấy nhu cầu đối với những điểm đến mạo
hiểm với những trải nghiệm khác biệt sẽ tăng trong năm tới.
4
tiện hơn trong việc khám phá các điểm đến đồng thời có thể dễ dàng hơn trong việc
đi lại, ăn uống, học hỏi và tìm hiểu văn hóa của con người Việt.
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ mô tả dịch vụ Driver - Hold - Guide
Mô tả dịch vụ Driver Hold Guide
Khách nước ngoài (gồm các cá nhân hoặc một đoàn nhỏ khoảng 10 người) có nhu
cầu khám phá các điểm du lịch tại địa phương bằng phương tiện xe gắn máy sẽ liên hệ
với DHG để được tư vấn hỗ trợ về điểm đến, giá cả, ăn uống, ngủ nghỉ Khách có thể
liên hệ trực tiếp, qua điện thoại hoặc đăng ký trực tuyến tại trang web của công ty.
Sau khi chọn tour, các tài xế kiêm hướng dẫn viên sẽ đưa khách đến các điểm
tham quan bằng xe gắn máy. Các tài xế được xem là người bạn đồng hành cùng du
khách khám phá địa phương. Khách có thể đến công ty hoặc được đưa đón tận nơi. Giá
cước được tính theo số km đã được quy ước trong bảng giá thông qua đồng hồ điện tử
gắn theo xe. Khách sẽ ăn uống và nghỉ ngơi tại nhà dân nếu có thêm nhu cầu. Với
những nhóm khách đoàn, DHG có thêm dịch vụ tổ chức trò chơi giải trí tăng thêm tính
hấp dẫn của tour. Khách cũng có thể tự sử dụng xe gắn máy thông qua sự hướng dẫn
của công ty. Điểm đến ban đầu là những điểm tham quan trong thành phố, và những
điểm ngoại thành. Tiến đến là các điểm đến của các tỉnh thành kế cận, và xa hơn nữa
là tổ chức các chuyến đi xuyên Việt.
Các bác tài được trang bị đầy đủ những vật dụng và được huấn luyện những kỹ
năng cần thiết cho suốt chuyến hành trình. Mỗi lái xe có một mã số riêng và được
phân công ở vị trí nhất định trong thành phố. Khi đón, trả khách họ đều phải liên lạc
ngoại thành.
- Tour xuyên tỉnh
5
Tình hình hoạt động của dịch vụ cho thuê xe
Thực tế cho thấy vẫn có nhiều mô hình xe ôm tập hợp lại với nhau thành tổ chức
để tổ chức, phân chia công việc, và quản lý. Hình thức này thường thấy tại các bến xe
hoặc chợ, hay ở một địa điểm nào đó thuận tiện, mát mẻ như nhóm xe ôm ở Đà Lạt
chuyên vận chuyển khách du lịch nước ngoài đi tham quan các tuyến điểm ở trong
thành phố cũng như đến các tuyến điểm của các tỉnh thành lân cận Nha Trang, Đắc
Lắc, Phan Thiết… có cả website www.dalat-easyrider.com.vn. Và hiện nay, loại hình
hoạt động này dần xuất hiện ở Nha Trang, điển hình là đội xe ôm VIP (easyrider, đặt
tại 2D đường biệt thự Nha Trang). Tuy nhiên, theo tìm hiểu của người viết dịch vụ
này tại Nha Trang có khá nhiều vấn đề bất cập cũng như khó quản lý trong hoạt động
của nó. Sự lẫn lộn trong các lái xe của văn phòng tour và những lái xe bên ngoài,
cách tính giá, cách tiếp cận khách để cung cấp dịch vụ đã và đang gây ra khá nhiều sự
phản cảm đối với khách du lịch khi sử dụng dịch vụ.
Bên cạnh đó, mô hình công ty taxi 2 bánh cũng đã sớm xuất hiện tại Hà nội như
công ty Havina Moto, công ty xe ôm đầu tiên tại Việt Nam được thành lập từ cách
đây 3 năm. Tuy nhiên, công ty này cũng không hoạt động nữa với lý do “khó quản lý
các bác lái xe ôm”. Hiện nay tại Hà Nội vẫn còn một công ty taxi 2 bánh đó là công
ty cổ phần Hiền Linh với mô hình dịch vụ xe máy chở khách có gắn đồng hồ tính tiền
Cokbi. Cuối tháng 7 năm 2007, Cokbi đã có mặt tại Ga Hà Nội nhưng sau hơn 1
tháng hợp tác, Cokbi đã chính thức rút khỏi địa điểm này.
