điều tra hiện trạng về hình thức tổ chức sản xuất của nghề câu cá ngừ đại dương tại thành phố quy nhơn - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KHAI THÁC HÀNG HẢI

NGUYỄN NHẬT MINH

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG VỀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC SẢN
XUẤT CỦA NGHỀ CÂU CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG TẠI THÀNH
PHỐ QUY NHƠN

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH AN TOÀN HÀNG HẢI
Nha Trang, tháng 10 năm 2007 1


2

LỜI NÓI ĐẦU
šššµœœœ

Nghề câu cá ngừ tại Bình Định xuất hiện từ thập niên 1970 nhưng chủ yếu là
câu tay đánh bắt cá ngừ nhỏ với những phương tiện nhỏ và năng suất thấp. Từ khi
được chuyển giao công nghệ đánh bắt của Nhật Bản, Đài Loan vào năm 1996 về
công nghệ khai thác nghề câu vàng đánh bắt cá ngừ đại dương cho ngư dân Bình
Định, việc ứng dụng nghề câu vàng trong khai thác cá ngừ đại dương đã đem lại sản
lượng cao, giá trị xuất khẩu lớn đã làm chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp trong cộng
đồng ngư dân ven biển và trở thành một nghề chủ lực trong khai thác hải sản xa bờ.

Tỉnh Bình Định hiện có trên 500 tàu đánh bắt cá ngừ đại dương, số lượng tàu
thuyền nghề câu cá ngừ đại dương ngày càng tăng, đánh bắt ngày càng ổn định
nhưng nhìn chung năng suất, sản lượng đánh bắt và chất lượng cá còn thấp do kỹ
thuật, công nghệ đánh bắt và bảo quản sản phẩm của ngư dân còn thô sơ và chưa
phù hợp. Việc tổ chức khai thác cá ngừ của các tàu thuyền đa số là độc lập và riêng
lẽ, trang thiết bị còn thiếu đồng bộ, an toàn hàng hải chưa đảm bảo, nhiều tai nạn
xảy ra trên biển do trình độ đi biển và pháp lý hàng hải chưa đáp ứng các yêu cầu
đặt ra trong sản xuất trên vùng biển xa bờ.

Được sự giúp đỡ của Ban chủ Nhiệm khoa Khai thác, thầy giáo hướng dẫn

1.1.2. Năng lực tàu thuyền và ngư trường hoạt động nghề cá ……………… 5
1.1.3. Ngư trường hoạt động 7
1.1.4 Sản lượng khai thác 10
1.1.5. Lao động nghề khai thác hải sản 11
1.1.6. Các khu vực neo đậu cho tàu thuyền nghề cá tại Bình Định…….…….11
1.1.7. Những chủ trương chính sách phát triển nghề cá của địa phương……12
1.1.8. Các chủ trương chính sách phát triển nghề cá
tại Bình Định từ năm (2006 – 2010)……………13
1.2. Tình hình nghiên cứu và hoạt động sản xuất nghề câu cá ngừ đại dương.18
1.2.1. Nghề khai thác cá ngừ đại dương trên thế giới……………………… 18
1.2.2. Nghề khai thác cá ngừ đại dương tại Việt Nam………………… ……20
1.2.3. Nghề khai thác cá ngừ đại dương tại Bình Định…………………….…20
1.2.4. Nhận xét và đánh giá nghề câu cá ngừ đại dương………………….….29
1.2.5. Mô hình sản xuất của các nước trên thế giới ………………………….30
1.2.6. Một số mô hình tổ chức sản xuất nghề câu cá ngừ tại Việt Nam …… 31
1.3. Tổng quan về tai nạn tàu thuyền Việt Nam và Tỉnh Bình Định 39
1.3.1. Tổng quan về tai nạn tàu thuyền Việt Nam 39

