BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN NGỌC KHÁNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀNG CÂU CÁ NGỪ ĐẠI
DƯƠNG Ở THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ iv
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3
1.1.1. Nghiên cứu sự di cư của cá ngừ và xác định ngư trường 3
1.1.2. Độ sâu phân bố của cá ngừ đại dương 4
1.1.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ nước biển đến sự phân bố của cá ngừ 5
1.1.4. Ảnh hưởng của địa hình đáy biển đến sự phân bố của cá ngừ 6
1.1.5. Đặc điểm sinh học cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 6
1.1.6. Đặc điểm sinh học cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) 7
1.1.7. Công nghệ khai thác cá ngừ 8
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 9
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1. Nội dung nghiên cứu 15
2.1.1. Khảo sát hiện trạng nghề câu cá ngừ ở thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên 15
2.1.2. Khảo sát việc sử dụng vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến trong thực tiễn sản
xuất ở thành phố Tuy Hòa 15
2.1.3. Đánh giá hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 15
2.2. Phương pháp nghiên cứu 15
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tổng quát 15
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 15
2.2.4. Phân tích và xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. Hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa-Phú Yên 27
3.1.1. Cơ cấu nghề nghiệp nghề khai thác hải sản tỉnh Phú Yên 27
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là do quá trình nghiên cứu tài liệu,
thực hiện điều tra, khảo sát tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên và các chuyến đánh
bắt thử nghiệm trên tàu làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương tại thành phố Tuy Hòa,
tỉnh Phú Yên.
Một số số liệu sử dụng trong luận văn được trích từ một phần kết quả của đề tài
cấp Bộ: “Nghiên cứu cải tiến ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại
dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ”. Các số liệu này được Lãnh đạo
Viện Nghiên cứu Hải sản, Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ nói trên cho phép sử dụng.
Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp
khoa học và đảm bảo độ tin cậy. Kết quả nghiên cứu của luận văn là mới, không trùng
lặp với bất cứ luận án bảo vệ học vị nào đã có trước đây.
Hải Phòng, ngày 01 tháng 04 năm 2011
Tác giả
Trần Ngọc Khánh
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nội dung viết tắt
4 CP
Chi phí
5 CT
Cải tiến
6 cv
Mã lực
7 d
Đường kính dây câu
8 ĐC
Đối chứng
9 DTTB
Doanh thu trung bình
10 ĐVT
Đơn vị tính
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương 12
Bảng 1.2: Kích thước trung bình vỏ tàu câu vàng theo nhóm công suất 13
Bảng 2.1: Thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương tàu PY2979BTS 18
Bảng 2.2: Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương cải tiến 21
Bảng 3.1: Cơ cấu đội tàu khai thác hải sản tỉnh Phú Yên 27
Bảng 3.2: Biến động tỷ lệ ngành nghề khai thác theo kích thước vỏ tàu tại tỉnh Phú Yên
năm 2009 28
Bảng 3.3: Thông số cơ bản vỏ tàu làm nghề lưới câu vàng cá ngừ đại dương 28
Bảng 3.4: Thống kê máy chính và máy phụ trang bị trên tàu 29
Bảng 3.5: Thống kê trang thiết bị hàng hải, khai thác 29
Bảng 3.6: Vàng câu cá ngừ đại dương trang bị trên tàu 30
Bảng 3.7: Thông số cơ bản vàng câu thử nghiệm lựa chọn chiều dài thẻo câu phù hợp của
đề tài và vàng câu đối chứng 34
Bảng 3.8: Bảng thống kê trang bị toàn bộ vàng câu cá ngừ đại dương do đề tài đề xuất .35
Bảng 3.9: Tổng hợp các mẻ câu thí nghiệm vàng câu đối chứng của tàu PY92979TS 37
Bảng 3.10: Tổng hợp các mẻ câu thí nghiệm vàng câu cải tiến trên tàu PY92979TS 38
Phụ lục 1: Lưới rê khai thác cá chuồn làm mồi câu cá ngừ đại dương trên tàu PY92979TS
Phụ lục 2: Thống kê kết quả khai thác trong quá trình thí nghiệm
Phụ lục 3: Năng suất khai thác vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng và vàng câu cá ngừ
đại dương cải tiến (ĐVT:kg/100 lưỡi câu)
Phụ lục 4: So sánh năng suất khai thác vàng câu cá ngừ đại dương đối chứng và vàng câu
cá ngừ đại dương cải tiến
Phụ lục 5: Hình ảnh hoạt động thử nghiệm
Phụ lục 6: Phiếu điều tra và thu số liệu trên tàu thí nghiệm
1
MỞ ĐẦU
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới; vùng biển nước ta có 2 loài cá ngừ có
giá trị kinh tế cao và đang được ngư dân khai thác mạnh là cá ngừ vây vàng (Thunnus
albacares) và cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) (sau đây gọi tắt là cá ngừ đại dương).
