Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề câu cá ngừ đại dương ở tỉnh bình định - Pdf 22

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG TRẦN NAM CHUNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ NGHỀ CÂU CÁ
NGỪ ĐẠI DƯƠNG Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHA TRANG – 2011

iii

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Luận văn “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề câu vàng cá ngừ đại
dương ở tỉnh Bình định” là công trình nghiên cứu cứu của riêng tôi.
Các số liệu trong luận văn được thể hiện trung thực, có nguồn trích dẫn cụ thể
và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình khoa học nào khác. Từ số liệu về tàu
thuyền, nghề nghiệp khai thác, hiệu quả kinh tế của nghề câu cá ngừ đại dương của cả
nước đến các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực hải sản, do tôi thu thập tại Cục
Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy
sản Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa, các báo cáo chuyên ngành của Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn của các tỉnh trên, và các số liệu điều tra, phỏng vấn
trong khôn khổ Dự án Quản lý cá ngừ đại dương khu vực Trung và Tây Thái Bình
dương – Đông Á, đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học để sắp xếp lại cơ cấu nghề nghiệp
khai thác thủy sản.
Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm về nội dung trong luận văn “Đánh giá
hiệu quả nghề câu cá ngừ đại dương của tỉnh Bình Định” do tôi thực hiện.

iv

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, trước tiên tôi muốn nói lời cảm ơn chân thành tới
Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nha Trang, các thầy, cô tham gia tổ chức lớp, giảng
dậy đã không quản thời gian và khoảng cách địa lý tạo điều kiện mở lớp cao học Khai

5 cv Mã lực
6 d Đường kính dây câu
7 WCPFC
Dự án quản lý cá ngừ đại dương Trung và Tây Thái bình
dương
-
Đông Á

8 DTTB Doanh thu trung bình
9 ĐVT Đơn vị tính
10 FL Chiều dài thân cá
11 g Gram
12 GHTC Giới hạn tin cậy
13 HSBT Hệ số biến thiên
14 N Cỡ mẫu
15 SD Độ lệch chuẩn
16 SL Sản lượng
17 SLTB Sản lượng trung bình
18 SSAP Dự án đánh và điều tra cá ngừ
19 TB Trung bình
20 TBD Thái bình dương
21 TL Trọng lượng
vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1- 1. Thống kê tàu thuyền, lao động theo địa phương 4
Bảng 1-2. Cơ cấu tàu thuyền của tỉnh Bình Định theo nghề và công suất năm 2009 5
Bảng 3-1: Chiều dài trung bình của một số loài cá ngừ đại dương 31
Bảng 3-2: Ước tính trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương 31

Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 3
Hình 1-2: Biểu đồ phân bố số lượng tàu thuyền của nghề theo nhóm công suất 5
Hình 1-3: Biểu đồ phân bố số lượng tày thuyền của từng nghề theo tổng số tàu 6
Hình 1-4. Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus) 16
Hình 1-5. Cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares) 17
Hình 1-6. Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ cá Nam năm 2000-
2004 20
Hình 1-7. Bản đồ phân bố ngư trường cá ngừ đại dương vụ Bắc (2000-2004) 21
Hình 3-6. thành phần sản phẩm khai thác nghề câu Bình Định 40
Hình 3-7: Biểu đồ năng suất đánh bắt theo mẻ câu 49
Hình 3-8. Biểu đồ sản lượng khai thác (kg/ngày hoạt động trên biển) 50
viii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1. Tổng quan nghề khai thác thuỷ sản tỉnh Bình Định 3
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của Bình Định 3
1.1.2. Năng lực nghề khai thác thủy sản Bình Định 3
1.1.3. Cơ cấu nghề đánh bắt hải sản của Bình Định 4
1.2. Tình hình nghiên cứu nghề khai thác cá ngừ đại dương ở nước ngoài 6
1.2.1. Xác định ngư trường và đặc tính di cư của cá 6
1.2.2. Nghiên cứu tập tính cá ngừ 7
1.2.3. Nghiên cứu về mồi câu cá ngừ 7
1.2.4. Nghiên cứu về công nghệ khai thác cá ngừ 8
1.2.5. Nghiên cứu về hiệu quả khai thác thủy sản 9
1.3. Tình hình nghiên cứu nghề khai thác cá ngừ đại dương ở trong nước 10
1.3.1. Các kết quả nghiên cứu về nguồn lợi cá ngừ trên vùng biển Việt Nam 10
1.3.2. Các kết quả nghiên cứu về công nghệ khai thác cá ngừ 11