4

1.3.2. Tổng quan về tai nạn tàu thuyền Tỉnh Bình Định 47
1.4. Phân tích và nhận xét 41
Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 42
2.1. Nội dung đề tài nghiên cứu 42
2.2. Phương pháp nghiên cứu 42
Chương 3 kết quả nghiên cứu ………………………………………………44
3.1. Kết quả điều tra thực trạng nghề câu cá ngừ đại
dương tại Tp Qui nhơn – Tỉnh Bình Định…………………… 44
3.1.1. Kết quả điều tra về tàu thuyền …………………………………………44
3.1.2.Thực trạng thuyền viên 51

22,1% dân số vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
Với chiều dài bờ biển trên 134 km cùng hệ thống đầm, vịnh, thủy vực phong
phú và đa dạng, Bình Định có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế biển, trong đó có
kinh tế thủy sản . Ngành thủy sản đã được tỉnh xác định là một ngành kinh tế quan
trọng của tỉnh.
Bình Định có 3 trung tâm nghề cá phát triển là Qui Nhơn, Đề Gi, Tam Quan;
trải dài ở 5 huyện, 26 xã phuờng ven biển.
1.1.2. Năng lực tàu thuyền và ngư trường hoạt động nghề cá
Theo kết quả điểu tra tàu thuyền nghề cá năm 2006 của Chi cục bảo vệ nguồn
lợi thủy sản Bình Định, sồ lượng tàu thuyền gắn máy toàn tỉnh là 6.935 chiếc, tổng
công suất 259.698 CV ( bảng 1.1).
Cơ cấu nghề nghiệp khai thác thuỷ sản Bình Định chủ yếu tập trung vào 5 họ
nghề chính như sau ( bảng 1.2):
- Nghề lưới kéo: Số lượng là 741 chiếc, chiếm 10,68% tàu gắn máy toàn
tỉnh, tập trung chủ yếu ở thành phố Qui Nhơn và huyện Phù Mỹ, gồm lưới kéo đôi
và lưới kéo đơn.

6Bảng 1.1- Phân bố tàu thuyền ở các huyện, thành phố trong tỉnh Bình Định năm 2006
STT

Tên Địa phương Số tàu
(chiếc)
Công suất
tàu
(mã lực)
Số lao động
(Người)

Câu

Khác

01

<20

1679

52

209

26

220

1172

02

( 20 ÷<50 )

3544

460

555


116

1

126

2

05

(250÷<400)

4

3

0

1

0

0

06

>400

0



- Nghề lưới rê: số lượng là 108 chiếc, chiếm 1,56% tàu gắn máy toàn tỉnh,
tập trung chủ yếu ở thành phố Qui Nhơn và huyện Tuy Phước, huyện Hoài Nhơn,
gồm có lưới rê chuồn, lưới rê ni lon và lưới rê cước.
- Nghề câu: số lượng là 3.090 chiếc, chiếm 44,56% tàu gắn máy toàn
tỉnh, phân bố ở tất cả các địa phương trong tỉnh nhưng tập trung ở huyện Hoài
Nhơn và huyện Phù Cát, gồm có nghề câu mực, câu cá ngừ đại dương, câu
mập, câu bủa, câu rạn…
- Nghề khác: số lượng là 1.750 chiếc, chiếm 25,23% tàu gắn máy toàn tỉnh,
phân bố ở tất cả các địa phương trong tỉnh, gồm các nghề mành, vó và nghề cố
định.
Nhận xét:
- Bình Định là tỉnh có lực lượng tàu thuyền khai thác hải sản lớn, toàn tỉnh
hiện có 6935 tàu gắn máy, trong đó có 3732 tàu đánh bắt ở các vùng biển xa bờ
(chiếm 53,81% tổng số tàu)
- Số tàu đóng mới trong tỉnh trung bình hàng năm là 179 tàu, công suất máy
tàu đóng mới lớn hơn 50 mã lực chiếm 85% và tập trung ở các huyện có nghề cá
phát triển như huyện Hoài Nhơn, thành phố Quy Nhơn.
- Số tàu thuyền hiện có trên toàn tỉnh là 6935 tàu, tổng công suất 259.698 mã
lực, bình quân công suất 38 mã lực, số lao động 36555 người. Tàu có công suất nhỏ
hơn 50 mã lực là 5233 tàu, chiếm 75,31% tàu thuyền toàn tỉnh.
- Nghề câu 3090 tàu chiếm 44,56%, nghề vây 1246 tàu chiếm 17,97%. Hai
loại nghề này vẫn là nghề chủ lực trong tổng số tàu thuyền khai thác của tỉnh.
- Sản lượng khai thác năm 2006 là 96.000 tấn, sản lượng hàng năm tăng bình
quân 6860 tấn. Bình quân sản lượng trên 1 đơn vị công suất giảm, do nguồn lợi thủy
sản bị suy giảm, số tàu nhỏ ( 1679 tàu nhỏ hơn 20 mã lực ) khai thác quá mức ở
vùng biển ven bờ, đầm và sử dụng xung điện, chất nổ để khai thác thủy sản.
1.1.3. Ngư trường hoạt động :