Đây cũng là hai loài cá ngừ có kích thước cá thể lớn (chiều dài lớn nhất có thể đạt tới
250 cm), có giá trị kinh tế cao, đồng thời cá ngừ vây vàng là loài cá “nhiệt đới”, rất
phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng biển nước ta (Kitty Simonds and William L.
Robinson, 2006).
Nghề câu vàng cá ngừ đại dương đã được du nhập vào nước ta từ năm 1992. Đến
năm 2004, số lượng tàu câu vàng cá ngừ đại dương của cả nước có khoảng 1.670 tàu,
trong đó có khoảng 45 tàu câu công nghiệp, số còn lại là các tàu có kích thước nhỏ với
công nghệ khai thác thô sơ. Nghề câu vàng cá ngừ đại dương được du nhập vào nước ta
theo cách tự phát và ít được nghiên cứu hoàn chỉnh về kết cấu ngư cụ; qui trình khai
thác cho phù hợp với cỡ tàu thuyền và ngư trường Việt Nam.
Hiện nay tồn tại hai mô hình câu vàng là mô hình câu thủ công và mô hình câu
công nghiệp. Mô hình câu thủ công có đặc điểm là cứ mỗi dây thẻo câu có một phao
ganh, vì vậy các lưỡi câu đều có độ sâu đồng nhất. Do cách kết cấu như vậy nên trong
thực tế ngư dân thường sử dụng độ sâu lưỡi câu trong khoảng 45 - 65 m. Hiện nay hầu
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Cá ngừ là đối tượng khai thác quan trọng ở vùng nước xa bờ và đang được sự
đầu tư phát triển khai thác, chế biến và quản lý nguồn lợi của rất nhiều quốc gia trên
thế giới. Trong 30 năm qua, sản lượng khai thác cá ngừ đã tăng gấp đôi, từ 2 triệu tấn
(1975) tăng lên hơn 4 triệu tấn (2005). Hiện nay, việc khai thác các đối tượng cá ngừ
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự phân bố của cá ngừ với điều kiện môi
trường đã được tiến hành [13],[16],[18], [20]. Một số công trình nghiên cứu đã phát
hiện ra rằng sự phân bố của cá Ngừ gắn kết chặt chẽ với nhiệt độ nước biển. Nhiệt độ
thích hợp cho sự tập trung các đàn cá Ngừ vào khoảng từ 15 – 30 độ C, phổ biến nhất
là ở khoảng nhiệt độ từ 18 – 28 độ C. Khi nhiệt độ của vùng nước bị nóng lên, cá Ngừ
có xu hướng di chuyển đến những vùng có nhiệt độ thấp phù hợp. Dựa vào đặc tính
này, kết hợp với kỹ thuật viễn thám [21], sẽ giúp cho việc xác định sự di chuyển của
các đàn cá Ngừ. Các ảnh chụp từ vệ tinh sẽ cho bản đồ nhiệt độ của cả một vùng biển
rộng lớn với những vùng có màu sắc khác nhau, tương ứng với nhiệt độ bề mặt nước
biển khác nhau. Dựa vào sự thay đổi màu sắc của bản đồ nhiệt độ qua từng ngày, kết
hợp với kết quả đánh bắt kiểm chứng, sẽ suy ra sự di chuyển và biết được sự phân bố
của cá Ngừ (Stretta, 1991). Điều này rất có ý nghĩa cho đội tàu khai thác, giảm được
chi phí nhiên liệu trong quá trình chạy tàu tìm cá và tăng hiệu quả khai thác rất nhiều.
Ngoài ra ảnh hưởng của các dòng hải lưu cũng tác động đến sự phân bố và di cư
của cá Ngừ. ở vùng biển phía Tây Thái Bình Dương, cá Ngừ thường tập trung theo dải
vĩ độ 2
0
N - 2
0
S và 3
0
N - 6
0
N, tương ứng với ảnh hưởng của dòng hải lưu xích đạo
(EC) và dòng Hải lưu Ngược Xích đạo Bắc (NECC). Rõ ràng, các dòng hải lưu đã ảnh
hưởng đến sự di chuyển của các đàn cá Ngừ [21].
