Nghiên cứu sản xuất đồ uống lên men trên môi trường nước trà bằng nấm nhầy myxomycetes - Pdf 22

i
MỤC LỤC MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2
1.1. Tổng quan về trà 3
1.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm cây trà 3
1.1.2. Phân loại trà 6
1.1.3. Thành phần hoá học của trà 7
1.1.4. Các sản phẩm được sản xuất từ trà 15
1.1.5. Tình hình sản xuất, tiêu thụ trà trong nước và thế giới 16
1.1.6. Tình hình nghiên cứu về trà trong nước và thế giới 19
1.2. Tổng quan về lên men 21
1.2.1. Khái niệm chung 21
1.2.2. Phân loại 21
1.2.3. Các nhóm lên men chính 21
1.2.4. Vi sinh vật sử dụng lên men (Nấm nhầy) 22
1.3. Tổng quan về nước giải khát lên men 23
1.3.1. Tình hình nghiên cứu nước giải khát lên men 23
1.3.2. Các thành phần chính của nước giải khát lên men 25
1.4. Công dụng của đồ uống lên men trên môi trường nước trà 28
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1. Vật liệu nghiên cứu 32
2.1.1. Nguyên liệu chính 32
2.1.2. Nguyên liệu phụ 33
2.2. Phương pháp nghiên cứu 34

iii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Hàm lượng nitơ của các hợp chất chứa nitơ trong trà loại 1. [16] 9
Bảng 1.2. Hàm lượng các sinh tố trong đọt trà tươi. [16] 13
Bảng 1.3. Hàm lượng các axit hữu cơ có trong đọt trà tươi 13
Bảng 1.4. Kế hoạch phát triển trà Việt Nam trong năm 2010. [6] 17
Bảng 1.5. Thị trường xuất khẩu trà 6 tháng đầu năm 2009. [17] 17
Bảng 2.1.Thang điểm đánh giá các đặc tính cảm quan của sản phẩm 35
Bảng 2.2. Hệ số quan trọng đối với từng chỉ tiêu của sản phẩm. 36
Bảng 3.1. Kết quả xác định hàm lượng ẩm của nguyên liệu trà 49
Bảng 3.2. Kết quả xác định hàm lượng tro toàn phần của trà. 49
Bảng 3.3. Bảng đánh giá chất lượng sản phẩm ở thời gian thanh trùng khác
nhau. 59
Bảng 3.4. Kết quả kiểm tra chỉ tiêu vi sinh 59
Bảng 3.5. Điểm cảm quan của sản phẩm đồ uống lên men trên môi trường
nước trà bằng nấm nhầy Myxomycetes 65
Bảng 3.6. Thành phần hoá học của sản phẩm 66
Bảng 3.7. Chi phí sản xuất ra 100 chai nước giấm trà dung tích 240ml/chai. 66

iv
DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Cành trà
3
Hình 1.2. Búp trà 3
Hình 2.1. Trà khô Thái Nguyên 32

TSVSVHK: Tổng số vi sinh vật hiếu khí
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
KL: Khuẩn lạc
BT: Bào tử
TSBTNM-M: Tổng số bào tử nấm men-nấm mốc
1
LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua 4 năm học tập tại trường Đại học Nha Trang, là sinh viên khoa chế
biến, chuyên ngành công nghệ thực phẩm, em đã được quý thầy cô trang bị các kiến
thức về cơ sở, chuyên ngành liên quan đến thực phẩm và các kỹ năng thực hành tại
phòng thí nghiệm cũng như các kỹ năng cần thiết khi làm việc tại xí nghiệp chế
biến thực phẩm. Và với vai trò là một kỹ sư thực phẩm trong tương lai, em cũng
muốn góp một phần công sức vào việc giải quyết vấn đề không chỉ đa dạng hoá sản
phẩm thực phẩm mà còn tạo ra các sản phẩm thực phẩm vừa có giá trị dinh dưỡng
vừa có giá trị dược dụng.
Vì vậy, nhờ vào sự tạo điều kiện của khoa chế biến cùng với sự hướng dẫn
tận tình của quý thầy cô, đặc biệt là cô Trần Thị Luyến và sự giúp đỡ của bạn bè,
em đã hoàn thành đề tài “Nghiên cứu sản xuất đồ uống lên men trên môi trường
nước trà bằng nấm nhầy Myxomycetes”. Trong đề tài, em đã nghiên cứu một số nội
dung sau:
3
1.1. Tổng quan về trà
1.1.1. Nguồn gốc, đặc điểm cây trà
Tên khoa học của trà: Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng
được sử dụng để sản xuất trà (trà).Tên gọi sinensis có nghĩa là "Trung Quốc" trong
tiếng Latinh. Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea và Thea viridis.
Trà được xếp trong phân loại thực vật như sau:
Ngành hạt kín Angiospermatophyta
Lớp ngọc lan (hai lá mầm) Magnoliopsida
Phân lớp Dlleniidae
Bộ trà Theales
Họ trà Camellia (Thea.)
Loài trà C.sinensis