8

1.770

2
2.584

2.718

551

2.167

3
2.586

2.830

590

2.240

4
2.574

2.807

589

2.218

5


725

2.137

9
1.254

2.583

656

1.927

10
1.185

1.806

479

1.327

11
1.354

1.672

440


48,90

49,58

50,16

49,76

50,27

Số lượng
(chiếc)
350

368

375

380

400

Thành phố
Qui Nhơn
Tỷ lệ %
18,03

18,29

18,31

90,04

Số lượng
(chiếc)
380

435

482

500

520

Huyện
Phù Mỹ
Tỷ lệ %
52,05

60,84

58,35

59,31

60,68Số lượng
(chiếc)

đánh bắt ở các ngư trường ngoài tỉnh
- Số lượng tàu di chuyển tập trung ở ba huyện phía Bắc: Hoài Nhơn, Phù Mỹ,
Phù Cát chiếm tỷ lệ tàu di chuyển và đi đánh bắt xa bờ nhiều hơn so với thành phố
Quy Nhơn.
- Toàn tỉnh có khoảng 3.500 tàu di chuyển so với 3.145 tàu khảo sát được ở
các địa phương và chia ra theo các vùng biển như sau:
+ Vùng vịnh Bắc bộ: 800 tàu, chiếm 22,86% số lượng tàu di chuyển thực tế
(từ Đà Nẵng đến Quảng Ninh), trong đó có 400 tàu sản xuất thường xuyên từ
Quảng Bình đến Hải Phòng.
+ Vùng biển Đông Nam bộ từ Bình Thuận - Vũng Tàu: 2100 tàu bằng 60%
lượng tàu di chuyển thực tế.
+ Vùng biển Nam Trung Bộ Phú Yên - Khánh Hòa - Ninh Thuận: 400 tàu
bằng 11,43% lượng tàu di chuyển thực tế.
+ Vùng biển Tây Nam Bộ Cà Mau - Kiên Giang: 200 tàu bằng 5,71% lượng
tàu di chuyển thực tế.

10

- Một số lượng tàu từ 300 đến 500 chiếc thường di chuyển đánh cá theo cả 2
hướng ra Bắc và vào Nam. Vào đầu vụ Nam số tàu trên trở về Bình Định "làm
nước" sau đó tiếp tục di chuyển ra Bắc đánh cá đến tháng 9 lại di chuyển vào đánh
cá ở phía Nam (Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu hoặc Kiên Giang) hoặc ngược lại.
- Hàng năm lực lượng tàu thuyền hoạt động đánh bắt rộng khắp tất cả các ngư
trường trong cả nước, trên khắp các khu vực biển Đông nên thường xuyên chịu ảnh
hưởng trực tiếp của bão, ATNĐ, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản của ngư
dân. Vì vậy công tác quản lý tàu thuyền, tổ chức sản xuất, đảm bảo an toàn cho tàu
thuyền và ngư dân gặp rất nhiều khó khăn.
1.1.4. Sản lượng khai thác
Sản lượng hải sản khai thác hàng năm cũng ngày càng tăng : từ 31.000 tấn
năm 1990 tăng lên 58.500 tấn năm 1995; 75.500 tấn năm 2000 và 98.000 tấn năm