Kết hợp với số liệu đánh bắt của nghề cá thương phẩm thông qua nhật ký và số
liệu thu được từ các bến cá đã giúp cho việc đánh giá và xác định ngư trường. Các kết
quả nghiên cứu về ngư trường cá Ngừ được thể hiện trên các bản đồ ngư trường, giúp
cho các tàu nâng cao được năng suất đánh bắt.
trung của cá Ngừ trên biển thông qua sự phân tích sự biến động nhiệt độ nước biển,
mật độ thực vật phù du, bản đồ dòng chảy của cả một vùng biển rộng lớn. Các phần
mềm hiển thị nhiệt độ bề mặt nước biển trên toàn thế giới thông qua sự quan trắc từ vệ
tinh cũng đã được ứng dụng. Ứng với từng dải nhiệt độ nước biển, trên màn hình sẽ
hiển thị các màu sắc khác nhau tương ứng; Căn cứ vào các dữ liệu thu được, ta có căn
cứ để xác định những khu vực tập trung cá ngừ. Điều này sẽ hỗ trợ tốt và giảm chi phí
tìm kiếm cá cho đội tàu khai thác cá ngừ [21].
Các tàu đánh cá ngừ công nghiệp đã và đang sử dụng các dịch vụ hỗ trợ đánh
bắt cá ngừ thông qua vệ tinh. Đó là các phần mềm như “Seastar”, “Catsat” Các phần
mềm này sẽ cho biết các bản đồ qui mô toàn cầu về biến động của mực nước biển, bản
đồ về các dòng chảy, biểu hiện sự di chuyển của các khối nước và định vị các fron, các
dòng xoáy đại dương; Bản đồ về sự phân bố của các khối nước giàu thực vật phù du;
Bản đồ dự báo khí tượng để điều chỉnh các hoạt động đánh bắt và góp phần bảo đảm
an toàn cho các hoạt động trên biển. Các số liệu này có thể truy cập 2 lần một tuần,
riêng dự báo khí tượng có thể cập nhật hàng ngày. 6
1.1.4. Ảnh hưởng của địa hình đáy biển đến sự phân bố của cá ngừ
Địa hình đáy biển cũng có ảnh hưởng đến sự phân bố của cá Ngừ. Nhiều tàu
đánh cá Ngừ của Nhật dùng máy dò để phát hiện các gò nổi và bãi cát ngầm, đây cũng
chính là nơi cá Ngừ thường tập trung. Quanh các gò nổi ở độ sâu 400 - 700m vùng
Kyushu thường tập trung nhiều Cá ngừ Vây vàng và Ngừ Mắt to [20]. Đàn cá thường
tập trung ở phía trên nước so với gò nổi.
Hanamoto, E. (1987) đã dùng máy dò để quan sát lớp nước bơi của cá ngừ gần
hai gò nổi cao 1000 - 2000m so với đáy biển. Lớp nước bơi của cá ngừ nằm giữa hai
gò nổi sâu khoảng 100 - 200m. Kết quả quan sát cho thấy độ sâu bơi của cá Ngừ trở
nên nông hơn khi gần các gò nổi [20].
1.1.5. Đặc điểm sinh học cá ngừ mắt to (Thunnus obesus)
Cá ngừ Mắt to mặc dù phân bố rộng trong cùng vĩ độ với cá ngừ vây vàng,
7
Vùng sinh đẻ của cá ngừ mắt to khá rộng ở TBD, trong vùng nhiệt đới nơi có vĩ
độ cao và nhiệt độ trên 24
0
C ([40], Kume 1966; Miyabe 1994). Hisada (1979) [16], phát
hiện rằng Cá ngừ Mắt to thường phân bố ở lớp nước xáo trộn, với độ sâu ít nhất 50m.
Trong vùng biển TBD, cá ngừ mắt to phân bố rộng. Ở phần phía tây TBD, cá
phân bố từ phía Bắc Nhật Bản đến Bắc Newzeland, từ vĩ độ 40
0
N đến 30
0
S. Sự phân
bố của cá ngừ phụ thuộc vào nhiệt độ nước và lượng oxy hoà tan. Độ muối không
đóng vai trò quan trọng trong sự phân bố của cá ngừ [20].