suất 33
3.2.3. Đặc điểm tàu thuyền nghề câu CNĐD tỉnh Bình Định 34
3.2.4. Tình hình trang bị máy động lực trang bị trên tàu. 35
3.2.5. Tình hình trang bị máy hàng hải-thông tin liên lạc 35
3.3. Thực trạng ngư cụ nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Bình Định 36
3.3. Thực trạng về lao động nghề câu CNĐD tỉnh Bình Định 38
3.4. Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề câu CNĐD tỉnh Bình Định 39
3.4.1. Dựa theo sản lượng và thành phần sản phẩm của nghề câu CNĐD 39
3.4.2. Dựa vào doanh thu của nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Bình Định 42
3.4.3. Chi phí cuả nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Bình Định 46
3.4.4. Dựa theo lợi nhuận của nghề câu cá ngừ đại dương tỉnh Bình Định 47
3.4.5. Dựa theo chỉ số thu nhập bình quân của lao động tàu câu CNĐD 47
3.4.6. Đánh giá hiệu quả kinh tế theo năng suất khai thác trung bình mẻ câu. 48
3.4.7. Đánh giá hiệu quả kinh tế theo năng suất khai thác bình quân ngày câu 49
3.4.8. Đánh giá hiệu quả kinh tế qua hệ số hoạt động của cả đội tàu 50
3.5. Ý kiến đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nghề câu cá ngừ đại dương
tỉnh Bình Định. 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1. Kết luận 54
2. Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 1 MỞ ĐẦU

Nghề khai thác cá ngừ đại dương của Việt Nam còn rất non trẻ so với các nước
phát triển khác trên thế giới, công nghệ đánh bắt và bảo quản thô sơ theo phương thức

biển được tạm hiểu là 1 chứng chỉ khai thác, kinh doanh có tính bền vững. Nước nào,
sản phẩm nào có chứng chỉ này thì giá bán cao hơn, không có thì giá bán thấp hơn.
Trước những vấn đề hệ lụy của nghề cá quy mô nhỏ trong nước và các yêu cầu
của sự hội nhập thế giới, vấn đề quản lý và phát triển cải thiện đời sống cho bà con
ngư dân theo hướng phát triển bền vững nghề khai thác cá ngừ đại dương là đề bài lớn
cần lời giải cho cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Vì những lý do nêu trên thì việc nghiên cứu ”Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề
câu cá ngừ đại dương ở tỉnh Bình Định” là hết sức cần thiết và cấp bách. Trong phạm
vi của luận văn thạc sĩ tôi sẽ trình bày các nội dung chủ yếu là:
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu;
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
3 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghề khai thác thuỷ sản tỉnh Bình Định
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của Bình Định
Bình Định là tỉnh ven biển miền Trung có diện tích 6025 km
2
, phía Bắc giáp
tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông
giáp Biển Đông. Toàn tỉnh có 10 huyện (An Nhơn, Hoài Nhơn, Tuy Phước Tây Sơn,
Phù Mỹ, Phù Cát, An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Vân Canh) và 01 thành phố (Quy
Nhơn). Trong đó có 3 huyện miền núi, 4 huyện và 1 thành phố ven biển là TP Qui
Nhơn, huyện Tuy Phước, huyện Phù Cát, huyện Phù Mỹ và huyện Hoài Nhơn. Theo
kết quả điều tra năm 2005, dân số của tỉnh của tỉnh Bình Định khoảng 1,56 triệu
người. Tỉnh Bình Định có tỷ lệ khoảng 1,8% về diện tích và 1,9% dân số so với cả
nước; chiếm 18,2% diện tích và 22,1% dân số vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.

