PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang trại có vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp thế giới và
trang trại gia đình là một loại hình trang trại chủ yếu trong nông nghiệp các
nước. Ở nước ta tuy các trang trại (chủ yếu là trang trại gia đình) mới phát
triển nhưng đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn gắn
liền với phát triển công nghiệp và dịch vụ. Các trang trại đã phát huy có hiệu
quả các nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn thúc đẩy sự tăng trưởng và
phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Trong những năm gần đây,
kinh tế trang trại ở Việt Nam phát triển nhanh về số lượng và mở rộng về quy
mô. Theo số liệu của của cục thống kê năm 2006 nếu như năm 2001 Việt
Nam mới chỉ có 60.758 trang trại thì đến năm 2006 đã có khoảng 150.000
trang trại, trong đó có 17.721 trang trại chăn nuôi, ngoài ra còn có khoảng
130.000 hộ phát triển theo mô hình kinh tế này. Hàng năm các trang trại tạo
ra hơn 10.000 tỷ đồng (trong đó 87% là hàng hóa), thu hút và tạo việc làm ổn
định cho hơn 443.000 lao động nông nhàn ở nông thôn. Bình quân mức thu
nhập 1 trang trại đạt khoảng 98 triệu đồng/năm, và mỗi lao động đạt khoảng
700.000 đồng/tháng. [20]
Ở Nghệ An kinh tế trang trại tuy phát triển chưa dài nhưng những kết
quả đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, góp
phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế
nông nghiệp, nông thôn của tỉnh. Theo số liệu của chi cục hợp tác xã năm
2006 đến cuối năm 2006 toàn tỉnh có 1.529 trang trại trong đó 385 trang trại
trồng trọt, 289 trang trại chăn nuôi, 119 trang trại lâm nghiệp, 105 trang trại
nuôi trồng thủy sản, 631 trang trại tổng hợp. Các loại hình trang trại trên đang
chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng trang trại chăn nuôi và tổng hợp. [18]
So với nhiều huyện trong tỉnh, kinh tế trang trại huyện Nam Đàn trong
thời gian qua đã phát triển khá mạnh, ngày càng có nhiều loại hình trang trại
hình thành với quy mô lớn và nhiều loại hình khác nhau, trong đó loại hình
sử dụng đất đai, lao động, tiền vốn mà còn cả về cơ cấu nội dung sản xuất
kinh doanh. Kinh tế trang trại đã góp phần tạo ra một bước tiến quan trọng
trong sự phát triển của sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các khái niệm và nội dung của trang
trại, kinh tế trang trại là cần thiết để có được những nhận thức đúng đắn trong
việc đánh giá đúng thực trạng phát triển của nó.
Hiện nay trong nhiều tài liệu khoa học, trang trại và kinh tế trang trại
được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau nhưng đều có những điểm
chung như sau:
- Trang trại là một cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá trong nông,
lâm, ngư nghiệp ở nông thôn.
- Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế nông hộ nhưng ở
vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hoá cao hơn.
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương (đất đai,
vốn, lao động, khoa học công nghệ) một cách có hiệu quả.
- Hoạt động sản xuất - kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị
trường.
- Ngoài ra, qua nhiều thực tiễn hoạt động sản xuất - kinh doanh ở các
trang trại chúng tôi nhận thấy rằng, lĩnh vực hoạt động của nó không chỉ bó
hẹp trong sản xuất nông lâm ngư nghiệp mà còn có thêm một số hoạt động
dịch vụ kinh doanh hỗ trợ các yếu tố đầu vào, đầu ra và các hoạt động chế
biến nông, lâm, thuỷ sản nhằm mục đích tăng thêm thu nhập của trang trại.
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên chúng tôi đưa ra khái
niệm về kinh tế trang trại như sau:
3
"Trang trại là một tổ chức kinh tế cơ sở lấy hoạt động sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp làm mục đích sản xuất kinh doanh chính, trong đó có kết hợp
thêm ngành nghề, dịch vụ phi nông nghiệp của các thành phần kinh tế khác
nhau trong nông thôn, được hình thành chủ yếu trên cơ sở kinh tế nông hộ, có
quy mô sản xuất, thu nhập, giá trị và tỷ suất hàng hoá cao vượt trội kinh tế
hộ tương ứng với từng vùng kinh tế.