Trong khi mô hình taxi 2 bánh gặp nhiều khó khăn ở phía Bắc, loại hình vận
chuyển này lại sống tốt ở phía Nam. Công ty TNHH Khánh Duy với mô hình Omoto
taxi đã gặt hái những thành công đáng kể. Hiện nay công ty tuyển chọn cộng tác viên là
sinh viên và cung cấp các dịch vụ chủ yếu là đưa đón học sinh, chuyển phát nhanh và
giao hàng. Ngoài ra công ty cũng khai thác dịch vụ quảng cáo trên tấm chắn gió. Có thể
đây là những yếu tố giúp cho Omoto Taxi có thể duy trì và phát triển kinh doanh.
Công ty Cổ phần
Cách thức kinh doanh Dịch vụ, thương mại
Nơi đăng ký Việt Nam
Thời gian thành lập 0000
Địa điểm kinh doanh
P202 Nhà 222D Ngõ 260 Đội Cấn - Ba Đình - Hà Nội
Bảng 1-2 : Thông tin về công ty Hiền Linh
Tên dịch vụ: Dịch vụ xe ôm taxi Cokbi
Nhà cung cấp: Công ty TNHH Hiền Linh
Địa chỉ: Số 7, ngách 3/40, ngõ 40, Thái Hà, Hà Nội
Điện thoại liên lạc: (84)04.2626364
Mã dịch vụ: SVA0004
Bảng 1-3. : Thông tin về công ty Khánh Duy
Tên dịch vụ: Dịch vụ xe ôm
Nhà cung cấp: Công ty TNHH Khánh Duy
Địa chỉ: Phường 21, cư xá phú lâm A; Phường 12, quận 6 TP.HCM
Điện thoại liên lạc: (08) 54.06.07.07
Mã số thuế: 0305003728
7
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
- Liệu khách nước ngoài có nhu cầu về dịch vụ DHG hay không?
- Và nhu cầu đó trong thực tế như thế nào (nhiều hay ít, có những nhu cầu nào khác
nếu sử dụng dịch vụ)
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ DHG của du khách?
Mục tiêu tổng quát
thông qua việc trả lời cảm nhận về dịch vụ dưới dạng mô phỏng. Bản câu hỏi một lần
nữa được điều chỉnh nếu có những sai sót trong quá trình điều tra thử.
Nghiên cứu chính thức
- Cách tiếp cận: Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Trên cơ sở tham
khảo các mô hình nghiên cứu tương tự, các giả thuyết được người nghiên cứu giả
định để thiết kế bản câu hỏi điều tra định lượng.
- Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp phỏng vấn, và sử dụng bản câu hỏi để thu thập
dữ liệu. Thu thập dữ liệu: Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp .
- Chọn mẫu: Mẫu điều tra được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện
với đối tượng là các khách du lịch nước ngoài đến thăm Nha Trang vì điều kiện
thực tế không thể chọn mẫu xác suất được. Cỡ mẫu dự kiến: 200.
- Phân tích dữ liệu: Xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS 17.0
- Tiến hành kiểm định thông qua các bước:
Thống kê mô tả mẫu.
Đánh giá sơ bộ thang đo và độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số Cronbach
Alpha.
Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis).
Phân tích hồi quy đa biến.
- Size mẫu cũng bị giới hạn vì những hạn chế sau:
Thời gian điều tra chính thức có hạn (khoảng 6 tuần).
Số lượng người tham gia: 1 (sinh viên thực hiện đề tài)
Kinh phí: tự túc
- Phương pháp nghiên cứu sẽ được trình bày kỹ hơn trong chương 3.
9
1.6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu là một trong những căn cứ hữu ích giúp các doanh nghiệp kinh
doanh du lịch nhìn nhận đánh giá để mở rộng loại hình dịch vụ Driver - Hold - Guide,
giúp đa dạng hóa loại hình dịch vụ phục vụ khách nước ngoài đến thăm Nha Trang.