dương là loài cá di cư đại dương nên công tác thống kê đánh giá trữ lượng còn nhiều
khó khăn, phụ thuộc vào số liệu của các nước tham gia đánh bắt cá ngừ và số liệu
nghiên cứu cả vùng đối tượng sinh sống.
Bảng 1- 1. Thống kê tàu thuyền, lao động theo địa phương

TT Huyện Thành phố
Tổng Số Tàu
(chiếc)
Tổng C.Suất
(cv)
Tổng Số LĐ
(người)
1 HOÀI NHƠN 2511 309273 16332
2 PHÙ MỸ 1247 116309 9285
3 PHÙ CÁT 1259 83093 8399
4 TUY PHƯỚC 824 11281 1702
5 QUY NHƠN 2274 116887 10956
TỔNG CỘNG
8115 636843 46674
[Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định]

1.1.3. Cơ cấu nghề đánh bắt hải sản của Bình Định
Bình Định là tỉnh có nghề cá phát triển theo hướng đa nghề, trong đó có 5 nghề
lưới kéo đơn, nghề vây ánh sáng, nghề câu tay, nghề câu cá ngừ đại dương, nghề vó
mành, còn lại là nghề khác. Kết quả thống kê số lượng tàu thuyền năm 2009 [4] theo
nghề và nhóm công suất được trình bày ở bảng 1-2.
5 Bảng 1-2. Cơ cấu tàu thuyền của tỉnh Bình Định theo nghề và công suất năm 2009

3452

1837

517

454

15 8880

[ Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản Bình Định]

0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
2000
20< 20÷49 50÷89 90÷149 150÷250 ≥400
Nhóm công suất (cv)
Số lượng tàu (chiếc)
Lưới kéo đơn
Vây ánh sáng
Câu tay cá
Câu vàng CN