+ Chăn nuôi đại gia súc:
Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên, chăn
nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
+ Chăn nuôi gia súc thường:
Đối với dê, cừu thịt từ 100 con trở lên, chăn nuôi lợn thịt có thường
xuyên từ 100 con trở lên.
+ Chăn nuôi gia cầm có thường xuyên từ 2000 con trở lên.
Qua các tiêu chí xác định kinh tế trang trại nêu trên ta có thể phân biệt
những điểm khác nhau giữa kinh tế trang trại và kinh tế hộ bằng bảng sau
Bảng 1: So sánh kinh tế trang trại và kinh tế hộ
Nguồn số liệu:Tư liệu về kinh tế trang trại (2000).
2.1.2.2 Điều kiện hình thành và phát triển kinh tế trang trại
Tiêu chí Kinh tế trang trại Kinh tế hộ
Mục tiêu Sản xuất hàng hoá Sản xuất tự túc
Lao động Thuê lao động Lao động gia đình
Quản lý Có quản lý,có hạch toán,có tích
luỹ
Chế độ gia trưởng
Quy mô Diện tích lớn, vốn lớn, hàng hoá
tập trung
Quy mô sản xuất
nhỏ
Chế độ canh tác Cơ giới hoá, hiện đại hoá Thủ công
Kết luận Phù hợp với nền kinh tế sản
xuất phát triển cao
Phù hợp với sản
xuất nhỏ
5
Các điều kiện về môi trường và pháp lý:
tế của hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm, chủ trang trại xây dựng kế
6
hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm. Trong kế hoạch cần phải xây dựng
nhiều phương án, tuỳ điều kiện thích hợp chọn lựa phương án tối ưu để thực
hiện.
Tổ chức quản lý thực hiện: Từ kế hoạch chủ trang trại cụ thể hoá
phương án kinh doanh, sắp xếp bố trí các nguồn lực, yếu tố sản xuất sao cho
việc sử dụng chúng nâng cao được hiệu quả cao nhất.
Quản lý tư liệu sản xuất: Việc mua sắm trang bị máy móc công cụ lao
động phải phù hợp với điều kiện năng lực sản xuất của trang trại, không nên
đầu tư quá mức quá lạc hậu, lỗi thời làm cho quá trình sử dụng không mang
lại hiệu quả kinh tế thiết thực.
Quản lý sử dụng lao động: Chủ trang trại phải xác định khối lượng
công việc, xây dựng định mức lao động từ đó xác định số lượng lao động. Lao
động sử dụng trong các trang trại bao gồm lao động thường xuyên và lao
động thời vụ, chủ trang trại vừa là người quản lý nhưng đồng thời cũng là
người trực tiếp lao động ở trang trại.
Quản lý và sử dụng vốn: Vốn của trang trại bao gồm vốn cố định và
vốn lưu động. Vốn cố định của trang trại biểu hiện bằng tiền của tài sản cố
định bao gồm toàn bộ máy móc thiết bị, nhà cửa, vật nuôi sinh sản, lấy sữa,
cây lâu năm cho sản phẩm. Vốn lưu động biểu hiện bằng tiền tải sản lưu động
như vốn bằng tiền, phân bón, thức ăn gia súc gia cầm, thuốc thú y và sản
phẩm đang chờ tiêu thụ. Tuỳ theo từng loại vốn mà chủ trang trại có các biện
pháp quản lý khác nhau. Nguồn vốn trang trại bao gồm vốn tự có của hộ gia
đình trang trại và vốn vay từ ngân hàng và các đối tượng khác. Mỗi loại vốn
chủ trang trại có biện pháp quản lý riêng đặc biệt vốn lưu động cần phải quan
tâm đến tốc độ lưu chuyển, vốn lưu động có tốc độ luân chuyển nhanh thì khả
năng thu hồi vốn sớm có điều kiện để tái đầu tư sản xuất trang trại.