Hình 1.1. Cành trà Hình 1.2. Búp trà
Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á nhưng ngày nay nó

đầu ra hoa, mọc từ chồi sinh thực ở nách lá.
Lá trà mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá, hình dạng và kích thước lá trà
thay đổi tuỳ giống. Lá trà có gân rất rõ, rìa lá có răng cưa. Lá của chúng dài từ 4 ÷
15 cm và rộng từ 2 ÷ 5 cm. Lá tươi chứa khoảng 4% cafein. Lá non và còn các lá có
xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất trà khi mặt bên dưới của chúng còn các
sợi lông tơ ngắn màu trắng. Các lá già có màu lục sẫm. Các độ tuổi khác nhau của
lá trà tạo ra các sản phẩm trà khác nhau về chất lượng, do thành phần hóa học trong
5
các lá này là khác nhau. Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần
thời gian đó được thu hoạch để chế biến. Trên một cành trà có các loại lá:
+ Lá vảy ốc: là những lá vảy rất nhỏ có màu nâu, cứng. Lá vảy ốc là bộ phận
bảo vệ đỉnh sinh trưởng của mầm khi ở trạng thái ngủ.
+ Lá cá: là lá thật thứ nhất nhưng phát triển không hoàn toàn, thường dị hình
(hơi tròn), không có chóp lá nhọn và rất ít hoặc không có răng cưa. Trên cành trà
thường chỉ có một lá cá.
+ Lá thật: lá thật rất khác nhau giữa các giống trà về thế lá trên cành, kích
thước, số đôi răng cưa, màu sắc.
Trà là cây lâu năm và có chu kì sống rất lâu, có thể đạt 60 ÷ 100 năm hoặc
lâu hơn. Tuổi thọ kinh tế tối đa của một cây trà thương mại vào khoảng 50 ÷ 65
năm tuỳ thuộc điều kiện môi trường và phương pháp trồng trọt.
Trà cho năng suất cao vào mùa mưa từ tháng 5 ÷ 11 trong năm. Tuỳ từng giống trà
mà thời gian một đợt thu hái là khác nhau: đối với giống trà để sản xuất trà đen, trà
xanh thông thường sau 10 ÷ 15 ngày thì thu hoạch một, còn các giống trà để sản
xuất trà Ôlong thì sau thời gian từ 43 ÷ 47 ngày thu hái một lần. Trà nguyên liệu sử
dụng trong công nghiệp chế biến chủ yếu là 1 tôm và 2 ÷ 3 lá non. [14]
Về nguồn gốc cây trà thì theo truyền thuyết, cây trà bắt nguồn từ Trung
Quốc. Người đầu tiên phát hiện ra cây trà là vua Thần Nông, vào khoảng năm 2370
trước công nguyên. Một hôm trong cuộc du ngoạn cùng đoàn tuỳ tùng lên vùng
trung du, khi nhà vua đang nghỉ trưa dưới một gốc cây thì ngọn gió vô tình cuốn vài
ngọn lá từ một đám cây lạ bên đường rơi vào siêu nước đang sôi. Lập tức làn nước