Vó mành
Nghề khác

Hình 1-3: Biểu đồ phân bố số lượng tày thuyền của từng nghề theo tổng số tàu

Từ biểu đồ 1-3 cho thấy, Ở Bình Định nghề câu phát triển nhất (46%), đặc biệt
là nghề câu tay chiếm tỷ lệ lớn (42%), còn nghề câu cá ngừ đại dương chỉ chiếm tỷ lệ
rất khiêm tốn (4%). Tiếp đến là nghề vó mành (17%) và nghề vây ánh sáng (16%), còn
nghề lưới kéo chỉ chiếm 7%.
1.2. Tình hình nghiên cứu nghề khai thác cá ngừ đại dương ở nước ngoài
Hiện nay trên thế giới, nghề khai thác các đối tượng cá ngừ đã đạt được trình độ
phát triển cao. Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm xác định ngư trường, sự di cư
của cá, đánh giá trữ lượng, tập tính sinh học của cá ngừ đại dương trên các vùng biển
nghiên cứu. Các công nghệ mới khai thác cá ngừ đã phát triển rất mạnh ở nhiều nước.
Các đội tàu khai thác cá ngừ có quy mô lớn và đã khai thác rất thành công ở các nghề
lưới vây cá ngừ, câu vàng, câu cần
Những vấn đề đã và đang được các nước trên thế giới tập trung nghiên cứu
được tổng hợp một số kết quả cụ thể như sau:
1.2.1. Xác định ngư trường và đặc tính di cư của cá
Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự phân bố của cá ngừ với điều kiện môi
trường đã được tiến hành. Người ta phát hiện ra rằng sự phân bố của cá ngừ gắn kết
chặt chẽ với nhiệt độ nước biển. Nhiệt độ thích hợp cho sự tập trung các đàn cá ngừ
vào khoảng từ 15 ÷ 31
0
C, phổ biến nhất ở khoảng nhiệt độ từ 18 ÷28
0
C. Dựa vào đặc
7
những tầng nước sâu hơn (khoảng 50 ÷100 m), nhưng độ sâu phân bố của cá quanh
chà có bị thay đổi bởi các điều kiện ngoại cảnh khác như sóng, gió, nhiệt độ, dòng
chảy hay không thì vẫn cần phải nghiên cứu thêm.
1.2.3. Nghiên cứu về mồi câu cá ngừ
Cá ngừ đại dương ưa thích mồi mực là rõ ràng, nhiều tàu câu vàng của Nhật
Bản, Đài Loan đã sử dụng mồi mực trong quá trình câu cá ngừ đại dương. Tuy nhiên
cần nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng mồi mực và mồi cá. Bên cạnh đó
đã có nghiên cứu thử nghiệm sử dụng mồi giả, gắn thiết bị phát sáng trên thẻo câu.
8 1.2.4. Nghiên cứu về công nghệ khai thác cá ngừ
Để khai thác cá ngừ, có thể sử dụng các loại ngư cụ sau:
- Nghề lưới vây khai thác cá ngừ: Đối tượng khai thác chủ yếu của nghề lưới
vây cá ngừ là các loại cá ngừ cỡ nhỏ ( ngừ vằn, ngừ chù, ngừ ồ ). Các tàu khai thác
cỡ lớn đã được sử dụng với công suất máy tàu từ 1000 cv đến 2500 cv và hơn nữa.
Kích thước lưới vây được tăng cường, chiều dài vàng lưới (giềng phao) lên đến
1.500m và hơn nữa, chiều cao vàng lưới đạt đến 150m. Các vàng lưới vây nói trên còn
được dùng để đánh bắt các đàn cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to cung cấp giống cho
nghề nuôi cá ngừ. Để khai thác được cá ngừ đại dương đã trưởng thành, chiều cao
vàng lưới phải đạt 200 ÷ 220m và đòi hỏi kỹ thuật đánh bắt phức tạp hơn (các nước có
nghề cá phát triển). Việc dò tìm cá được thực hiện bằng cách sử dụng ống nhòm, máy
dò cá ngang (Sonar); máy bay; Rađa tìm chim
- Nghề câu vàng cá ngừ đại dương: Quy mô công nghiệp ở các nước và khu vực
có nghề câu cá ngừ đại dương phát triển là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc Đội tàu
của các nước này được cơ giới hoá cao trong công tác thu, thả vàng câu. Các nghiên
cứu về ngư trường, tập tính cá, sự di cư của cá đã hỗ trợ cho việc khai thác đạt hiệu
quả cao. Vàng câu được trang bị trên các tàu này thường có chiều dài tới 100 km, với
số lượng lưỡi câu đạt đến 2200 chiếc. Tổng chiều dài dây nhánh thường là 20 ÷ 25 m;
Khoảng cách giữa các dây nhánh từ 40 ÷ 50 m; khoảng cách giữa các phao ganh từ