Công tác kiểm tra và điều phối: Chủ trang trại thường xuyên kiểm tra
giám sát nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời những sai phạm cũng như những
Những trang trại chăn nuôi có quy mô từ 300 - 1.500 bò sữa đã đầu tư hệ
thống máy vắt sữa tự động hiện đại. Về lợi nhuận, theo một số chủ trang trại
trong điều kiện thuận lợi chăn nuôi lợn thịt bình quân thu lãi từ 100.000 -
250.000 đồng/con/lứa 4 tháng; nuôi lợn sinh sản thu lãi 2 - 2,5 triệu
đồng/nái/năm; nuôi gà thịt thu lãi 1.000 - 4.000 đồng/kg, gà đẻ 50 - 150
đồng/quả; bò sinh sản thu lãi 1,5 - 2 triệu đồng/con.
8
Tuy nhiên chăn nuôi trang trại cũng đang bộc lộ một số tồn tại, hạn chế
cần khắc phục như: Đa số quy mô trang trại chăn nuôi còn nhỏ, thiếu sự quy
hoạch tổng thể và lâu dài của các địa phương dẫn đến các trang trại phát triển
manh mún, thiếu sự đầu tư, thậm chí gây ô nhiễm môi trường. Tính liên kết
trong phát triển kinh tế trang trại chưa cao, chưa hình thành liên vùng sản xuất
hàng hoá tập trung, sản phẩm chăn nuôi chưa đáp ứng yêu cầu thị trường
trong nước và xuất khẩu. Thời gian giao đất, cho thuê đất, thủ tục giao đất,
cho thuê đất còn nhiều khó khăn, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
còn rất chậm làm ảnh hưởng tới quá trình đầu tư của các trang trại. Trình độ
chuyên môn, kinh nghiệm sản xuất, quản lý kể cả thông tin thị trường của hầu
hết các chủ trang trại còn nhiều hạn chế. Sản phẩm chăn nuôi do trang trại
làm ra được tiêu thụ chủ yếu thông qua thương lái, nên thường bị ép giá, gây
thua thiệt cho người chăn nuôi. Khả năng tiếp cận nguồn vốn vay tín dụng của
các trang trại chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc cho vay vốn
ngắn hạn chưa phù hợp với chu kỳ chăn nuôi.
Để đạt được mục tiêu chủ yếu đến năm 2008 lập xong quy hoạch tổng
thể về phát triển chăn nuôi trang trại tập trung, đưa tỷ trọng sản phẩm hàng
hoá chăn nuôi trang trại trong cả nước đạt 45 - 50% vào năm 2010 và 60 -
65% vào năm 2015 trong tổng sản phẩm ngành chăn nuôi. Cục Chăn nuôi đã
đưa ra các giải pháp để phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng trang trại tập
trung trong giai đoạn 2007 - 2015. Trước hết, các địa phương cần có chính
sách quy hoạch đất đai, định hướng lâu dài, ổn định các vùng chăn nuôi công
nghiệp, tập trung đến tận huyện, xã. Chú trọng chuyển đổi diện tích đất canh
đơn vị và hộ sản xuất, kinh doanh giỏi, tinh thần hợp tác, tương trợ giữa các
chủ trang trại được phát huy tốt.
Tuy vậy, việc phát triển kinh tế trang trại ở Nghệ An vẫn còn những
hạn chế: Trước mắt là thiếu vốn đầu tư để phát triển sản xuất. Cơ chế vay vốn
gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc (thế chấp, tín chấp, kỳ hạn…) nên không
thực hiện được. Nhiều loại hình trang trại như trồng rừng, cây công nghiệp
dài ngày, cây ăn quả đòi hỏi thời gian dài và có sự đầu tư vốn lớn, các hộ kinh
tế trang trại đang còn nhỏ, lẻ chưa tích tụ được vốn để tái đầu tư.
Nhiều chủ trang trại vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, thời hạn cho thuê đất ở một số địa phương còn qúa ngắn, vì vậy chủ
trang trại không giám mạnh dạn chủ động đầu tư lớn.