75.500

98.000

Bình quân sản lượng /mã lực 0,73

0,62

0,39

0,37*Nhận xét: Việc khai thác nguồn lợi hải sản trên vùng biển Bình Định trong
nhiều năm qua được thể hiện ở bảng 1.5 , theo chiều gia tăng của phương tiện thì
sản lượng thu được và tổng công suất có tăng nhưng nếu xét theo bình quân sản
lượng trên 1 đơn vị công suất thì bị giảm dần. Theo các chuyên gia về nguồn lợi
thủy sản cho biết : Khi bình quân sản lượng khai thác trên 1 đơn vị công suất giảm
điều này đồng nghĩa với việc suy giảm nguồn lợi thủy sản ở vùng khai thác và chi

11

phí sản xuất tăng lên nhưng sản lượng thu được thấp nghĩa là lợi tức thu được ngày
càng giảm.
1.1.5. Lao động nghề khai thác hải sản
Dân số tỉnh Bình Định khoảng 1,56 triệu người (2005) , chiếm 1,8% diện
tích và 1,9% dân số so với cả nước, chiếm 18,2% diện tích và 22,1% dân số vùng
Duyên hải Nam Trung Bộ.
Đến cuối năm 2005 lao động nghề khai thác chiếm, tổng số lao động nghề cá

1.1.6.2> Khu vực huyện Phù Cát và Phù Mỹ : 01 điểm
• Đầm Đề gi: diện tích 30 ha, khả năng trú đậu 1000 tàu.
Khu vực Đầm Đề Gi dành cho các tàu thuyền đang neo trú đậu gần ở các vùng
biển thuộc huyện Phù Cát và huyện Phù Mỹ và các tàu thuyền ngoài tỉnh đến trú
bão
1.6.1.3> Khu vực huyện Hoài Nhơn : 01 điểm
• Điểm 1: Cảng Tam Quan khả năng trú đậu khoảng 1200 tàu: dành cho các tàu
thuyền tại Hoài Nhơn, phía Bắc huyện Phù Mỹ và các tàu ngoài tỉnh đến trú bão
• Điểm 2: Cửa An Dũ : dành cho các tàu thuyền nhỏ đang neo trú đậu tại Hoài
Mỹ, Hoài Hải, Hoài Hương
1.1.7. Các khu vực hậu cần cho tàu thuyền nghề cá tại Bình Định:
Cửa Qui Nhơn (Thị Nại) là cửa biển có khả năng tiếp nhận tàu 30.000 tấn ra
vào dễ dàng và có cảng biển quốc gia Qui Nhơn. Thành phố Qui Nhơn có ảnh
hưởng lớn đến các hoạt động kinh tế trong tỉnh kể cả kinh tế thủy sản, ở thành phố
cũng có chợ cá (địa điểm tại phường Hải Cảng) nhưng qui mô nhỏ và chưa đáp ứng
nhu cầu nên không được ngư dân sử dụng.
Các bến cá Trần Phú, Đống Đa (Thành phố Quy Nhơn), Xuân Thạnh, Tân
Phụng, Hà Ra-Phú Thứ (huyện Phù Mỹ), An Dũ (huyện Hoài Nhơn) đều chưa có cơ
sở hạ tầng.
Cảng cá hiện đại nhất hiện nay là cảng cá xã đảo Nhơn Châu (Cù Lao Xanh)
cách thành phố Quy Nhơn 25 km về phía Nam Đông Nam và cách đất liền Phú Yên