Schaefer và Fuller (2002) nhận thấy cá ngừ ở Đông TBD dùng hầu hết thời gian
ban ngày ở độ sâu 200 - 300 m, với nhiệt độ 13
0
- 14
0
C. Chúng có thể lặn dưới 1.500m
và ở nhiệt độ <3
0
C.
Vào ban ngày, cá ngừ mắt to thường tập trung ở độ sâu 220 - 240m và ban đêm
nổi lên ở độ sâu 70 - 90m, [20]. Tập tính di cư thẳng đứng, nổi lên đến tầng nước 50 -
70m cũng đã được Nguyễn Long (2005) khẳng định khi nghiên cứu về nghề câu vàng
cá ngừ đại dương [5].
1.1.6. Đặc điểm sinh học cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares)
Trong khi người ta cho rằng cá ngừ mắt to là cá ngừ phân bố trung gian giữa
- 31
0
C . Độ mặn
không ảnh hưởng đến sự phân bố của cá ngừ như nhiệt độ và độ trong của nước
(Hisada, 1979) [15], [20].
Đã có nhiều dự án nghiên cứu sự di cư của cá ngừ bằng cách đánh dấu và thả
xuống biển, sau đó bắt lại cá để biết sự di cư của cá. Ví dụ: Dự án Đánh giá và Điều
tra Cá Ngừ (SSAP) đã đánh dấu và thả 9.464 cá ngừ cây vàng, bắt lại được 264 con
(2,8%); Dự án đánh dấu cá ngừ đã đánh dấu và thả 40.075 con cá ngừ vây vàng ở
Trung Tây TBD, bắt lại được 4.950 con [19], [20].
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết cá đã thả bị bắt lại trong thời gian ngắn và
cách xa nơi thả chỉ vài trăm hải lý. Số lượng cá di cư xa bị bắt lại rất ít. Khoảng cách
xa nhất là cá thả ở Fiji và bị bắt ở phía Đông TBD bằng tàu lưới vây Mỹ cách 3.800
hải lý. Những điều này chứng tỏ cá ngừ cây vàng không phải loài di cư xa.
Sự di cư của cá ngừ vây vàng có đặc điểm theo mùa: chúng đến vùng nước ấm
ở vĩ độ cao và trở về vùng vĩ độ thấp khi đến mùa đông (Suzuki,1978). Những ví dụ về
tình trạng này có thể thấy ở Nhật Bản với cá ngừ vây vàng ở dòng hải lưu Kuroshio.
Sự di chuyển của cá ngừ ở dòng hải lưu Đông Austraylia, hoặc sự xuất hiện theo mùa
của cá ngừ vây vàng ở California và Newzeland [21].
Nhiều nghiên cứu cho rằng cá ngừ vây vàng dùng hầu hết thời gian sống ở lớp
nước xáo trộn tầng mặt. Cá ngừ vây vàng nhỏ ở Hawaii thường ở lớp nước xáo trộn
hoặc ở trên tầng nhiệt đột biến, trong khi cá lớn dùng 60-80% thời gian ở trong hoặc
ngay dưới lớp nước xáo trộn trong khoảng 100m sâu (Brill , 1994, [11]).
Cá ngừ Vây vàng có thể lặn sâu tới 464m [40]. Tuy nhiên số liệu gần đây
nhất (Dagorn et all, 2006, [12]) cho rằng cá ngừ Vây vàng có thể lặn sâu tối đa
đến 1.000m.
1.1.7. Công nghệ khai thác cá ngừ
Nghề khai thác cá ngừ ở phía tây Thái Bình Dương là quan trọng nhất trong
nghề khai thác cá ngừ của thế giới; đã cung cấp hơn nửa số cá ngừ khai thác của toàn
cầu. Năm 2004, cung cấp 2 triệu tấn cá ngừ, chiếm 78% sản lượng cá ngừ của Thái
dương bằng hình thức câu tay. Lưỡi câu sử dụng mồi mực được thả ở độ sâu từ 50 -
150m.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về cá ngừ đại dương ở trong nước mới chỉ tập trung chủ yếu
vào điều tra nguồn lợi, đặc điểm sinh học, ngư trường khai thác. Tuy nhiên, các nghiên
cứu chưa có điều kiện nghiên cứu sâu, các số liệu nghiên cứu còn mỏng. Các nghiên 10
cứu về khai thác cá ngừ đại dương hầu như chưa được tiến hành có hệ thống, mà chỉ là
các báo cáo nhỏ lẻ.
+ Nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ
- Năm 1960, trong Chương trình hợp tác Việt - Xô, lần đầu tiên cá ngừ được
tiến hành nghiên cứu trên các tàu nghiên cứu cá biển Việt - Xô (cũ). Khu vực nghiên
cứu chủ yếu là Vịnh Bắc Bộ và một số chuyến biển nghiên cứu ở phía nam Vịnh.
- Năm 1991 - 1993, đề tài KN04-01 đã tập trung nghiên cứu nguồn lợi cá ngừ ở
Vịnh Bắc Bộ và biển miền Trung. Đã đưa ra kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học
của các loài cá ngừ như: ngừ chù (auxis tharzard); ngừ chấm (euthynnus affinis); cá
ngừ bò (thunnus tonggol); cá ngừ ồ (auxis rochei) ở vùng biển nghiên cứu và đã đưa ra
bản Atlat cá ngừ ở biển Việt Nam, 8 loài cá ngừ được mô tả cùng với các đặc điểm
sinh học của chúng.
- Năm 1994 - 1997, đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi sinh vật biển quần đảo
Trường Sa” đã nghiên cứu tổng hợp nguồn lợi sinh vật vùng ven đảo phía Nam và
Tây Nam quần đảo Trường Sa cho thấy, ở khu vực nghiên cứu có trên 400 loài hải sản,
trong đó có trên 40 loài thu được bằng lưới rê, trên 10 loài thu được bằng nghề câu
vàng. Kết quả nghiên cứu cũng cho biết đặc điểm sinh học, năng suất khai thác, sản
lượng của một số đối tượng chính như ngừ vằn. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu và
nội dung nghiên cứu còn hẹp nên kết quả mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định.
- Năm 1996 - 1997, Dự án “Khảo sát nguồn lợi biển Việt Nam” do JICA (Nhật
Theo kết quả điều tra của tác giả Đào Mạnh Sơn từ năm 2000 đến năm 2004
cho thấy họ cá thu ngừ là đối tượng khai thác chính của nghề câu vàng, chiếm 17,55-
60,79% sản lượng câu vàng vụ Nam và 2,19 - 66,80% sản lượng câu vàng vụ Bắc.
Trong đó chủ yếu là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to.
+ Trữ lượng và khả năng khai thác bền vững một số loài cá ngừ đại dương ở
biển Việt Nam
Trong những năm gần đây số lượng tàu thuyền và cường lực đánh bắt ngày
càng tăng, nhưng năng suất đánh bắt cá nổi lớn ở vùng biển xa bờ lại có xu hướng
giảm xuống. Cá ngừ vằn là đối tượng khai thác chính của nghề lưới rê ở vùng biển xa
bờ cũng trong tình trạng tương tự.
Tổng hợp các nguồn số liệu, trữ lượng cá ngừ vằn vùng biển xa bờ miền Trung
và Đông Nam Bộ ước tính vào khoảng 618.000 tấn, khả năng khai thác bền vững là
216.000 tấn; trữ lượng cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to vào khoảng 44.853 – 52.591
tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 17.000 tấn (bảng 1.1).
12
Bảng 1.1: Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương
(Nguồn: Đào Mạnh Sơn, 2005)
Loài cá Trữ lượng (tấn)
Khả năng khai thác
bền vững (tấn)
Cá ngừ vằn 618.000 216.000
Cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to 44.853 - 52.591 17.000
Tổng cộng 662.853 - 670.591 233.000
0
00E - 115
0
00E).
Ngư trường hoạt động nghề câu vàng cá ngừ đại dương thay đổi theo mùa.
Thông thường, những tháng đầu mùa (tháng 12 – 3 năm sau), tàu thường khai thác ở
vùng biển Bắc Biển Đông, Đông Bắc Hoàng Sa, Bắc Trường Sa, các tháng giữa mùa
(tháng 4 - 6) ở vùng biển Trường Sa, miền Trung và những tháng còn lại ở vùng biển
Nam Trường Sa, Nam Biển Đông. Như vậy, cá ngừ có tính di cư theo mùa (từ đầu
năm đến cuối năm) từ Bắc xuống Nam.
+ Nghề câu vàng khai thác cá ngừ đại dương ở Việt Nam
- Tàu thuyền làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương
Theo số liệu thống kê năm 2004, số lượng tàu câu vàng cá ngừ đại dương có
1.670 tàu, tập trung ở các đội tàu có công suất > 90CV là 921 chiếc (Bộ Thủy sản,
2004). Các tàu này chủ yếu tập trung ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, TP.