Driver - Hold - Guide nếu được đưa vào kinh doanh sẽ tạo điều kiện thuận lợi
Đầu tiên du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người
rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh
để nghỉ mát, giải trí, hay chữa bệnh. Ngày nay, người ta đã thống nhất rằng về cơ bản,
tất cả các hoạt động di chuyển của con người ở trong hay ngoài nước trừ việc đi cư
trú chính trị, tìm việc và xâm lược, đều mang ý nghĩ du lịch.
Du lịch không chỉ tạo nên sự vận động của hàng triệu, triệu người từ nơi này
sang nơi khác, mà còn đẻ ra nhiều hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với nó. Như
vậy du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép.
Một mặt, nó mang ý nghĩa thông thường của từ: việc đi lại của con người với
mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ
khác như là hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do
chính nó tạo ra.
Du lịch không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay nhóm người
nào đó. Ngày nay nó mang tính phổ biến và tính nhận thức với mục tiêu không ngừng
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, củng cố hòa bình và hữu nghị
giữa các dân tộc.
11
Nội dung thứ hai của khái niệm du lịch là hệ quả của nội dung thứ nhất. Du lịch
là một hiện tượng kinh tế - xã hội thu hút hàng tỉ người trên thế giới. Bản chất kinh tế
của nó là ở chỗ sản xuất và cung cấp hàng hóa phục vụ việc thỏa mãn nhu cầu vật
chất, tinh thần của khách.
Trong một số tài liệu công bố gần đây nhất, có người quan niệm du lịch bao hàm
3 mặt nội dung, song thực chất không khác gì hai nội dung trên, bởi vì nội dung đầu
được tách ra làm đôi. Theo I.I Pirôgiơnic (1985), thuật ngữ du lịch chuyển tải 3 nội
dung cơ bản:
- Cách thức sử dụng thời gian rảnh rỗi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên
- Dạng chuyển cư đặc biệt
- Ngành kinh tế, một trong những ngành thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm
phục vụ các nhu cầu văn hóa - xã hội của nhân dân.
thao, và những cơ hội mua sắm độc đáo.
Bao gồm các điểm du lịch, các tuyến du lịch để thỏa mãn cho nhu cầu tham quan,
thưởng ngoạn của du khách, đó là những cảnh quan thiên nhiên đẹp nổi tiếng, các kỳ
quan, các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử mang đậm nét đặc sắc văn hóa
của các quốc gia, các vùng…
Sản phẩm hỗ trợ
Sản phẩm hỗ trợ là những dịch vụ và những sản phẩm đi kèm làm cho chuyến đi
được hào hứng, nhưng tự nó không đủ để đi du lịch.
Cơ sở du lịch bao gồm mạng lưới cơ sở lưu trú như khách sạn, làng du lịch để
phục vụ cho nhu cầu lưu trú của du khách, cửa hàng phục vụ ăn uống, cơ sở kỹ
thuật
phục vụ cho nhu cầu giải trí của du khách, hệ thống các phương tiện vận
chuyển
nhằm phục vụ cho việc đi lại của du khách.
Sản phẩm bổ sung
Sản phẩm bổ sung (cơ sở du lịch) là điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch.
Đây được xem là hạt nhân của sản phẩm du lịch bởi lẽ việc thực hiện nhu cầu chi tiêu
du lịch của du khách không tách rời các loại dịch vụ mà nhà kinh doanh du lịch cung
cấp. Đó là môi trường vật chất của thành phố bao gồm đường đi, hè phố, công viên, tòa
nhà và các cửa hàng mặt tiền, sự thân thiện của người dân và vấn đề an toàn.
2.2.2.3. Những đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du khách. Do đó
nhu cầu du lịch chỉ được đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi, có thu nhập cao.
Người ta sẽ đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và ngược lại họ sẽ cắt giảm nếu thu
nhập bị giảm xuống.