13

10 km. Phần cầu cảng đã xây dựng xong và mặt bằng khoảng 1/2 ha đã được san
lấp từ năm 2000 để chuẩn bị đầu tư bước 2 cho khu phục vụ hậu cần.
Cảng cá Quy Nhơn xây dựng hoàn thành và đưa vào hoạt động từ đầu năm
2003 đến nay. Hàng năm, cảng cá Quy Nhơn đã phục vụ cho hơn 6.000 lượt tàu
đánh cá, 4.500 lượt tàu vận tải với khối lượng hàng hoá thông qua cảng gần 40.000
tấn, trong đó khối lượng hải sản gần 20.000 tấn, nên hiện nay đã quá tải trong

- Thiết lập hệ thống thông tin nghề cá tại Sở thủy sản trong đó có thống kê nguồn
lợi và môi trường sống của giống loài thủy sản.
- Tăng cường hiệu lực của việc cấp giấy phép hoạt động nghề cá. Quy định vùng,
thời gian đánh bắt và các loại nghề được phép sử dụng đặc biệt là việc hướng dẫn
các quy định về họat động khai thác thủy sản tại các vùng đánh cá chung tại Vịnh
Bắc Bộ
- Thực hiện việc phân vùng đi đôi với việc phân quyền quản lý, tạo điều kiện cho
ngư dân có các lợi ích khác nhau tham gia vào quá trình quản lý và sử dụng theo mô
hình “Quản lý cộng đồng”.
1.1.8.2. Điều chỉnh một số cơ chế chính sách về khai thác nguồn lợi thủy sản, cụ
thể là:
- Tạm thời không gia tăng sản lượng đánh bắt, điều chỉnh cơ cấu đầu tư năng lực
khai thác theo hướng khai thác có chọn lọc; giảm sản lượng khai thác ven bờ, tăng
sản lượng khai thác xa bờ.
- Áp dụng chính sách thuế, vay vốn, hổ trợ giá…. nhằm điều chỉnh cơ cấu nghề
nghiệp cho phù hợp với ngư trường nguồn lợi thủy sản. Nghiêm cấm các loại nghề,
các phương pháp khai thác mang tính hủy diệt nguồn lợi và phá hủy môi trường
sống của các giống loài thủy sản; giảm dần và đi đến cấm hẳn các nghề khai thác
các loại thủy sản chưa trưởng thành; không phát triển và giảm dần số lượng tàu
thuyền lưới kéo đáy và các nghề có quy mô nhỏ hoạt động ven biển cách bờ từ 10 –
15 hải lý.
- Xây dựng các mô hình về Tổ, Đội tàu hợp tác sản xuất trên biển nhằm nâng cao
chất lượng sản phẩm và hiệu quả khai thác, tăng thu nhập cho người lao động, đảm
bảo an tòan cho người và phương tiện họat động nghề cá trên biển, từng bước xóa
dần tư tưởng làm ăn nhỏ lẻ để tiến đến thành lập các tập đoàn nghề cá.