10
Một số sản phẩm làm ra ở một số vùng không được tự chủ bán, hoặc bị
cấm vận chuyển tiêu thụ ra khỏi địa bàn (ví dụ trồng tre lấy măng, nuôi Baba)
nguyên nhân luật chưa đồng bộ và cụ thể.
Chính sách thu thuế đối với các trang trại chưa rõ ràng, thiếu nhất quán
ở các địa phương (lúc mới hình thành đánh thuế ít, lúc nghe làm ăn có lãi, lập
tức tăng thuế lên).
Các chủ trang trại thường ít được tiếp cận đầy đủ thông tin về thị
trường, chưa nắm bắt rõ quy luật cung cầu. Sản phẩm nông sản làm ra thị
trường tiêu thụ không ổn định, thường bị ép cấp, ép giá.
Nhiều trang trại phát triển còn thụ động, không có chiến lược, định
hướng lâu dài. Trình độ tổ chức quản lý sản xuất ở các trang trại còn thấp
(Đại học, cao đẳng chiếm 2,8%; Trung cấp 6,63%; số còn lại chưa qua đào
tạo ở các trường Đại học, Trung cấp, Cao đẳng hay dạy nghề…)
Trong tiến trình hội nhập WTO chúng ta đang đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức. Vì vậy việc ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều
kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại là rất quan trọng và cần
tận dụng mọi lợi thế và khắc phục tới mức tối đa các hạn chế, để đối phó
thành công các tác động tiêu cực của quá trình hội nhập, góp phần phát triển
Ở Nghệ An, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào được in ấn thành
sách nhưng đã có nhiều bài viết được đăng tải trên báo chí, internet như bài
viết "nghiên cứu, trao đổi thực trạng và định hướng phát triển kinh tế trang
trại ở Nghệ An" hay bài viết gồm nhiều kỳ: "Trang trại chăn nuôi tiềm năng
chưa được phát huy" được đăng trên trang web http://www.baonghean.vn.
[20]
Có thể thấy rằng, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung
nghiên cứu vào các vấn đề như: "Tình hình phát triển kinh tế ở Việt Nam
trong những năm gần đây, những chính sách, cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn cho
các trang trại, những khó khăn, cản trở đối với sự phát triển của trang trại
hiện nam. Đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp để tháo gỡ khó
khăn, tạo điều kiện phát triển kinh tế trang trại ở nước ta".
Tại huyện Nam Đàn cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào
viết về kinh tế trang trại ở huyện Nam Đàn một cách đầy đủ, có cơ sở khoa
học và thực tiễn, sâu sắc và có hệ thống. Vì vậy đề tài "Đánh giá hiệu quả
kinh tế của các trang trại chăn nuôi ở huyện Nam Đàn" của chúng tôi là để cố
12
gắng dựa trên những cơ sở lý luận có tính kế thừa vận dụng vào tình hình thực
tiễn để phân tích, đánh giá đúng hiệu quả kinh tế của trang trại chăn nuôi hiện
đang phát triển mạnh trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra một số giải pháp thiết
thực để góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của ngành chăn nuôi nói riêng và
ngành nông nghiệp nói chung của huyện Nam Đàn.
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
13
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các trang trại chăn nuôi ở huyện Nam Đàn. Có
hai loại trang trại chăn nuôi được xem xét đó là chăn nuôi tổng hợp tổng hợp
(TH), và chăn nuôi lợn kết hợp cá (lợn + cá). Thực tế hai loại hình trang trại
3.2.3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của các trang trại
• Tình hình doanh thu của các trang trại
• Tình hình chi phí của các trang trại
• Tình hình thu nhập của các trang trại
• Hiệu quả kinh tế:
- Đánh gía thông qua các chỉ tiêu GO, IC,VA,VA/IC,VA/L,VA/Đ
GO: Tổng giá trị sản xuất
IC: Chi phí trung gian bao gồm chi phí vật chất, chi phí công lao động
và chi phí dịch vụ được tiêu dùng trong quá trình sản xuất (không tính khấu
hao).