cao 5 m trong điều kiện sinh sống tự nhiên. Lá to, trung bình chiều dài từ 12 ÷ 15
cm, rộng 5 ÷ 7 cm, màu xanh nhạt, bóng. Răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn
trung bình 8 ÷ 9 đôi gân lá rõ. Năng suất cao phẩm chất tốt. Nguyên sản ở Vân
Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc).
+ Trà Shan (Camellia sinensis var. Shan): thân gỗ cao 6 ÷ 10 m, lá to và dài
15 ÷ 18 cm, có màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày. Tôm trà có nhiều
lông tơ trắng mịn giống như tuyết nên gọi là trà tuyết. Lá có 10 đôi gân lá, có khả
năng thích ứng được ở điều kiện ấm, ẩm, địa hình cao. Năng suất cao, phẩm chất
tốt. Nguyên sản ở Vân Nam (Trung Quốc), miền bắc Mianma và Việt Nam.
+ Trà Ấn Độ (Camellia sinensis var. Atxamica): thân gỗ cao tới 17 m, phân
cành thưa, lá dài 20 ÷ 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hình
bầu dục, có trung bình 12 ÷ 15 đôi gân lá. Năng suất cao, phẩm chất tốt. Trồng
nhiều ở Ấn Độ, Mianma và một số nơi khác. [6] 7
1.1.3. Thành phần hoá học của trà
1. Nước
Nước là thành phần lớn nhất ở búp trà và có vai trò quan trọng ở mặt công
nghệ. Nước là thành phần không thể thiếu được để duy trì sự sống trong sự sinh
trưởng của cây trà và là môi trường phản ứng hoá học liên quan đến sự chuyển hoá
các chất ở giai đoạn chế biến trà và bảo quản trà sản phẩm. Đồng thời, liên quan đến
định mức chỉ tiêu nguyên liệu cho một đơn vị sản phẩm trong sản xuất các loại trà.
Ở các giai đoạn và các thời kỳ khác nhau của cây trà, hàm lượng nước trong
các đọt trà tươi cũng khác nhau, thường chiếm khoảng 75 ÷ 82%. Hàm lượng nước
phụ thuộc vào: độ non già của nguyên liệu, mùa vụ, chất kích thích sinh
trưởng…[16]
2. Hợp chất polyphenol - tanin trà (còn gọi là chất thuộc da)
Hàm lượng tanin trong trà từ 27 ÷ 34% so với khối lượng chất khô.
Đặc tính của tanin có vị chát. Nó là chất trọng yếu trong nguyên liệu, ảnh

chát dịu cho trà. [16]
3. Protein và chất chứa nitơ
Chiếm 22% ÷ 26% chất khô.
Qua chế biến, hàm lượng protein và axit amin có thay đổi: lượng protein
giảm còn lượng axit amin tăng lên. Sở dĩ do quá trình thủy phân dưới tác dụng của
men proteaza. Khi thuỷ phân protein tạo ra các peptit, pepton và các axit amin.
Chính các axit amin này tạo vị ngọt cho trà. Axit amin tham gia phản ứng tạo màu
với đường khử.
Protein

protease axit amin

Protein có khả năng kết hợp một phần với tanin tạo hợp chất không tan làm
hàm lượng tanin giảm xuống. Vì vậy người ta khuyến cáo rằng không nên uống
nước trà đặc khi vừa ăn no gây ra rất khó tiêu.
Theo kết quả nghiên cứu của Khôtrôlavan (Liên Xô cũ), hàm lượng nitơ của
các hợp chất chứa nitơ trong trà tính theo mg/1g chất khô như sau:

9
Bảng 1.1. Hàm lượng nitơ của các hợp chất chứa nitơ trong trà loại 1. [16]

Tên chất Hàm lượng
Tổng lượng nitơ 54,39
Nitơ hoà tan 20,75
Nitơ của protein hoà tan 3,23
Nitơ của phi protein hoà tan 16,11
Nitơ của axit amin 3,79
Nitơ của NH3 0,93
Cafein (% chất khô) 3,52