15

1.1.8.3. Nâng cao năng lực quản lý chất lượng sau thu hoạch và xúc tiến thương
mại:

cộng đồng dân cư nghèo ven biển
- Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng nghề cá, cải thiện và nâng dần mức sống về tinh
thần vật chất cho cộng đồng ngư dân ở các làng cá lên mức sống trung bình của cả
tỉnh.
- Nâng cao trình độ dân trí , trang bị những kiến thức về hàng hải, công nghệ kỹ
thuật khai thác, thông tin về ngư trường nguồn lợi .
1.1.8.5. Xây dựng và ban hành một số chính sách, chương trình dài hạn về bảo
vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản theo hướng bền vững cụ thể là:
- Tổng hợp các tài liệu về nguồn lợi và môi trường sống của các giống loài thủy sản,
kết hợp với điều tra, khảo sát bổ sung để đánh giá đúng thực trạng nguồn lợi và môi
trường sống của các giống loài thủy sản, những tác động do các hoạt động của con
người, thiên nhiên đối với sự phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản và an toàn về
môi trường.
- Bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái ven bờ như : đầm Thị Nại, rừng ngập mặn
Cồn Chim, rạn san hô bán đảo Phương Mai –Quy Nhơn.
- Quy định về thời gian, khu vực cấm khai thác tôm hùm trên vùng biển Bình định
và Chình mun tại đầm Châu Trúc – Phù Mỹ.
1.1.8.6. Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản, đồng thời với công tác phòng
chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững, cụ thể là :
- Chuyển đổi cơ cấu đất nhiễm mặn, đất hoang hóa, vùng đất cát bãi ngang sang
nuôi trồng thủy sản.
- Đa dạng hóa các đối tượng nuôi trồng, chú trọng các đối tượng có giá trị kinh tế
cao.
- Đầu tư và quy hoạch cơ sở hạ tầng cho các vùng nuôi để công nghiệp hoá ngành
nuôi trồng thủy sản .
- Phát triển nuôi thủy đặc sản trên biển như : tôm hùm, cá mú, rong sụn, ngọc trai.

17

- Phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt tập trung chủ yếu phát triển các loại thủy

khẩu cũng như phân loại, sơ chế thủy sản phát triển sẽ tạo cơ hội ổn định việc
làm cho phụ nữ.
1.1.8.9.Phát triển thủy sản gắn với tuyên truyền giảm HIV/AIDS
Hệ thống hành chính ngành thủy sản thiết lập mạng lưới quản lý xuống tận
các huyện và cộng đồng, các cơ sở làm nghề cá, qua đó mạng lưới được sử dụng
để tuyên truyền nhận thức về HIV/AIDS ( bao gồm việc phổ biến thông tin và tổ
chức các chiến dịch tuyên truyền).
1.2. Tình hình nghiên cứu và hoạt động sản xuất nghề câu cá ngừ đại dương
Vào năm 1992 công nghệ nghề câu cá ngừ đại dương của Nhật Bản, Đài
Loan được chuyển giao cho Tổng Công ty hải sản Biển Đông, đồng thời các thị
trường cá ngừ đại dương ở Nhật, Mỹ , Đài Loan, Hàn Quốc được mở rộng, vì vậy
việc tiêu thụ và giá cả sản phẩm ngày càng cao và làm cho nghề câu cá ngừ đại
dương trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ.
Nghề câu cá ngừ đại dương là loại nghề thao tác đơn giản, không đòi hỏi
nhiều nhân lực, chi phí đầu tư ngư cụ và trang thiết bị thấp, là loại nghề mang tính
chọn lọc đối tượng cao và đem lại hiệu quả cao trong quá trình đánh bắt.
1.2.1. Nghề khai thác cá ngừ đại dương trên thế giới
Cá ngừ được phân bố từ vĩ độ 40
0
N đến vĩ độ 40
0
S, theo từng khu vực thuộc
vùng biển của các đại dương : Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương,
biển Caribê và Địa Trung Hải.
Nghề khai thác cá ngừ rất phát triển tại vùng biển phía tây và trung tâm Thái
Bình Dương (WCPO), cá ngừ được khai thác bằng nhiều ngư cụ khác nhau, từ nghề
cá thủ công quy mô nhỏ ở đảo Pacific đến nghề cá hiện đại, quy mô lớn ở các vùng
biển thuộc Đông Nam châu Á. Lưới vây, lưới rê và câu là các ngư cụ được sử dụng
rộng rãi trong khai thác cá ngừ ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nghề câu giăng
khai thác hầu hết các loài cá trưởng thành.

