Nghiên cứu chuyển đổi giới tính cá rô đồng (anabas testudineusbloch, 1972) bằng phương pháp ngâm và cho ăn hormone diethylstilbestroltại trại thực nghiệm ninh phụng - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TÔ MINH THẢO
NGHIÊN CỨU CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH CÁ RÔ ĐỒNG
(Anabas testudineus Bloch, 1972) BẰNG PHƯƠNG PHÁP
NGÂM VÀ CHO ĂN HORMONE Diethylstilbestrol
TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NINH PHỤNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 60 62 70 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGÔ ANH TU
ẤN
Nha Trang - 2011

i
LỜI CAM ĐOAN

Cảm ơn các anh, chị và các bạn lớp Cao học 2009 đã cùng tôi đoàn kết, gắn
bó vượt qua một chặng đường dài học tập.

Tôi kính gởi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và những người thân đã động
viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để đạt được sự
thành công như hôm nay.
Nha trang, năm 2011
Sinh viên thực hiện

Tô Minh Thảo
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá rô đồng. 3
1.1.1. Đặc điểm phân loại và hình thái cấu tạo.
3
1.1.2. Đặc điểm phân bố.
4
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng.
4
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
5
1.2. Đặc điểm sinh sản 5

17
2.4.3. Cách tiêm kích dục tố.
17
2.5. Kỹ thuật cho đẻ và ấp trứng cá 18
2.6. Bố trí thí nghiệm 18
2.6.1 Thí nghiệm xử lý cá bằng phương pháp ngâm Hormone Diethylstilbestrol.
19
2.6.2 Thí nghiệm xử lý cá bằng phương pháp cho ăn Hormone Diethylstilbestrol
19
2.7. Chăm sóc và quản lý 20
2.8. phương pháp xác định các yếu tố môi trường. 20
2.9. Phương pháp kiểm tra giới tính cá. 20
2.10. Phương pháp xác định các chỉ tiêu trong thí nghiệm. 21
2.11. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 22
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1. Các yếu tố môi trường trong thời gian ngâm, nhiệt độ (
0
C), pH, oxy 23
3.2. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên quá trình cái hóa bằng phương pháp ngâm 24
3.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tỷ lệ sống, tỷ lệ cái và cái hóa bằng
phương pháp ngâm ngày thứ 9.
25
3.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tỷ lệ sống, tỷ lệ cái và cái hóa bằng
phương pháp ngâm ngày 12.
26
3.2.3. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tỷ lệ sống, tỷ lệ cái và cái hóa bằng
phương pháp ngâm ngày 15.
26
3.3. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên hiệu suất cái hóa bằng phương pháp ngâm. 28
3.4. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tốc độ tăng trưởng của phương pháp ngâm 29

PHỤ LỤC

vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Khi phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày cá người ta thấy có: 5
Bảng 1.2: Tuổi thành thục của cá rô đồng 6
Bảng 1.3: Mùa vụ sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên 6
Bảng 1.4 : Sức sinh sản tuyệt đối của cá rô đồng 7
Bảng 2.1. Vật liệu và điều kiện thí nghiệm 16
Bảng 3.1. các yếu tố môi trường trong thời gian ngâm. 23
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên quá trình cái hóa bằng pp ngâm. 24
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tỷ lệ sống sau khi ương và tỷ lệ cái sau khi
ngâm ở nồng độ DES 6 mg/l 28
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của nồng độ DES lên hiệu suất cái hóa bằng phương pháp
ngâm 28
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tốc độ tăng trưởng sau khi ương 90
ngày của phương pháp ngâm. 29
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của nồng độ DES lên quá trình cái hóa bằng phương pháp cho
ăn. 32
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của nồng độ DES lên tỷ lệ sống sau khi ương và tỷ lệ cá cái
trung bình nồng độ DES ở 80 mg/kg thức ăn 35
Bảng 3.8: Ảnh hưởng nồng độ DES lên hiệu suất cái hóa phương pháp cho ăn 36
Bảng 3.9: Ảnh hưởng nồng độ DES lên tốc độ tăng trưởng sau khi ương 90 ngày
của phương pháp cho ăn 37
Bảng 3.10: So sánh hiệu quả đổi giới tính cá rô đồng giữa hai phương pháp ngâm và
cho ăn Hormone DES 41
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 15
Hình 2.2: Giải phẩu cá bố (a) và cá mẹ (b) kiểm tra độ thành thục của cá 17

GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
ĐC: Đối chứng
TLS: Tỷ lệ sống
HSCH: Hiệu suất cái hóa
TB ± SE: Trung bình ± sai số chuẩn
DES: Diethylstibestrol – Hormone sinh dục cái
MT: 17 α-Methyltestoteron – Hormone sinh dục đực
LH-RHa: Luteinizing Hormone – Releasing Hormone analog – hormone kích thích
sinh sản
1

MỞ ĐẦU
Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch,1792) là một loài cá bản địa của Việt
Nam, rất được ưa chuộng trong và ngoài nước, có những ưu điểm nổi trội hơn cho
nuôi thương phẩm. Chúng chịu đựng tốt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường,
ít bị bệnh tật, có thể nuôi với mật độ dày, chăm sóc dễ dàng, thức ăn đơn giản và
cho năng suất cao. Đặc biệt thịt cá rô đồng có thể chế biến được nhiều món ăn ngon.
Khi sản xuất giống thành công (Nguyễn Thành Trung, 1999) thì cá rô đồng được
xác định là đối tượng chiến lược của ngành thủy sản được nuôi khá phổ biến trên cả
nước, nhiều nhất là ở các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long như: Hậu Giang, An
Giang, Đồng Tháp, Bến Tre…
Cá rô đồng có thịt thơm ngon, có giá trị thương phẩm cao, là loài cá sống trong
môi trường nước ngọt ở vùng nhiệt đới, chúng sống khắp thủy vực như: ao đìa, đầm
lầy, mương vườn, ruộng lúa…Chúng phân bố ở nhiều nơi trên thế giới: Trung
Quốc, Việt Nam , Lào, Thái Lan, Campuchia… Khả năng thích nghi với môi trường
sống rất rộng, đặc biệt ở những nơi có oxy thấp, chúng có khả năng hô hấp khí trời
bằng cơ quan hô hấp phụ.
Trong thời gian qua đối với nghề nuôi thương phẩm cá rô đồng có sự chênh
lệch về kích thước rất lớn giữa cá đực và cá cái, lúc thu hoạch cá cái có thể đạt khối
lượng 60 – 100 g/con, còn cá đực chỉ đạt kích thước bằng 1/2 đến 1/3 thể trọng của

Ảnh hưởng của nồng độ Hormone Diethylstilbestrol lên tốc độ sinh trưởng và
tỷ lệ sống của cá rô đồng.
Ý nghĩa của đề tài:
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài cung cấp những số liệu khoa học đầy đủ, đóng góp
những hiểu biết về nghiên cứu chuyển đổi giới tính cá rô đồng toàn cái để phục vụ
cho nghề nuôi ngày càng phát triển.
- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả của đề tài sẽ giúp khắc phục được con giống hiện
nay, giúp người nuôi lựa chọn được con giống lớn nhanh, đạt kích cỡ đồng đều khi
nuôi thương phẩm. Đề tài thành công sẽ tạo ra thêm một đối tượng nuôi mới có giá
trị kinh tế, góp phần giải quyết những khó khăn về con giống trong các trại sản xuất
giống hiện nay.
3 CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Một số đặc điểm sinh học của cá rô đồng.
1.1.1. Đặc điểm phân loại và hình thái cấu tạo.
 Vị trí phân loại.
Cá rô đồng có hệ thống phân loại như sau:
Lớp cá xương: Osteichthyes
Bộ cá vược: Perciformes
Bộ phụ : Anabantoidei
Họ: Anabantoidae
Giống: Anabas
Loài: Anabas testudineus Bloch, 1792
Tên địa phương: Cá rô đồng