điều kiện canh tác, kỹ thuật chăm bón và nhất là độ trưởng thành của đọt trà, lá trà
càng non càng chứa nhiều cafein. Ngoài ra phương pháp đốn trà cũng làm tăng hàm
lượng cafein. [10]
5. Nhóm chất thơm
Hương vị và màu sắc nước trà là những chỉ tiêu chất lượng cảm quan của trà,
các chỉ tiêu này có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng đến nhau. Nói chung, trà có
hương thơm tốt thì vị cũng tốt và ngược lại.
Hương thơm của trà trước hết phụ thuộc vào thành phần và hàm lượng các
cấu tử tinh dầu có trong nguyên liệu và được tạo mới trong quá trình chế biến trà
(như đi từ chất nhựa), từ phản ứng của các chất khác nhau (như đường, axít amin,
polyphenol ). Tinh dầu tự nhiên có trong lá trà với hàm lượng rất thấp. Qua quá
trình chế biến, một số chất thơm mới được tạo ra.
Theo quan điểm của các nhà sinh hoá thực phẩm thì aldehyt giữ vai trò quan
trọng trong tạo hương cho trà. Trong quá trình gia công chế biến, hương thơm mới
được tạo ra do sự tương tác giữa axit amin và đường đơn, giữa axit amin với tanin
dưới tác dụng của nhiệt độ cao xúc tác bởi enzyme…, thường tạo ra các aldehyt có
mùi thơm hoặc chuyển hoá tiếp để tạo các chất thơm khác. [7]
6. Hợp chất gluxit
Tùy theo giống cây và hàm lượng thu hái mà hàm lượng gluxit thay đổi ít
hay nhiều.
Hàm lượng gluxit trong trà khoảng 85 ÷ 90% chất khô nhưng trong trà non
hàm lượng của chúng không vượt quá 20%. Trung bình có:
- Monose: 1 ÷ 2%.
- Saccarose: 0,5 ÷ 2,5%
11
- Polysaccarit: 10 ÷ 20%
- Tinh bột: 0,1 ÷ 0,3%, lá trà càng già lượng tinh bột càng tăng.
- Pectin: 2 ÷ 3%.
Mặc dù vậy, với hàm lượng tuy nhỏ nhưng các gluxit hòa tan vẫn có ý nghĩa
lớn trong việc điều vị cho nước trà. Các đường khử tham gia vào việc tạo màu, tạo

O
3
, SiO
2
, SO
2
, các ion Cl
-
và F
-
ở dạng muối vô cơ.
Hàm lượng chất tro trong trà luôn thay đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó
phụ thuộc rất lớn vào độ non già của đọt trà tươi, thời kỳ sinh trưởng của cây trà.
Do đó, dựa vào hàm lượng chất tro cũng có thể đánh giá sơ bộ được chất lượng của
nguyên liệu và sản phẩm.
8. Chất béo và sắc tố
a. Chất béo
Trong lá trà, chất béo chiếm khoảng 5 ÷ 6% chất khô. Hàm lượng chất béo
trong trà cũng luôn thay đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống trà, thời vụ
thu hái, vị trí của lá trên cây. Vào đầu vụ, hàm lượng chất béo cao nhất sau đó giảm
dần vào giữa vụ và đến cuối vụ lại tăng lên nhưng không bằng giá trị ban đầu.
12
Chất béo có ảnh hưởng đến chất lượng trà, nó tham gia vào sự hình thành
hương thơm do trong thành phần chất béo cũng có một số cấu tử có mùi thơm hoặc
dưới tác dụng của nhiệt độ sẽ chuyển thành chất thơm. Chất béo có tính hấp phụ
mùi và giữ mùi, tính chất này của chất béo giúp cho quá trình ướp hương bổ sung
cho trà bằng hương liệu hoặc hoa tươi được thuận lợi, giúp tránh tổn thất và mất
mùi trà khi bảo quản nhưng cũng có hại khi vô ý để trà tiếp xúc với vật có mùi lạ sẽ
làm cho trà bị nhiễm mùi lạ đó và rất khó khử bỏ mùi lạ này. [16]
b. Sắc tố

