ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG kĩ THUẬT và HIỆU QUẢ của mô HÌNH KINH tế vườn – AO – CHUỒNG (VAC) ở HUYỆN yên lạc, TỈNH VĨNH PHÚC - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG Trần Văn Hà ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KĨ THUẬT VÀ HIỆU QUẢ
CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ VƯỜN–AO–CHUỒNG
(VAC) Ở HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành: Nuôi trồng Thuỷ sản
Mã số: 60 62 70 LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM XUÂN THỦY
Nha Trang - 2011
i

LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gởi đến Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang sự kính
trọng, lòng tự hào đã được làm việc, học tập và nghiên cứu tại trường trong những
iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới và Việt Nam 4
1.1.1. Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới 4
1.1.2. Tình hình phát triển mô hình VAC ở Việt Nam 6
1.2. Vai trò của mô hình kinh tế VAC 10
1.2.1. Mô hình VAC dinh dưỡng 12
1.2.2. Mô hình VAC kinh tế 13
1.2.3. Phát triển VAC trang trại góp phần phát triển nông nghiệp hàng hoá 15
1.2.4. Hoạt động mô hình VAC góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm 16
1.3. Sự hình thành và phát triển hệ thống VAC 17

3.3. Khó khăn, hướng phát triển và kiến nghị của người nuôi 59
3.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội của NTTS trong mô hình VAC 60
3.4.1. Đánh giá doanh thu và tổng chi phí năm 2008, 2009 và sơ bộ 2010 của
các hộ nuôi trong mô hình VAC 61
3.4.2. Kết quả và hiệu quả kinh tế của NTTS trong mô hình kinh tế VAC ở
huyện Yên Lạc 64
3.4.3. Phân tích đánh giá các chỉ tiêu kết quả sản xuất của 1ha ao nuôi cá trong
mô hình VAC 66
3.4.4. Phân tích đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 1 ha ao nuôi cá
trong mô hình VAC 67
3.5. Một số giải pháp góp phần làm tốt mô hình kinh tế VAC 68
3.5.1. Phát triển nhiều hơn nữa mô hình kinh tế VAC tại các điểm NTTS ở hai
cấp xã và thôn gắn với các đối tượng vật nuôi và cây trồng có giá trị kinh tế
cao 70
3.5.2. Xác định rõ mô hình kinh tế VAC, lựa chọn giống vật nuôi, cây trồng có
giá trị phù hợp với địa phương 70
3.5.3. Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản 71
3.5.4. Giải quyết tốt nguồn vốn cho người nuôi 71
v

3.5.5. Nâng cao trình độ của cán bộ khuyến nông và người nuôi 71
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 73
I. KẾT LUẬN 73
II. ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh giữa các mô hình NTTS kết hợp theo sản lượng lúa 9
Bảng 1.2: Điểm đặc trưng cơ bản của hệ thống VAC tại miền Bắc Việt Nam 23
Bảng 2.1: Chọn vùng nghiên cứu và số mẫu điều tra 31

Bảng 3.27: Diện tích và một số cây trồng trong vườn 57
Bảng 3.28: Nhận thức của hộ nuôi về các yếu tố trong mô hình VAC 58
Bảng 3.29: Khó khăn của hộ nuôi cá 59
Bảng 3.30: Kiến nghị của hộ nuôi 59
Bảng 3.31: Hướng phát triển của hộ nuôi 60
Bảng 3.32: Bảng doanh thu, tổng chi phí trung bình của hộ nuôi 61
Bảng 3.33: Mức độ đầu tư và kết quả thu được của tổng các hộ NTTS trong mô hình
VAC ở huyện Yên Lạc, năm 2009 64
Bảng 3.34: Một số chỉ tiêu kinh tế của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 65
Bảng 3.35: Chi phí và kết cấu chi phí sản xuất của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC
ở huyện Yên Lạc, năm 2009 65
Bảng 3.36: Chi phí và kết quả sản xuất của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 67
Bảng 3.37. Hiệu quả kinh tế của 1 ha ao nuôi cá trong mô hình VAC 67