Hồ Chí Minh.
Phần lớn đội tàu làm nghề câu vàng cá ngừ đại dương đều là tàu cỡ nhỏ, vỏ tàu
được làm bằng gỗ có chiều dài từ 14 - 16m, lắp máy công suất < 150cv. Từ khi có
chương trình khai thác hải sản xa bờ của nhà nước năm 1997 trở về đây, số lượng tàu 13
thuyền có công suất máy lớn đã tăng lên đáng kể và cũng đã xuất hiện một số tàu mới
hiện đại đóng bằng vỏ composite.
Kết quả điều tra kích thước vỏ tàu của các đội tàu làm nghề câu vàng của đề tài
“Cá nổi lớn” ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa được trình bày trong bảng
1.2.
Bảng 1.2: Kích thước trung bình vỏ tàu câu vàng theo nhóm công suất
(Nguồn: Đào Mạnh Sơn, 2005)
bàn, thông tin liên lạc Thiết bị và kỹ thuật bảo quản sản phẩm trên tàu còn thiếu và
lạc hậu (chỉ sử dụng nước đá xay để bảo quản sản phẩm).
Tóm lại: năm 2005 để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu nhằm cải tiến vàng câu cá
ngừ đại dương trên các tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân, Bộ Thủy sản đã giao
cho Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện đề tài độc lập cấp Bộ: “Nghiên cứu cải tiến và
ứng dụng công nghệ mới trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và
Đông Nam bộ” (gọi tắt là đề tài “Câu cá ngừ đại dương”). Một trong những nội dung
chính của đề tài là: Nghiên cứu cải tiến vàng câu cá ngừ đại dương trên các tàu câu
thủ công của ngư dân. Sau khi hoàn thành, đề tài trên đã đề xuất mẫu vàng câu cá ngừ
đại dương cải tiến. Tuy nhiên, hiệu quả khai thác của vàng câu cá ngừ đại dương mà
đề tài “Câu cá ngừ đại dương” đề xuất chưa được đánh giá trong thực tế.
Đề tài “Đánh giá hiệu quả vàng câu cá ngừ đại dương ở thành phố Tuy Hòa
tỉnh Phú Yên” trong khuôn khổ luận văn cao học là một bước tiếp theo hết sức cần
thiết trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả ứng dụng của công trình nghiên cứu
khoa học vào thực tiễn sản xuất.
khảo sát thực tiễn vv.
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu tổng quát
Tác giả tiến hành: thu thập số liệu hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại dương ở
địa phương nghiên cứu. Điều tra, khảo sát việc sử dụng vàng câu cá ngừ đại dương cải
tiến vào thực tiễn sản xuất.
Trên cơ sở đó lựa chọn địa điểm, thiết bị và thời gian để tiến hành nghiên cứu
thực nghiệm trên biển.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.2.1.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trạng nghề câu vàng cá ngừ đại
dương 16
- Trên cơ sở đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu cải tiến và ứng dụng công nghệ mới
trong nghề câu cá ngừ đại dương ở vùng biển miền Trung và Đông Nam bộ” đã chọn
địa phương nghiên cứu là thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tác giả cũng chọn cùng
địa phương này để nghiên cứu.
- Điều tra, phỏng vấn thuyền trưởng hoặc chủ tàu thu thập số liệu về tàu thuyền,
ngư cụ và trang thiết bị, doanh thu, chi phí
- Khảo sát, lập bản vẽ kỹ thuật vàng câu cá ngừ đại dương: Tiến hành khảo sát,
lập bản vẽ kỹ thuật vàng câu cá ngừ đại dương đang được sử dụng khai thác hải sản tại
địa phương nghiên cứu, thông qua đo đếm thực tế vàng câu và phỏng vấn các chủ tàu,
thuyền trưởng.
- Trên tàu sản xuất, tiến hành phân tích sinh học với đối tượng khai thác chính:
xác định loài, đo chiều dài kinh tế (FL); cân trọng lượng cá thể; xác định tình trạng cá
mắc câu.
- Kỹ thuật khai thác: thông qua việc phỏng vấn thuyền trưởng tại các bến cá, sau
đó trực tiếp đi biển trên tàu thí nghiệm nhằm phân tích, đánh giá kỹ thuật khai thác
phù hợp với điều kiện trên tàu.