ngừ suy giảm, nên các tàu câu theo hình thức này không mang lại hiệu quả mong
muốn.
1.2.5. Nghiên cứu về hiệu quả khai thác thủy sản
FAO đã tiến hành cuộc khảo sát thông tin liên quan đến hoạt động khai thác
thủy sản nghề lưới vây của 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Phi
từ năm 1995-1997. Kết quả cho thấy ở một số nước như Pê Ru, Triều Tiên, Malaixia
có lãi ròng dương, ngược lại ở một số nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ có lãi
ròng âm. Lý do của hiệu quả kinh tế thấp là do sự khai thác quá mức về nguồn lợi làm
cho sản lượng ngày càng giảm, ngược lại chi phí đầu tư, chi phí bảo dưỡng cao.
Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế
và các yếu tố kỹ thuật [21].
Ở Hawaii, nhóm nghiên cứu Hamilton Marcia và Steve Huffiman [20] đã có
nghiên cứu sâu về doanh thu và chi phí hoạt động khai thác của nghề cá nổi quy mô
nhỏ của 4 nhóm ngư dân khác nhau (nhóm đánh cá toàn thời gian, bán thời gian, làm
tiêu khiển và nhóm đánh cá chỉ vì mục đích bù đắp chi phí chuyến biển). Kết quả chỉ
ra rằng nhóm đánh cá toàn thời gian có doanh thu và chi phí cố định cao nhất; ngược
lại nhóm đánh cá chỉ vì mục đích bù đắp chi phí chuyến biển có doanh thu và chi phí
cố định thấp nhất. Chi phí biến đổi của các nhóm là khá giống nhau, chi dao động nhẹ
10 do yếu tố di chuyển ngư trường khai thác. Sự khác nhau về chi phí biến đổi là chi phí
nhiên liệu, nước đá, mồi câu.
Kết quả nghiên cứu về hoạt động kinh tế và tài chính nghề cá biển tại 15 quốc
gia trên thế giới của các tác giả U. Tietze và J.Prado. J.M.Le Ry. R.Lasch [26] cho
thấy, trong tổng số 108 tàu khai thác có đến 105 tàu (chiếm 97%) tàu có dòng tiến luân
chuyển dương và bù đắp được chi phí bỏ ra. Nếu trừ chi phí khấu hao và lãi suất, thì
có 92 tàu (trong số 108 tàu) có lợi nhuận ròng. Chỉ có các tàu lưới kéo tôm, cá tầng
đáy là có dòng tiền luân chuyển âm. Những tàu này trước đây có dòng tiền luân
chuyển dương, nhưng một thời gian sau đó có lợi nhuận âm thường rơi vào những tàu