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình1.1: Mô tả chuỗi thức ăn trong hệ thống ao cá kết hợp ở miền Bắc 7
Hình 1.2: Mối quan hệ tương tác qua lại trong hệ thống ao VAC 12
Hình 1.3: Mô hình VAC miền núi 21
Hình 1.4: Hoạt động làm vườn và chăn nuôi bên cạnh ao cá 24
Hình 1.5: Hệ thống kết hợp Lợn–vịt–cá–rau 25
Hình 1.6: Một số cây trồng trong vườn trong hệ thống VAC miền núi 28
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 30
Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Yên Lạc 35
Hình 3.2: Phân bố lợi nhuận của các hộ nuôi 63
Hình 3.3: Biểu đồ lợi nhuận trung bình của các hộ nuôi 63
Hình 3.4. Ma trận SWOT của mô hình VAC tại huyện Yên Lạc 69
vii DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

+ Tận dụng không gian sinh thái ba chiều của vùng nhiệt đới giàu ánh sáng, độ
ẩm, nhiệt độ
+ Khai thác các nguồn tài nguyên tái sinh và tái sử dụng các chất thải của cây
trồng, vật nuôi đưa vào chu trình sản xuất mới
+ Làm ra sản phẩm nhiều hơn, đa dạng hơn, có chất lượng tốt hơn trên cùng
một đơn vị diện tích canh tác.
Chúng ta đều biết trong hơn hai thập kỉ qua, nền kinh tế thủy sản của Việt Nam
đã có sự tiến bộ rõ ràng tập trung ở con tôm sú, tôm he chân trắng, rô phi, cá tra phát
triển với mô hình công nghiệp. Tuy nhiên, những đối tượng trên chủ yếu phát triển ở
miền Nam và nó chưa thể hiện được tính bền vững và gây rủi ro lớn cho người nuôi.
Việt Nam với 74% là nông dân nên việc cải thiện đời sống, xóa đói, giảm nghèo và
tăng thu nhập thì nuôi trồng thủy sản kết hợp theo mô hình VAC tỏ ra là ưu việt và
bền vững cho đại đa số hộ nông dân, đặc biệt là nông dân vùng nông thôn, ven biển và
miền núi của Việt Nam.
2

Vĩnh Phúc là tỉnh có ngành thủy sản chuyên về nước ngọt, không có điều kiện
phát triển thủy sản nước mặn và nuôi cá nước ngọt theo quy mô công nghiệp lớn như
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, mặt khác, tỉnh thuộc vùng đồng bằng – trung du
miền núi nên phát triển kinh tế thủy sản–nông nghiệp ở nông hộ là cần thiết để giải
quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân. Mô hình kinh tế VAC ở Vĩnh Phúc
phát triển rộng khắp, đặc biệt ở huyện Yên Lạc và huyện Vĩnh Tường. Theo Niên
giám thống kê nông nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc năm 2009, cả tỉnh có 688 trang trại
nông nghiệp kinh doanh tổng hợp, trong đó số trang trại ở huyện Yên Lạc có 553 trang
trại, chiếm tới 80,38% tổng số trang trại nông nghiệp kinh doanh tổng hợp của toàn
tỉnh[3]. Kinh tế trang trại kết hợp đã góp phần làm cho kinh tế của các hộ nông dân
được cải thiện rõ ràng.
Tuy nhiên, mô hình nuôi VAC ở huyện Yên Lạc còn nhiều vấn đề bất cập như:
kĩ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho vật nuôi còn kém, đối tượng vật nuôi cây trồng
chưa thích hợp, khả năng thâm canh còn hạn chế… dẫn tới hiệu quả kinh tế chưa cao.