Đ.lạnh
19.037 9.688 8.294 32.711 29.564 30.585 32.18

ngừ
Tươi
25.562 23.335 22.917 25.02 32.949 20.214 26.82
Vây
dài
Đ.lạnh
27.309 28.839 46.994 30.105 21.456 15.613 9.591

ngừ
Tươi
76.745 60.497 46.516 89.733 58.905 95.455 78.965
vằn Đ.lạnh
193.421 181.381 213.403 198.86 133.339 246.461 220.231
Tổng 398.537 333.105 371.911 423.815 325.339 454.199 416.45

Theo thống kê của Tổ chức FAO năm 2002, sản lượng khai thác nhóm cá
ngừ trên thế giới đạt 6.088.337 tấn trong năm 2002, trong đó cá ngừ các lọai đạt sản
lượng 3,7 triệu tấn – 3,8 triệu tấn mỗi năm. Sản lượng khai thác cá ngừ hàng năm
cao nhất ở vùng biển Thái Bình Dương là 2,5 triệu tấn năm 2000 chiếm 64% sản
lượng đánh bắt cá ngừ các vùng trên thế giới, các lọai nghề đánh bắt chủ yếu là lưới
vây chiếm 65%, câu vàng chiếm 14% , câu cần chiếm 10% và năm 2000 các lòai cá

20

ngừ đạt sản lượng cao là cá ngừ vằn đạt 1,9 triệu tấn, cá ngừ vây vàng 1,2 triệu tấn,
cá ngừ mắt to 450.000 tấn.
Các nước có sản lượng khai thác cá ngừ cao trên thế giới là Nhật Bản:


28.58

Giá trị
(USD)
22.976.484 58.592.912 77.463.159 47.722.955 55.054.961 78.401.516
1.2.3. Nghề khai thác cá ngừ đại dương tại Bình Định
Việc khai thác đối tượng cá ngừ đại dương ở vùng biển Bình Định đã xuất
hiện từ lâu khoảng năm 1974 bằng các nghề rê khơi, vây và câu cá nhám. Nhưng do
loại cá ngừ này không có thị trường tiêu thụ và không thuộc sở thích của người dân

21

vùng biển nên những sản phẩm khai thác được đều được coi là sản phẩm phụ, giá
thành thấp và không có hiệu quả.
Nghề câu cá ngừ đại dương bắt đầu phát triển ở Bình Định vào khoảng năm
1993 và chỉ phát triển mạnh trong những năm 1998 đến nay. Thời gian đầu chỉ có
vài tàu đánh bắt nghề lưới chuồn, lưới cản năm, câu khơi ở huyện Hoài Nhơn
chuyển sang đánh bắt nghề câu và thấy rằng sản lượng cao, có hiệu quả nên đã phát
triển dần lên đến 60 chiếc vào năm 1996.
Thực hiện chương trình vay vốn đóng tàu đánh bắt hải sản xa bờ của Nhà
nước, ngành thủy sản tỉnh Bình Định đã chủ trương khuyến khích phát triển mạnh
nghề câu cá ngừ đại dương : trong 95 dự án thì có đến 65 dự án đánh bắt nghề câu
ngừ đại dương (chiếm 68,4%), tập trung ở các địa phương có truyền thống như Hoài
Nhơn, Quy Nhơn. Nhờ đó đã tạo nên phong trào và kích thích phát triển mạnh nghề
câu cá ngừ đại dương tại Bình Định : từ 60 tàu năm 1996 tăng lên 100 tàu năm
1997, 200 tàu năm 2000, 637 tàu năm 2004 và hiện nay có 926 tàu đánh bắt cá ngừ.
Sản lượng đánh bắt năm 2006 đạt 2500 tấn và đã đóng góp phần lớn tăng
kim ngạch xuất khẩu cho ngành kinh tế thủy sản, tăng thu nhập cho ngư dân ở các
huyện ven biển của tỉnh.