vàng vụ Nam và 2,19-66,80% sản lượng nghề này trong vụ Bắc. Kết quả điều tra cũng
cho thấy thêm, thành phần chủ yếu là cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to.
Đề tài cấp Nhà nước, Mã số KC-09-03 “Xây dựng mô hình dự báo cá khai thác và
các cấu trúc hải dương có liên quan phục vụ đánh bắt xa bờ ở vùng biển Việt Nam” do
PGS.TS Đinh Văn Ưu chủ trì [15] đã nghiên cứu những yếu tố hải dương liên quan
đến nghề câu cá ngừ đại dương trên vùng biển Việt Nam.
Về trữ lượng và khả năng khai thác cá ngừ đại dương trên vùng biển Việt Nam,
kết quả tổng hợp các nguồn số liệu cho thấy:
- Trữ lượng cá ngừ vằn ở vùng biển xa bờ miền Trung và Đông Nam Bộ ước tính vào
khoảng 618.000 tấn, khả năng khai thác bền vững là 216.000 tấn;
- Trữ lượng cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to khoảng 44.853-52.591 tấn, khả năng
khai thác là 17.000 tấn.
1.3.2. Các kết quả nghiên cứu về công nghệ khai thác cá ngừ
Đề tài: "Đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác xa bờ ở những vùng trọng
điểm” đã được Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành vào năm 1997. Đề tài đã điều tra
khảo sát để đánh giá hiện trạng công nghệ khai thác của các nghề khai thác xa bờ về
tàu thuyền, máy tàu, cấu tạo ngư cụ, kỹ thuật khai thác và phân tích hiệu quả kinh tế
của 4 loại nghề khai thác xa bờ chính là: nghề lưới kéo, nghề lưới rê, nghề lưới vây,
nghề câu.
Năm 1998, Viện Nghiên cứu Hải sản đã thực hiện đề tài: “Xác định các nghề có
năng suất cao, thích hợp với cỡ loại tàu khai thác hải sản xa bờ”. Đề tài đã điều tra tại
các bến cá thuộc các tỉnh trọng điểm cũng như trên các tàu đang sản xuất để thu thập
các số liệu về tàu thuyền, ngư cụ và hiệu quả kinh tế của nhiều con tàu tham gia khai
thác hải sản với 4 loại nghề chủ yếu là: lưới kéo, lưới vây, lưới rê và nghề câu. Bằng
phương pháp tính toán so sánh, đề tài đã xác định được các mẫu lưới phù hợp với điều
kiện tự nhiên của từng vùng biển, tương ứng với từng nghề: lưới kéo, lưới vây, lưới rê
và nghề câu.
12
đã trưởng thành và thường đều bị xây sát và bị chết trong quá trình khai thác.
13 + Nghề lưới rê thường chỉ khai thác được các đối tượng cá ngừ nhỏ như: Cá Ngừ
chù, Ngừ ồ, Ngừ bò, Ngừ chấm, Ngừ chấm mà không khai thác được hoặc khai thác
được rất ít các đối tượng là cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to đã trưởng thành. Đồng thời
các đối tượng này đều bị chết sau một thời gian ngắn đóng lưới. Mặt khác để phát triển
nghề cá theo hướng hội nhập với thế giới thì nghề lưới rê sẽ chỉ còn được phép hoạt
động với chiều dài vàng <2,5 km và điều này sẽ làm cho nghề lưới rê dần bị mai một.
Đề tài nghiên cứu ngư trường và công nghệ khai thác cá ngừ đại dương giống
(Thunnus albacares; Thunnus obesus) phục vụ nuôi thương phẩm. Viện nghên cứu Hải
sản được Viện Nghiên cứu Hải sản triển khai năm 2010 [12] đã mở ra hướng mới cho
nghề khai thác cá ngừ đại dương. Kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài cho thấy lần
đầu tiên ở Việt Nam, đã thiết kế và thi công lồng lưu giữ và vận chuyển cá ngừ đại
dương giống. Lồng có dạng hình trụ tròn, đường kính miệng lồng 13m, độ sâu lồng
8m. Khung lồng được làm bằng ống vật liệu dẻo HDPE, có độ bền cao, chịu được
sóng gió biển khơi. Lồng có ”Cửa lưới” được thiết kế đặc biệt để nhận cá ngừ đại
dương giống dồn từ lưới vây sang. Cấu tạo, kích thước lồng được thiết kế phù hợp với
sức kéo của tàu cá Việt Nam.
Đề tài đã xây dựng được quy trình khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới
vây và đã phát hiện ra tập tính cá ngừ đại dương giống thường hay tập trung ở đỉnh các
gò nổi ở vùng biển xa bờ, nhờ vậy có thể sử dụng lưới vây kết hợp ánh sáng để khai
thác chúng. Khai thác cá ngừ đại dương giống bằng lưới vây kết hợp ánh sáng tại các
gò nổi rất phù hợp với nghề cá Việt Nam vì không phải thường xuyên kéo lồng nên đã
giảm đáng kể chi phí và trong điều kiện tàu thuyền và ngư cụ rất thô sơ của nước ta đã
khai thác thành công cá ngừ đại dương giống, có chuyến biển đã khai thác được
7.830kg cá ngừ vây vàng và 839 kg cá ngừ mắt to; đạc biệt mẻ lưới ngày 14/ 4/2009
đã khai thác được 2.650 kg cá ngừ vây vàng giống. Cá ngừ giống có trọng lượng cá thể
phổ biến từ 3-4 kg/con .