1.1.1. Tình hình phát triển mô hình VAC trên thế giới
Hệ thống kết hợp Nông nghiệp và Thuỷ sản (NN&TS) mà phổ biến là mô hình
VAC: trong đó, chất thải của đối tượng này là nguồn cung cấp dinh dưỡng tốt cho đối
tượng khác [24],[19]. Hệ thống trang trại kết hợp bao gồm Nuôi trồng Thuỷ sản
(NTTS) thể hiện là sự đồng quy hay liên kết liên tục giữa hai hay nhiều hoạt động của
chúng với NTTS [23].
Khái niệm về NTTS kết hợp không phải là mới, có thể bắt đầu đầu tiên ở cộng
đồng dân cư đông đúc ở châu Á, vùng trung tâm châu Âu và đã được chấp nhận là có
khả năng phát triển cho những người nông dân nghèo.[24]
NTTS kết hợp cũng có thể được định nghĩa như: cá nuôi kết hợp kín trong dòng
năng lượng, dinh dưỡng của hệ thống trang trại thông thường và rộng rãi hơn để liên
kết NTTS với hoạt động khác của con người hơn nông nghiệp (nông học và động vật
trong nông nghiệp) như quản lí về tài nguyên nước, công nghiệp, và hệ thống xử lí
nước.[22]
Trang trại kết hợp mà bao gồm NTTS có thể định nghĩa rộng như sự liên tục giữa
hai hay nhiều hơn các hoạt động của chúng ít nhất một yếu tố là NTTS [27]. Mục đích
của sự kết hợp là làm tăng sự đa dạng hóa, nâng cao hiệu quả, làm tăng hiệu quả sử
dụng tài nguyên tự nhiên, tăng năng suất và tăng khả năng chịu đựng ]29].
Phạm vi rộng lớn của hệ thống kết hợp NN&TS được tiến nhiều ở Bắc và Đông
Bắc châu Á, ví dụ như Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái
Lan và Việt Nam.[30]
Hệ thống cá kết hợp sử dụng cỏ và thực vật dưới nước như là thức ăn cho cá,
được tìm thấy ở nhiều vùng của Trung Quốc [36], ở Trung Quốc: hệ thống kết hợp
NN&TS theo khái niệm của Nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh mối quan hệ giữa môi
trường nông nghiệp với môi trường tự nhiên và xã hội của chúng [25], ở châu Phi:
trang trại kết hợp có thể được tìm thấy ở Ghana và Malawi [29], ở châu Âu, hệ thống
kết hợp NN&TS được tiến hành ở các nước như Hungary và Đức [13], [32].
5

Các loại hệ thống kết hợp NN&TS xếp loại từ hình thức đơn giản như hệ thống

các loại hình khác nhau của hệ thống kết hợp “hệ thống ao cá – đồng nổi” đã được tiến
6

hành bởi một số lượng lớn nông dân ở đồng bằng sông Châu của Trung Quốc.
Delinondo (1980) lo lắng rằng tài nguyên đất và nước ở Trung Quốc, nhận ra vai trò
của ao nuôi cá trong trang trại truyền thống, đã giúp cho cơ quan phát triển NTTS tính
toán đến một chương trình đầy đủ về sự phát triển nông nghiệp cho nhiều năm. [16]
[26]
Trong ao, nuôi kết hợp một số loài cá ăn cỏ và cá ăn tạp là phổ biến, trong khi
một lượng lớn cây trồng (hoa màu, rau, quả, cỏ) được trồng ở vùng nổi của ao có thể
cung cấp lợi ích khác nhau cho trang trại trong sự thêm vào để nuôi cá như nước và
quản lí sự màu mỡ của đất. Ao có thể được sử dụng để xử lí rất nhiều dạng chất thải
nông nghiệp, bao gồm phân của vật nuôi và con người, biến chúng thành phân bón với
hàm lượng protein cao cho cá. Ao và cây trồng có thể được kết hợp sử dụng cây trồng
và phần còn lại của cây trồng như thức ăn là phân bón cho cá; và sử dụng đất ao, nước
như phân bón cho cây trồng và tưới nước. [31] [24]
1.1.2. Tình hình phát triển mô hình VAC ở Việt Nam
Ở Việt Nam hệ thống Vườn–Ao–Chuồng (VAC) kết hợp đã được hoạt động bởi
một lượng lớn các trang trại sản xuất nhỏ ở đồng bằng sông Hồng trong một thời gian
dài [14]. Hệ thống VAC này, gần như chắc chắn bắt đầu ở Trung Quốc, chúng lôi cuốn
mô hình kết giữa NN&TS truyền thống, vì chúng có tính đa dạng hóa cao, thâm canh
và kết hợp cao [26].
Hệ thống trang trại–cá kết hợp; nơi mà cá và sản phẩm khác trong trại được tạo ra
bởi việc sử dụng nước của một sản phẩm như là thức ăn và phân bón cho loại khác đưa
ra nhiều hứa hẹn. Trong hệ thống này, được gọi là VAC (V–vườn=horticulture, A–
ao=pond, C–chuồng=livestock), phân bón của động vật được sử dụng để bón cho ao cá
nhằm tăng sự phát triển của tảo trong ao, đồng thời làm thức ăn trực tiếp của một số
loài cá. Chất thải của cá sau đó được sử dụng cho vườn và một phần sản phẩm hoặc
phế phẩm trong vườn được làm thức ăn cho cho cá và động vật.[26]
Hệ thống VAC là một phương pháp thâm canh cao của trang trại nhỏ nơi mà