PP 54 ÷ 152
Axit pantotenic (sinh tố P) 14 ÷ 40

10. Axít hữu cơ và nhựa
Trong thành phần hóa học của trà có chứa các axít hữu cơ như axit malic,
axit oxalic, axit citric, axit succinic…
Bảng 1.3. Hàm lượng các axit hữu cơ có trong đọt trà tươi.
Tên axit Hàm lượng (%)
Axit oxalic hoà tan 0,2
Axit oxalic không hoà tan 0,82
Axit malic 0,3
Axit succinic 0,103
Axit citric 0,006
Vai trò của những axit này là tạo mùi hương cho trà, tạo hình cho cánh trà
đồng thời giữ mùi cho trà, ngăn cản sự hút ẩm của trà khi bảo quản.
Chất nhựa cùng với nhóm chất tinh dầu và các hợp chất khác có trong giữ
vai trò quan trọng trong quá trình tạo nên hương thơm đặc trưng cho trà. Trong
thành phần chất nhựa, có một số cấu tử có mùi thơm và mùi của chúng được bộc lộ
mạnh dưới tác dụng của nhiệt độ cao như rezen khi được đun nóng lên sẽ tạo cho
trà có mùi thơm của mật ong. Khi pha trà bằng nước sôi, hương thơm của trà toả ra
mạnh hơn, có mùi dễ chịu hơn khi ngửi mùi trà khô có liên quan đến tác dụng của
nhiệt độ cao ảnh hưởng đến nhóm chất nhựa và các chất tạo hương của trà. [16]
11. Enzyme (men)
Trong lá trà có 2 nhóm enzyme quan trọng là nhóm enzyme oxi hoá - khử và
nhóm enzyme thủy phân. Những nhóm khác tồn tại với số lượng không đáng kể.
14
Nhóm enzyme thuỷ phân trong lá trà gồm có protease, pectinase, amylase,
invertase. Các enzyme này đều giữ vai trò quan trọng trong sự phân giải các hợp
chất phức tạp, đa phân tử, không hoà tan thành các chất có phân tử thấp, hoà tan.
Do đó, góp phần làm tăng chất hoà tan trong trà. Hơn nữa, các chất này còn là tiền

+O
2

Octoquinon
Ngưng tụ

Diphenolquinon

Khử Ôxyhoá

Bisflavanol Teaflavin
(không màu, tạo vị chát dịu) (màu vàng sáng, tạo vị chát dịu)

Ôxy hoá Ôxy hoá
Dạng hoà tan (muối, axit)
Tearubigin(màu đỏ)
Dạng không hoà tan + protein

Hình 1.3. Sơ đồ của quá trình oxy hoá hợp chất tanin trà. [16]

1.1.4. Các sản phẩm được sản xuất từ trà
Hiện nay cùng với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng cả về số lượng và chất
lượng thì các sản phẩm từ trà cũng ra đời. Trên thị trường các sản phẩm được làm
từ trà rất đa dạng, bao gồm: kem trà, bánh ngọt, bánh quy, bánh lưỡi mèo, bánh sinh
nhật (kem tươi, kem bơ, kem fomat, tiramisu, mousse, socola tất cả đều có thành
phần trà xanh), socola trà, kẹo truffle trà, các loại nước giải khát từ trà như trà xanh
không độ, trà xanh 100, lipton pure green Ngoài ra từ trà có thể làm các sản phẩm
mặt nạ, kem dưỡng da, kem trị mụn, sữa tắm, kem đánh răng…
16
1.1.5. Tình hình sản xuất, tiêu thụ trà trong nước và thế giới

Chỉ tiêu Năm 2010
Diện tích (ha) 104.000
Năng suất bình quân (tấn tươi/ha) 7,5
Sản lượng trà khô (tấn) 147.000
Sản lượng xuất khẩu (tấn) 110.000
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) 200