VA: Giá trị gia tăng = GO - IC
VA/LĐ: Chỉ tiêu này phản ánh một ngày công lao động tạo ra được
bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
VA/IC: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí trung gian bỏ ra bao
nhiêu đồng giá trị gia tăng. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả
kinh tế.
VA/Đ: Chỉ tiêu này sử dụng để đánh giá xem một đơn vị diện tích
(ha) tạo ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng.
- Hiện giá thuần thu nhập (NPV) và tỉ suất nội hoàn (IRR) của các
trang trại chăn nuôi
Hiện giá thuần thu nhập (NPV)
Hiện giá thuần thu nhập là một phương pháp phổ biến trong phân tích
chi phí lợi nhuận. NPV thường được sử dụng trong hoạch định ngân sách đầu
tư, phân tích khả năng sinh lợi của một dự án đầu tư hoặc phân tích tính khả
thi về hiệu quả kinh tế của một hoạt động kinh doanh. Trong trường hợp
nghiên cứu này NPV được sử dụng để phân tích tính khả thi về hiệu quả kinh
tế của các trang trại chăn nuôi. Cách tính toán NPV được thể hiện ở công thức
sau:
15
( )
hoàn được tính bằng công thức sau:
( )
0
1
1
=
+
−
=
∑
=
n
t
t
tt
r
CB
IRR
Trong đó các chỉ số B
t
, C
t
, t , n và r được xác định như công thức NPV
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Chọn điểm, chọn mẫu
3.3.1.1 Chọn điểm
+ Huyện Nam Đàn là huyện có diện tích đất tự nhiên khá lớn so với
toàn tỉnh, kinh tế trang trại đang là loại hình kinh tế góp phần chủ yếu vào sự
phát triển của nền nông nghiệp huyện, quy mô trang trại ngày càng tăng cả về
số lượng và chất lương nhất là loại hình trang trại chăn nuôi lợn kết hợp với
như hướng phát triển của trang trại.
- Quan sát thực địa 30 trang trại về các hoạt động sản xuất, quy mô
trang trại, quy hoạch và sử dụng các nguồn lực.
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel, SPSS 15.0
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Nam Đàn
17
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Nam Đàn là huyện nửa đồng bằng, nửa đồi núi. Diện tích tự nhiên là
29382,02 ha, rộng 10 km từ Tây sang Đông, dài 30 km từ Bắc xuống Nam.
Trung tâm huyện cách thành phố Vinh 20 km, cách thủ đô Hà Nội 300 km. Đi
qua huyện có 2 trục giao thông lớn là quốc lộ 46 và 15A. Cả huyện có 23 xã
và 1 thị trấn và có 158.182 người dân sinh sống.
Toạ độ địa lý:
Từ 18
0
30
’
đến 18
0
47
’
vĩ độ Bắc, từ 105
0
25
’
đến 105
Độ ẩm không khí: bình quân 86 %, lượng bốc hơi bình quân 943
mm/năm.
• Tài nguyên đất
Tài nguyên đất của huyện và thực trạng sử dụng trong năm 2006 -
2007 được trình bày trong bảng 2.