Muối dinh dưỡng
Cá mè trắng
Cá mè hoa
Cá trắm cỏ
Phân chuồng…
Cá rô phi, cá trôi,
cá chép
Thực vật thượng
đẳng
Động vật đáy
Cá tạp
Cá chuối, cá
nh
ồng măng

Cá chép, cá trắm
đen, cá rô phi
8

Trong hệ thống VAC, người dân có thể chủ động về loại cây trồng họ thích, lúa
gạo nói chung – trong khi thêm vào tiền mặt hay cây trồng–cá, tôm, rau quả – để sản
xuất chúng. Hầu hết mô hình NTTS, Nông nghiệp phổ biến và có hiệu quả là mô hình
kết hợp VAC, theo sau là mô hình nuôi trồng lúa–cá, sau nuôi trồng/chuồng và cuối
cùng là nuôi trồng/vườn. Nghề VAC cho thấy là mô hình nông nghiệp–thủy sản tốt
nhất. VAC giúp người nông dân quay vòng vốn nhanh và sử dụng tốt nguồn nguyên
liệu đầu vào, giảm bớt sự lệ thuộc của họ vào việc mua bán và duy trì tài nguyên sử
dụng của trang trại. Trong hệ thống kết hợp này, NTTS đóng vai trò quan trọng trong
việc cải tiến thu nhập của trang trại, sử dụng đầu vào và tạo ra việc làm, giảm bớt rủi
ro cho chủ trang trại.[34]
FAO chỉ ra rằng hệ thống VAC tạo ra nguồn thực phẩm cho nhu cầu tiêu thụ nội

2. Tổng tiền lãi (1000đ) 12.259 12.754 11.693 12.125
3. Giá thị trường (1000đ) 4.504 4.025 4.763 4.188
4. Công lao động 251 267 263 254
5. Phân bón (kg/ha) 5.476 7.077 4.960 5.740
6. Hoá chất (1000đ) 121 185 168 108
II. Vụ hè

1. Sản lượng (kg/ha) 4.121 4.261 4.09 4.082
2. Tổng tiền lãi (1000đ) 10.179 9.956 9.802 10.208
3. Giá thị trường (1000đ) 3.146 3.650 3.679 2.994
4. Công lao động 237 242 259 241
5. Phân bón (kg/ha) 4.649 6.322 4.398 5.176
6. Hoá chất (1000đ) 107 130 208 93
Nguồn: Đại học Nông nhiệp Hà Nội, 1997
Sản lượng lúa trong hệ thống VAC là cao hơn đáng kể trong mùa vụ Xuân và
tương tự các hệ thống trang trại kết hợp khác trong mùa Hè. Trong điều kiện bờ rộng,
kể cả lúa và cá là cạnh tranh nhau trong mùa hè, trong khi mùa xuân VAC làm tốt hơn
tất cả các hệ thống. Hơn nữa trong mô hình VAC, nhu cầu công việc của một người/ha
là thấp nhất. Điều này giúp người lao động tạo thêm việc làm ở trang trại của mình để
tăng thu nhập như vậy, công việc đa dạng hóa là có thể thực hiện được. Trong các khu
vực khác, nó chấp nhận thời gian dài cho việc làm khác trong trang trại, không ngạc
nhiên, kể cả cá và lúa phụ thuộc ít nhiều vào thuốc trừ sâu, vì sự kết hợp liên quan đến
việc quản lí khả năng xâm hại của cá đến cây lúa.[11]
Sản lượng cá cũng đạt năng suất cao trong hệ thống VAC. Tối đa 15 tấn sản
phẩm có thể được thu hoạch trên ha ở một trang trại VAC tốt nhất. Một sản lượng tốt
hơn so với sự kết hợp cá–lúa, bởi vì, cá được thả cùng với gieo mạ, được sinh trưởng
trong ao để đạt kích thước tối đa. Chúng cũng có thể được bán khi có giá tốt nhất [34].