b. Tình hình tiêu thụ
Mức tiêu thụ bình quân đầu người nước ta là 0,3 kg/người/năm, so với các
nước trên thế giới thì mức tiêu thụ ở nước ta còn thấp. Dự kiến mức tiêu thụ trong
vài năm tới sẽ tăng lên từ 5 ÷ 6%.
Về xuất khẩu: khối lượng trà xuất khẩu của Việt Nam luôn tăng trong những
năm gần đây. Năm 2000, Việt Nam xuất khẩu 55.660 tấn trà khô với kim ngạch đạt
hơn 69 triệu USD. Năm 2002, xuất khẩu 74.812 tấn kim ngạch xuất khẩu đạt hơn
82 triệu USD. Năm 2004, xuất khẩu 105.000 tấn (trong đó trà đen là 70.867 tấn
chiếm 67,4%; trà xanh 34.133 tấn chiếm 32,6%). Kim ngạch đạt 100,9 triệu USD.
Năm 2008, lượng trà xuất khẩu của Việt Nam mới chỉ đạt 104 nghìn tấn, trị giá đạt
147 triệu USD, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng nhẹ 0,2% về trị giá so với năm 2007. [8]
Bảng 1.5. Thị trường xuất khẩu trà 6 tháng đầu năm 2009. [17]
Thị trường xuất khẩu Lượng (tấn) Trị giá (USD)
Ấn Độ 2.745 2.855.667
Hoa Kỳ 2.097 1.915.326
Indonesia 2.044 1.580.973
Nga 8.750 10.392.735
Pakistan 13.025 18.135.797
Trung Quốc 3.258 3.485.625

18
2. Thế giới
a. Tình hình sản xuất

Công trình nghiên cứu chiết xuất và xác định tác dụng kháng oxy hoá của
polyphenol từ lá trà xanh Việt Nam của Mai Tuyên, Vũ Bích Lan, Ngô Đại Quang.
Công trình đã thu được kết quả sau: xác định khả năng chiết xuất cafein và
polyphenol từ lá trà xanh Việt Nam thu được cafein vào khoảng 2 ÷ 2,1% và
polyphenol vào khoảng 7 ÷ 8% so với lượng mẫu lá trà khô. Đồng thời nghiên cứu
thấy được polyphenol chiết xuất từ lá trà xanh thứ phẩm có tác dụng kháng oxy hóa
rất rõ rệt và mạnh hơn nhiều so với axit ascorbic và tocopherol.
2. Thế giới
Trà là một thức uống phổ biến vào hàng thứ hai trên thế giới (chỉ sau nước
uống). Vì mức độ phổ biến của trà trong dân số, cho nên các nhà nghiên cứu y khoa
rất quan tâm đến tiềm năng phòng chống bệnh tật của trà.
Theo các nghiên cứu Ung thư Quốc gia Mỹ, lá trà sấy khô chứa catechin -
những hợp chất có khả năng kìm hãm quá trình nhân bản của tế bào ung thư. Họ
cũng phát hiện ra rằng, chính catechin đã tiêu diệt những thành phần tự do - thủ
phạm gây ra không ít tai họa cho cơ thể, trong đó có tình trạng già nua. Catechin
cũng có khả năng kìm hãm sự phát triển của những tế bào ung thư đã tồn tại. Điều
quan trọng, hiện tượng này liên quan đến nhiều dạng ung thư khác nhau. Tháng
4/2004, trên tạp chí chuyên ngành "Experimental Biology" các nhà khoa học Mỹ ở
California đã công bố kết quả những công trình nghiên cứu chứng minh rằng,
thường xuyên uống trà đen hoặc trà xanh có thể kìm hãm sự phát triển khối u tuyến
tiền liệt. Tháng 12/2005, tạp chí chuyên ngành "Archives of Internal Medicine" đã
giới thiệu công trình nghiên cứu chứng minh rằng, phụ nữ mỗi ngày uống tối thiểu
hai ly nước trà ít bị nguy cơ ung thư buồng trứng so với đồng lứa của họ không
thích loại nước uống này. [19]
Tháng 8/1996 giáo sư T. Shimamura công tác tại trường đại học y khoa
Showa (Nhật Bản) đã có công trình diễn thuyết "về tác động diệt khuẩn E-coli-157"
tại hội thảo chuyên đề diệt khuẩn của trà xanh. Catechin hợp chất tạo nên vị đắng
20
của trà xanh có công dụng hữu hiệu trong việc tiêu diệt hầu hết các những loại vi
khuẩn gây ngộ độc thực phẩm và giải trừ luôn những độc tố do vi khuẩn tiết ra cụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status