và nguồn lợi hải sản theo từng vùng biển ở Việt Nam và nghiên cứu tình hình kinh tế-
xã hội của cộng đồng ngư dân ven biển liên quan đến khai thác hải sản; đề tài còn xác
lập được cơ sở khoa học để xây dựng mô hình tổ chức sản xuất cho các vùng biển
tuyến bờ, tuyến lộng và tuyến khơi.
Từ đó có được cơ sở khoa học (dựa vào tính toán khả năng nguồn lợi, năng lực
khai thác và kinh tế - xã hội) góp phần chuyển đổi cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai
thác hải sản theo Nghị định 123-2006/NĐ-CP (nay là Nghị định 33/2010/NĐ-CP) và
đề xuất được các giải pháp phục vụ cho việc sắp xếp đội tàu khai thác hải sản hợp lý
với từng vùng biển nhằm phát triển bền vững nghề khai thác hải sản.
15 1.3.3. Tình hình nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của nghề khai thác hải sản
Mặc dù lĩnh vực nghiên cứu hiệu quả kinh tế không thuộc chuyên ngành khai
thác thủy sản. Tuy nhiên, xét về hiệu quả công việc, thì dù là làm công việc gì cuối
cùng vẫn phải mang lại hiệu quả kinh tế. Để thấy rõ hiệu quả kinh tế của nghề câu cá
ngừ đại dương ở nước ta, tác giả Hoàng Trọng Oanh đã thực hiện đề tài cho luận văn
thạc sĩ của mình “Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề câu cá ngừ đại dương tại công
ty trách nhiệm hữu hạn Việt Tân” [14]. Tác giả đã phân tích đánh gái các chỉ tiêu ảnh
hưởng đến hiệu quả kinh tế của đội tàu thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Tân.
Các chỉ tiêu cụ thể là:
- Trình độ công nghệ tàu thuyền và trang thiết bị máy móc.
- Tuổi thọ, thời gian và hệ số đổi mới trang thiết bị máy móc.
- Hệ số đổi mới tàu thuyền và trang thiết bị máy móc.
- Trình độ công nghệ của yếu tố lao động.
- Các chỉ tiêu đặc trưng đóng góp vào hiệu quả khai thác cá ngừ đại dương của
công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Tân. Tác giả đã quan tâm đến các chỉ tiêu đóng góp
về hiệu quả kinh tế của nghề câu cá ngừ đại dương là:
+ Sản lượng khai thác của đội tàu của công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Tân.
+ Năng suất lao động.

0
C, bình thường
từ 10
0
- 29
0
C, trong khoảng độ muối 34,5 - 35,5%0, nơi mà lượng oxy đạt mức cao
(trên 1ml/l).

Hình 1-4. Cá ngừ mắt to (Thunnus obesus)
Trong vùng biển TBD, cá ngừ mắt to phân bố rộng. Ở phần phía tây TBD, cá
phân bố từ phía Bắc Nhật Bản đến Bắc Newzeland, từ vĩ độ 400N đến 300S. Sự phân
bố của cá ngừ phụ thuộc vào nhiệt độ nước và lượng oxy hoà tan. Độ muối không
đóng vai trò quan trọng trong sự phân bố của cá ngừ [18,19].
Schaefer và Fuller (2002) nhận thấy cá ngừ ở Đông Thái Bình Dương dùng hầu
hết thời gian ban ngày ở độ sâu 200 ÷ 300 m, với nhiệt độ 13
0
÷ 14
0
C. Chúng có thể
lặn xuống độ sâu trên 1.500m và ở nhiệt độ nhỏ hơn 3
0
C.
Vào ban ngày, cá ngừ mắt to thường tập trung ở độ sâu 220 ÷ 240m và ban đêm
nổi lên ở độ sâu 70 ÷ 90m, [18,19]. Tập tính di cư thẳng đứng, nổi lên đến tầng nước

Trích đoạn Phân tích, xử lý số liệu thống kê Thực trạng tàu thuyền, trang thiết bị nghề câu CNĐD tỉnh Bình Định Tình hình trang bị máy hàng hải-thông tin liên lạc kiến đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế nghề câu cá ngừ đại dương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status