được nuôi dưỡng bằng những sản phẩm khác (phân bón, chất đáy ao, phân cá cá như
nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho lúa).[11]
1.2. Vai trò của mô hình kinh tế VAC
VAC là các chữ đầu viết tắt của hệ sinh thái Vườn – Ao – Chuồng. Ở miền núi
và trung du, đôi khi người ta còn gắn thêm chữ R là Rừng vào tổ hợp từ viết tắt này,
thành hệ sinh thái RVAC. Vườn chỉ các hoạt động trồng trọt; Ao chỉ các hoạt động
nuôi trồng thuỷ sản; Chuồng chỉ các hoạt động chăn nuôi trên cạn. Đây là các hoạt
11

động kết hợp với nhau trong một hệ sinh thái khép kín, trong đó có cả con người. Các
sản phẩm của V (rau, đậu, củ, quả), của A (cá, tôm, cua), của C (thịt, trứng, sữa) được
sử dụng để nuôi người hoặc để bán; và các chất thải của hệ phụ nọ sẽ được sử dụng
như nguồn dinh dưỡng của hệ phụ kia.
Thực ra thì hệ sinh thái VAC vốn là truyền thống canh tác lâu đời của người
nông dân Việt Nam. Cụ Tam Nguyên Yên đã mô tả bức tranh về làng quê Việt Nam
trên cơ sở hệ sinh thái VAC trong một bài thơ thất ngôn bát cú nổi tiếng với những ao
sâu,vườn rộng của cụ.[8]
Nhân dân ta đã khai thác vườn, ao theo chiều sâu, tận dụng tối đa tài nguyên
đất, ánh sáng, nhiều tầng, nhiều loài, mô phỏng theo kiểu của hệ sinh thái rừng nhiệt
đới. Vườn, ao, chuồng lại đều ở gần nhà nên tận dụng được lao động, tiện quản lí và
chăm sóc; thế nên “nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền”.[8]
Hệ sinh thái VAC là một mô hình hiệu quả thể hiện chiến lược tái sinh: tái sinh
nguồn năng lượng mặt trời qua quang hợp của cây trồng, tái sinh các chất thải (vật thải
của công đoạn sản xuất này là nguyên liệu cho quy trình sản xuất khác). Chiến lược tái
sinh này còn làm trong sạch môi trường.[8]
Người nông dân quen gọi kinh tế VAC là “kinh tế vườn” có vai trò to lớn trong
cung cấp dinh dưỡng cho nông hộ, tạo thêm công ăn việc làm, tạo thêm của cải cho xã
hội. Làm vườn theo cách này đã tạo ra những hệ sinh thái bền vững, cảnh quan trong
lành, góp phần gìn giữ và cải thiện môi trường. Nhiều gia đình nông dân đã có trang
trại gia đình dựa trên các nguyên lí của VAC.[8]

tiến tới mở rộng ra các vùng, miền.
Chương trình VAC dinh dưỡng phối hợp giữa VACVINA với UNICEF chỉ đạo
qua 3 năm làm thử (1988 – 1999 – 1990) và 10 năm chính thức (1991 – 2001) lúc đầu
chỉ có 4 xã điểm với trên 20 hộ, khi chương trình kết thúc đã có hàng vạn hộ có mô
hình.[9]
13