Các tàu câu cá ngừ đại dương tại Việt Nam chủ yếu họat động tại các ngư
trường thuộc phạm vi từ vĩ độ
• Đông Bắc Hoàng Sa (từ 15÷20
0
vĩ độ Bắc,112
0
÷115
0
kinh độ Đông)
• Hoàng Sa (từ 14
0
÷17
0
vĩ độ Bắc,109
0
÷112
0
kinh độ Đông)
• Trường Sa (từ 8
0
÷14
0
vĩ độ Bắc,111
0
÷115
0
kinh độ Đông)
• Nam biển Đông (từ 6
0
÷8

kinh độ Đông).
Năm 1993 tại Bình Định, khi mới tổ chức đánh bắt cá ngừ do kết hợp với
nghề lưới chuồn lộng, đánh bắt gần bờ, tàu thuyền có công suất nhỏ (dưới 33 mã
lực) nên ngư trường đánh bắt chỉ hạn chế trong vùng biển gần bờ miền Trung (từ
Đà Nẵng đến Khánh Hoà). Mùa vụ đánh bắt tập trung vào tháng 2÷6 hàng năm.
Từ năm 1999 đến nay, cùng với sự phát triển của tàu thuyền, vàng câu và các
trang thiết bị thì ngư trường đánh bắt cá ngừ đại dương ngày càng được mở rộng ra
các vùng biển khơi như : Đông Bắc Hoàng Sa, Trường Sa và Nam biển Đông. Thời
gian đánh bắt hầu như quanh năm.
Thông thường, những tháng đầu mùa (từ tháng 12 ÷ 3) tập trung đánh bắt ở
vùng Đông Bắc Hoàng Sa, vùng Bắc Trường Sa, thời gian giữa mùa (tháng 4 ÷ 6)
tập trung đánh bắt ở vùng biển Trường Sa và vùng gần bờ miền Trung, thời gian
cuối mùa (tháng 7 ÷ 11) đánh bắt chủ yếu ở vùng biển Nam Trường Sa và Nam biển
Đông.

23

Nghề câu vàng khai thác cá ngừ tại Bình Định gần như quanh năm, trừ những
ngày gió bão hoặc tàu không có khả năng chịu đựng. Trong năm có 2 tháng (tháng 9
và 10) là những tháng có sản lượng thấp và không ổn định so với các tháng khác.
Mùa vụ chính (vụ Bắc): từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau; vào các tháng này,
năng suất khai thác cao nhất trong năm và cá ngừ có chất lượng tốt nhất. Cá ngừ
xuất hiện vùng Đông Bắc của biển Đông vào đầu vụ Bắc, sau đó dịch chuyển dần
về phía Nam và Đông Nam.
Từ tháng (6÷8), sản lượng đánh bắt vẫn khá nhưng chất lượng cá ngừ không
bằng các tháng vụ Bắc.
1.2.3.2. Đối tượng khai thác
Cá ngừ được phân bố trong vùng biển Châu Á Thái Bình Dương, là loài cá kích
thước lớn, tốc độ bơi nhanh, kết thành từng đàn, di cư xa bờ, thuộc loài ăn tạp và
thích mồi sống.

0
C, thích hợp nhất là
(20÷28)
0
C. Chúng có sức sinh sản lớn mùa sinh sản kéo dài từ tháng 03 đến tháng
10, trọng lượng trung bình khai thác từ (15÷53)kg và có chiều dài từ (70÷162)cm.
Đây là loài cá thích ăn mồi sống và tanh, có giá trị kinh tế cao.
b. Cá ngừ mắt to Tên tiếng Anh: Bigeye tuna
Tên khoa học: Thunnus obesus (Lowe, 1839)
Thuờng sống ở vùng biển sâu và sống xen lẫn tạo thành đàn với cá ngừ vây
vàng. Nhiệt độ thích hợp từ (18÷31)
0
C, thích hợp nhất là (20÷28)
0
C . Cá khai thác
được trung bình có khối lượng khoảng (40÷50)kg và chiều dài từ (112÷162)cm.
Đây là loài cá ăn tạp và thích mồi sống, tanh.
Hình 1.2. Cá ngừ vây vàng

Hình1.3.
Cá ng

m
ắt to


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status