18
Bảng 2: Thực trạng sử dụng tài nguyên đất của huyện Nam Đàn năm
2006- 2007
Nguồn: Báo cáo tình hình sử dụng đất của huyện Nam Đàn năm 2008
Bảng 2 cho ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 29382,03
ha trong đó diện tích đất nông nghiệp của huyện là 20074,55 ha năm 2006
đến năm 2007 là 20039,37 ha giảm 53,88 ha. Diện tích này được sử dụng vào
việc xây dựng các trụ sở cơ quan, được làm nhà ở tại nông thôn và thị trấn,
xây dựng các khu công nghiệp, làm đường giao thông Tuy nhiên bù lại do
Loại đất
DT 2006
(ha)
DT tăng
(ha)
DT giảm
(ha)
DT 2007
(ha)
Tổng diện tích đất tự nhiên 29382,03 73,68 73,68 29382,03
Tổng diện tích đất nông
nghiệp
20074,55 20 55,18
20039,3
7
Đất sản xuất nông nghiệp
Đất ở
Đất ở tại nông thôn
Đất ở tại đô thị
Đất chuyên dùng
Đất sông suối, mặt nước
Đất khác
771,26
748,93
22,33
3212,03
1601,26
341,06
13,47
13,25
0,22
40,21
-
-
1,95
1,60
0,35
5,30
2,00
-
782,78
760,58
22,20
3246,94
1599,26
341,06
nhưng vẫn đang còn lớn: 337,26 ha (2007). Trong đó đất đồng bằng là 577,83
ha, đất đồi núi là 23890,75 ha, núi đá không có rừng cây là 404,04 ha. Đây là
phần diện tích đất đai mà trong thời gian tới UBND các cấp phải có chính
sách khuyến khích để người dân mạnh dạn đầu tư vào phát triển kinh tế trang
trại. Đưa kinh tế trang trại của huyện phát triển mạnh và bền vững, nâng cao
thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân
* Tài nguyên nước
Sông Lam với diện tích lưu vực 23000 km
2
chảy qua địa phận huyện
Nam Đàn dài 16 km, là nguồn nước tưới dồi dào quanh năm, chất lượng nước
tốt. Lưu lượng mùa khô 117 m
3
/s tương ứng với mực nước tại cống Nam Đàn
là +1,05. Với cao trình đất canh tác bình quân từ +2 đến +2,5 nên toàn bộ diện
tích canh tác của huyện đều phải tưới bằng hồ đập và các trạm bơm điện.
Ngoài ra trong huyện còn có hai con kênh lớn là kênh Thấp và kênh Lam Trà
và một số con suối nhỏ có nước quanh năm. Tuy nhiên do lượng nước mưa
phân bố không đều, vùng đồi thường bị hạn trong các tháng 1, 2, 3 vùng đồng
bằng thường bị úng hạn vào các tháng 9, 10.
* Tài nguyên rừng
Trong huyện không còn rừng tự nhiên do bị khai thác kiệt từ nhiều
năm trước đây, chỉ còn cây lùm bụi, cỏ dại mọc thưa thớt. Trong những năm
20
gần đây do thực hiện các dự án 327,304 và một số dự án khác toàn huyện mới
có 5300 rừng trồng chủ yếu là thông, keo lá tràm đang được quản lý chăm
sóc.
Ngoài ra có 717 ha cây lâu năm, cây ăn qủa. Tính chung độ che phủ
cây lâu năm chiếm 60% diện tích đất rừng. Đây là vấn đề tồn tại về mặt môi
trường cần được quan tâm. [5]
đồng, thu hút 1234 lao động thường xuyên và 1156 lao động thời vụ, lợi
nhuận năm vừa qua đạt 9,562 tỷ đồng (bằng 150% so với năm 2006). Hiện
nay có 2 trang trại đang mở rộng loại hình chăn nuôi Ba ba với quy mô lớn.
Một số loại hình trang trại hiện nay gồm :
- Trang trại chăn nuôi bò: Với tổng số 30 trang trại chăn nuôi bò với
diện tích 131,5 ha, tổng vốn đầu tư 7,7 tỷ đồng, thu hút 99 lao động thường
xuyên và 177 lao động thời vụ.
Trong số 30 trang trại chăn nuôi bò có 12 trang trại bò cái lai sind
sinh sản chất lượng cao, hàng năm cho ra đời 180 - 200 con bê lai hướng thịt
phục vụ con giống địa bàn trong và ngoài huyện. Hầu hết các trang trại này
được xây dựng vào năm 2004 là năm giá bê và bò lai sind sinh sản lên rất cao
(bê 9-10 triệu/con, bò 14 - 15 triệu/con) và thực hiện theo Dự án của các trang
trại từ 10 - 20 con. Trong quá trình thực hiện Dự án (3 năm) giá bò và bê lai
sind bị rớt giá (chỉ 3 - 5 triệu/cặp mẹ con) nên sau 3 năm thực hiện Dự án hầu
hết các trang trại này bị thua lỗ. Sau đó các trang trại này phát triển thành
trang trại chăn nuôi tổng hợp.
- Trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại - nuôi cá: Có 20 trang trại (2 trại
cấp ông bà), với tổng số 312 con nái, hàng năm cung cấp cho thị trường 5000
- 5500 lợn hậu bị giống ngoại thuần và giống lợn nuôi thịt. Ngoài ra, không
chỉ sản xuất và bán lợn giống mà các trang trại này còn để nuôi thịt lấy phân
làm thức ăn cho cá, mỗi năm xuất chuồng hàng trăm tấn lợn thịt, thu hoạch
hàng chục tấn cá. Với tổng vốn đầu tư 8,02 tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận 15,2%,
bình quân thu nhập 50 - 100 triệu đồng/trại/năm. Đây là loại hình trang trại
đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh trên
địa bàn huyện.
22
- Trang trại chăn nuôi tổng hợp: Thực hiện chủ trương đưa chuồng trại
nhà ra đồng, vừa thuận lợi trong quá trình sản xuất chăn nuôi, vừa đảm bảo vệ
sinh môi trường, chống ô nhiễm. Đây là loại hình trang trại chăn nuôi tổng
hợp có quy mô vừa và nhỏ với cơ cấu các loại vật nuôi từ vài con đến vài
vụ và hỗ trợ lẫn nhau, tận dụng đất hoang hoá, xa xấu để phát triển trang trại
tuy có thu nhập không cao nhưng đã thu hút được một lực lượng lao động khá
lớn có thu nhập ổn định.
Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ: Trong năm
vừa qua đã mở được 2 lớp tập huấn kỹ thuật xây dựng chuồng trại và chăn
nuôi lợn nái ngoại theo phương thức công nghiệp, 1 lớp tập huấn kinh doanh
nông nghiệp giúp chủ trang trại và công nhân trực tiếp sản xuất nắm được quy
trình kỹ thuật và công nghệ mới về chăn nuôi, phương pháp kinh doanh nhằm
đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho trang trại. Đồng thời các chủ trang trại
tích cực tìm hiểu học tập kinh nghiệm, tham quan các mô hình tiên tiến trong
và ngoài tỉnh để trang bị kiến thức cho bản thân, bước đầu hình thành tổ hợp
chăn nuôi lợn. [4], [3]
Tóm lại ta thấy, chăn nuôi trên địa bàn huyện đang được chú trọng
phát triển nhất là chăn nuôi lợn. Hai loại hình trang trại chăn nuôi đem lại
hiệu quả là trang trại chăn nuôi tổng hợp và trang trại chăn nuôi lợn + cá
* Thực hiện cơ chế chính sách
- Chính sách của tỉnh: Thực hiện Quyết định 07/QĐ - UBND ngày
18/1/2006 của UBND tỉnh, UBND huyện đã chỉ đạo các ngành triển khai,
hướng dẫn các trang trại làm thủ tục để được hỗ trợ theo quy định. Từ năm
2006 - 2007 các trang trại được vay nguồn vốn của tỉnh và được cấp bù lãi
suất trong vòng 3 năm. Ngoài ra tỉnh đã cấp bù chênh lệch giá lợn nái cấp
Ông bà là 55.000.000 đồng (hỗ trợ 1/3 tổng số tiền mua giống lợn nhưng phải
là cấp ông bà)
- Chính sách của huyện :
+ Thực hiện Nghị quyết 06 của Ban Thường vụ Huyện uỷ, UBND
huyện đã ban hành một số cơ chế, chính sách, hỗ trợ nguồn vốn tạo điều kiện
để trang trại hình thành và phát triển. Đến nay trên địa bàn toàn huyện đã có
33 trang trại được UBND huyện phê duyệt dự án và cấp bìa sử dụng đất, đến
24
năm 2007 có 25 trang trại được cấp bù lãi suất Ngân hàng là 415.400.000
sản xuất hàng hoá lớn.
Từ sau công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt từ sau khi có Luật đất đai
ra đời (1993), đã khẳng định kinh tế nông hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ và
25