Thành công và hiệu quả của phong trào VAC dinh dưỡng của thập kỷ trước
không những được nhân dân ta khen ngợi mà được bạn bè quốc tế cũng khâm phục
cho đây là một hình thức độc đáo của dân tộc Việt Nam.
1.2.2. Mô hình VAC kinh tế
Bên cạnh mô hình VAC dinh dưỡng, thì mô hình VAC kinh tế, là nguồn cơ bản
giúp cho mọi người, mọi nhà có thu nhập để trang trải các nhu cầu cuộc sống. Làm
VAC không chỉ là nông dân mà tất cả mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ công nhân viên,
cựu chiến binh, mọi người, mọi nhà có điều kiện và ham thích nghề làm vườn.
a. Trên mọi miền đất nước, vườn, ao, hồ và đất hoang hóa chiếm tỉ lệ đáng kể
trong tổng diện tích đất nông nghiệp, nhưng là vườn tạp, ao hoang, kém hiệu quả,
trong khi đó nhân dân ta thừa lao động, thiếu việc làm, tiền không có để tiêu.
Chỉ thị 35 của Ban Bí thư TW Đảng cuối năm 1985 về phát triển kinh tế gia
đình là cơ sở để phát động phong trào cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng trống được
quần chúng hưởng ứng càng ngày càng mạnh. Mỗi năm cải tạo hàng nghìn ha. Đến
nay, ở nhiều tỉnh thành, vườn tạp đã được cải tạo cơ bản 70 – 80%. [34]
b. Về chăn nuôi, do lượng lương thực tăng nhanh, việc nuôi gia cầm, gia súc
phát triển mạnh. Phong trào phát triển, các yếu tố V – A – C được nhân rộng, nhân dân
áp dụng với tốc độ rất nhanh. Tùy theo tính chất địa lí sinh thái của từng vùng mà nhân
dân thực hiện VAC – VA – AC – VC hoặc sáng tạo thêm VAC–Rừng, VAC–
Biogas… chủ yếu là cải tạo vườn tạp, ao hoang, chuồng chăn nuôi, tăng cường sản
xuất sản phẩm VAC, tăng thu nhập để xóa đói giảm nghèo, đi lên làm giàu chỉ sau thời
gian ngắn, ở địa phương nào cũng có hiệu quả rõ rệt. [9]
Như vậy có thể nói làm kinh tế VAC là con đường để mọi gia đình nhanh

và thấp nhất là Tây Bắc 1,09 triệu đồng/ha. Nhưng khi chuyển đổi sang làm VAC thì 1
ha cây ăn quả thu tới 70 triệu đồng/ha/năm (Cây đặc sản đạt 150 – 200 triệu đồng/ha)
một vụ lúa và một vụ tôm thu 40 – 50 triệu đồng/ha, chuyên nuôi cá, thu 300 – 500
triệu đồng/ha/năm.[9]
Do thu nhập từ VAC tăng nhanh, các hộ nông dân ở mọi miền đất nước đã tích
cực dồn điền đổi thửa (Số thửa bình quân của một hộ giảm từ 6 thửa xuống còn 4
thửa), thuê, mượn thêm đất canh tác hoặc đấu thầu canh tác, khai khẩn đồi trọc ruộng
trũng, ao hoang thùng đào, thùng đấu để phát triển kinh tế VAC. Nhiều hộ nông dân có
kinh nghiệm sản xuất giỏi đã đầu tư công của mở rộng quy mô sản xuất VAC trở thành
trang trại VAC. Bình quân trong 5 năm qua diện tích vườn mới trồng và cải tạo vườn
tạp ở một tỉnh là 10.905 ha, diện tích ao hồ cải tạo và ao mới được xây dựng để nuôi
trồng thuỷ sản là 4.811ha.[9]
15