13
Sản phẩm du lịch bao gồm 4 đặc trưng sau:
Tính vô hình
Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể). Thực ra nó là một kinh
sản phẩm cốt lõi, địa điểm lịch sử và đài tưởng niệm cần được phân tích về mọi điểm
có thể thu hút du khách. Nếu thuận tiện thì xem hoặc thi đấu thể thao cũng có thể được
xem là một thành phần của sản phẩm cốt lõi của thành phố. Hơn nữa việc phân tích các
doanh nghiệp bán lẻ và những sản phẩm mà họ bán là cần thiết, bởi vì việc có cơ hội
mua các sản phẩm độc đáo cũng là lý do để đến thăm thành phố.
Phân tích sản phẩm cốt lõi cần bao gồm cả những điểm du lịch địa phương. Đây là
những doanh nghiệp đã được lập với mục đích rất rõ là cung cấp giải trí cho du khách.
Tuy nhiên, các tổ chức phi lợi nhuận trong cộng đồng, bao gồm cả tổ chức nghệ thuật và
văn hóa, các trường đại học và cao đẳng, và ngay cả các nhà thờ, cũng được kết hợp, vì
đây cũng là những địa điểm và những sự kiện thu hút du khách.
Văn hóa, giải trí cũng là một phần sản phẩm cốt lõi của thành phố. Các cơ hội để
giải trí gồm đi xem phim, câu lạc bộ khiểu vũ, các quán bar hay các quán rượi. Những
địa điểm này có thể mang lại những hoạt động khác mà du khách có thể giải trí như hát
karaoke, và những lớp dạy khiêu vũ. Những địa điểm mà các loại hình giải trí này có thẻ
diễn ra là các khách sạn, nhà hàng, quán bar, hành lang các tòa nhà, các công viên và
ngay cả tiệm bán lẻ.
Bảng 2-1 : Câu hỏi cần trả lời khi phân tích sản phẩm cốt lõi của thành phố
Sản phẩm cốt lõi Câu hỏi
Địa điểm du lịch
Thành phố có những điểm hoạt động nào do lợi nhuận?
Nó sẽ thu hút kiểu người nào?
Tình trạng địa điểm du lịch đó có tốt không?
Nó có gắn liền với lối sống hay lợi ích hiện tại nào không?
Hình ảnh có thể cập nhật để thu hút nhiều du khách hơn không?
Văn hóa và những
điểm du lịch phi
lợi nhuận
Nhóm nhạc hay nhà hát nào thuộc thành phố?
Các công ty du lịch nào hoạt động trong thành phố của chúng ta?
Có nhóm nhạc nào biểu diễn chuyên nghiệp hay nghiệp dư ở địa
Chúng ta có những cơ sở bán lẻ đang dạng không?
Chúng ta có những cơ sở bán lẻ đặc biệt nào không?
Chúng ta có tạo cơ hội cho du khách mua hàng thủ công trang trí
không?
Chúng ta có trung tâm mua sắm giảm giá nào không?
Chúng ta có cửa hàng đồ cổ hay hiệu sách bán sách cũ nào không?
2.2.3.2. Phân tích sản phẩm hỗ trợ
Bước tiếp theo trong quá trình phân tích sản phẩm là phân tích sản phẩm hỗ trợ của
thành phố. Một vài sản phẩm hỗ trợ rất độc đáo so với sản phẩm cốt lõi, trong khi tất cả
du khách đều cần những sản phẩm bổ sung khác.
Bảng 2-2 : Câu cần trả lời khi phân tích sản phẩm hỗ trợ
Sản phẩm phụ Câu hỏi
Các tour
và vật lưu niệm
Các sản phẩm nào phù hợp với sở thích đặc biệt của nhóm du
khách đến tham quan du lịch?
Quà lưu niệm chung của thành phố có được bán với nhiều giá cả
khác nhau?
16
Có tour nào thiết kế để đáp ứng cho từng nhóm du khách không?
Có những chuyến đi tham quan tổng quát để du khách làm quen
với khu vực đó không?
Nhà hàng
Chúng ta có các kiểu nhà hàng với thực đơn khác nhau không?
Những nhà hàng khác nhau này có phục vụ bữa ăn cho nhiều
phân khúc du khách khác nhau hay không?
Mức giá có phù hợp với khả năng du khách sẵn sàng trả không?
Cơ sở vật chất của nhà hàng có sạch sẽ và được giữ gìn cẩn thận
không?