f. Có thể nói rằng phong trào làm VAC do VACVINA đề xướng và vận động
đã chuyển động liên tục từ phát triển VAC từ cấp tự túc sang VAC kinh tế; Từ VAC
kinh tế giản đơn là: “Để có thêm đồng ra đồng vào” để trang trải cho sinh hoạt gia
đình đã chuyển sang phát triển VAC hàng hoá, VAC trang trại hướng đến khách hàng.
Rất nhiều hộ nông dân nhờ làm VAC hàng hoá mà trở nên giàu có, từ làm VAC mà
điều kiện sinh hoạt của hộ gia đình được cải thiện, nhất là về nhà ở, mua sắm vật dụng
lâu bền, phương tiện đi lại và các vật dụng đắt tiền khác.[9]
1.2.3. Phát triển VAC trang trại góp phần phát triển nông nghiệp hàng hoá
Năm 1999 Bộ chính trị Trung ương Đảng có Nghị quyết về kinh tế trang trại,
Chính phủ có Nghị quyết 03 đầu năm 2000 về phát triển kinh tế trang trại. Từ đây
nhân dân yên tâm đi vào làm trang trại mạnh mẽ.
a. Theo tiêu chí kinh tế trang trại với quy mô sản xuất ở một hộ từ 2 ha trở lên
gọi là kinh tế trang trại (KTTT). Phát triển kinh tế trang trại sẽ thúc đẩy việc khai thác
đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá ven sông, ven biển thúc đẩy việc chuyển đổi vùng
úng trũng cấy lúa bấp bênh sang làm kinh tế VAC, thúc đẩy việc khai thác tận dụng
diện tích mặt nước ao hồ đầm vạc nuôi thuỷ sản để tăng thu nhập. Phát triển kinh tế

d. Để tuyên truyền phổ biến hoạt động trang trại, Câu lạc bộ trang trại Việt Nam
đã xuất bản thông tin chuyên đề trang trại và lập trang chuyên đề trang trại trên Báo
“Thông tin thị trường” sau này ở Báo kinh tế nông thôn đồng thời kết hợp với Đài
truyền hình VTV1, VTV2 xây dựng các chuyên đề như “Những vấn đề cơ bản về
trang trại, làm thế nào để trang trại bền vững” “Xử lí ô nhiễm môi trường ở trang trại”.
Và đã phát sóng nhiều lần trên Đài truyền hình Trung ương và địa phương.
1.2.4. Hoạt động mô hình VAC góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
VAC (vườn, ao, chuồng) là một hệ sinh thái khép kín, có sự kết hợp chặt chẽ
giữa 3 yếu tố. Tất cả các loài sinh vật sống (cây trồng, cá dưới ao, gia súc ở chuồng
trại) cùng sống trên địa bàn, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, có tác dụng qua lại
với nhau thông qua hoạt động của con người và với môi trường xung quanh. Phát triển
trồng trọt ở các loại vườn (vườn quanh nhà, vườn bờ ao, ruộng vườn chậu, vườn dàn
trên không, vườn treo ) là khai thác quá trình quang hợp của cây (chất diệp lục của
cây xanh) lấy năng lượng mặt trời tổng hợp thành chất đường bột nuôi sống con người
và sinh vật. Ao cá cung cấp nước cho cây trồng và để nuôi cá. Chất thải của người, gia
súc, phế phụ phẩm thuỷ sản đưa vào hầm ủ sinh khí metan (CH
4
) là năng lượng tái
sinh có thể sử dụng để thắp sáng, đun nấu (1m
3
metan khi đốt cháy thu được 5.200 –
5.800 kcal).[9]

Để thực hiện mục tiêu trên, VACVINA đề xuất chủ trương và vận động phát
triển VAC là nhằm 2 mục đích:
17

– Phát triển sản xuất tăng thu nhập cho hộ gia đình, xoá đói giảm nghèo.
– Phát triển năng lượng tái sinh bằng kĩ thuật xây hầm sản xuất khí sinh học cải
tiến, đề xuất công nghệ Biogas VACVINA cải tiến.

được dẫn xuống ao hàng ngày. Phân của vật nuôi trong gia đình, trang trại cũng được

Trích đoạn Hoạt động tham gia tập huấn Hiện trạng kĩ thuật NTTS trong mô hình VAC Nhận thức về vai trò NTTS trong mô hình VAC Khó khăn, hướng phát triển và kiến nghị của người nuôi Đánh giá hiệu quả kinh tế–xã hội của NTTS trong mô hình VAC
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status