nghiệt của môi trường như: Nước dơ bẩn giàu vật chất hữu cơ, diện tích nhỏ, thiếu
Oxy, pH thấp (3,5) do đó có thể nuôi trong bể xi măng, ao hồ nhỏ… và nuôi với
mật độ cao
1.1.3. Đặc điểm sinh trưởng.
Cá rô đồng có tốc độ sinh trưởng tương đối chậm. Trong tự nhiên cá 1 năm
tuổi đạt (50 – 80) g. Kích thước tối đa (300 – 400) g/con, thường gặp (50 – 100)
g/con. Trong điều kiện ao nuôi sử dụng thức ăn chế biến với thức ăn viên hàm
lượng đạm (28 – 30)% cá có thể đạt (60 – 100) g/con, có con đạt 150 g. Cá đực
thường có khối lượng nhỏ hơn cá cái cùng lứa (Phạm Văn Khánh & ctv, 1999).
Theo nghiên cứu của Shinsuke Morioka và ctv, (1998) cá rô đồng mới nở đạt
kích thước trung bình 1,9 ± 0,1 mm, cá đạt 8,7 ±1,3 mm ở 19 ngày. Sau khi ương 35
5
ngày cá đạt 18,4 ± 2,1 mm, ở giai đoạn đầu cá có tốc độ tăng trưởng tương đối
nhanh (trích theo Đặng Khánh Hồng và Nguyễn Tường Anh, 2006).
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá rô đồng là loài cá ăn tạp, phàm ăn thiên về động vật. Qua một số nghiên
cứu cho thấy ống tiêu hóa ngắn, tỷ lệ chiều dài của ống tiêu hóa so với chiều dài của
thân cá là (0,76 – 1,06) cm. Cá có răng sắc, chắc xếp thành dãy trên 2 hàm. Nargis
và Hossain, 1987 (trích theo Đặng Khánh Hồng và Nguyễn Tường Anh, 2006).
Bảng 1.1: Khi phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày cá người ta thấy có:
Thành phần Tỷ lệ thức ăn (%)
Giáp xác 19
Nhuyễn thể 6
Thực vật vụn 46
Côn trùng 3,5
Cá 9,5
Vật chất ít tiêu hóa 16

pH dạ dày 5,9 – 6,5 (Pandrey và ctv, 1992) cá rất tích cực tìm mồi và phàm
ăn, ở giai đoạn còn nhỏ thức ăn chủ yếu là động thực vật phù du. Ở giai đoạn cá

(cm)
Tác giả nghiên cứu
1 12 12 Mai Đình Yên, 1983
2 5 - 6 8 -10 Potong Kam, 1983
3 10 12 - 13 Trần Thị Trang, 2001
4 10 13 – 13,8 Nguyễn Ngọc Phúc, 2000

 Mùa vụ sinh sản
Trong điều kiện nuôi, cá rô đồng có thể đẻ nhiều lần trong năm. Ngoài tự
nhiên cá sinh sản vào mùa mưa, khi thành thục cá bố mẹ di chuyển từ nơi sinh sống
đến nơi vừa ngập nước sau cơn mưa đầu mùa và ngược dòng để tìm bãi đẻ, trứng cá
rô đồng thuộc loại trứng trôi nổi, cá không có tập tính giữ và ấp trứng.
Bảng 1.3: Mùa vụ sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên
TT Mùa vụ sinh sản
(tháng âm lịch)
Tác giả nghiên cứu
1 4 – 6 Bộ Thủy Sản, 1996
2 5 – 7 Phạm Văn Khánh, 1999
3 4 – 5 Trần Thị Trang, 2001
4 5 – 6 Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993

 Sức sinh sản
Sức sinh sản của cá thay đổi theo kích thước, khối lượng và tuổi của cá. Cá
có kích thước lớn thì có sức sinh sản lớn, sức sinh sản của cá cũng thay đổi theo
7
vùng nước mà nó phân bố, thay đổi theo tập tính sinh sản. Trong điều kiện nuôi tốt,
sức sinh sản tuyệt đối cao hơn so với ngoài tự nhiên (Nguyễn Thành Trung, 1999).
Bảng 1.4 : Sức sinh sản tuyệt đối của cá rô đồng
STT


Nguyễn Văn Triều và Dương Nhật Long (2001) đã kết luận “Cá rô đồng có thể
thành thục tốt sau từ 50 - 60 ngày nuôi vỗ, liều lượng chất kích thích sinh sản như
não thùy thể cá chép (8 mg/kg cá cái); HCG (3.000 UI/kg cá cái) và LRHa (50
µg/kg cá cái) dùng kích thích cá rô đồng sinh sản, cho tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao
nhất”. (Đặng Khánh Hồng và Nguyễn Tường Anh, 2006) đã nghiên cứu sản xuất
con giống cá rô đồng toàn cái và thu được kết quả khả quan từ (59,12% - 78,95%).
Đàm Bá Long (2005) nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm
cho đẻ nhân tạo cá rô đồng tại Khánh Hòa đã kết luận: Cá rô đồng thành thục ngoài
8
tự nhiên có khối lượng trung bình 26,89 g/con ở cá cái và 16,16 g ở cá đực. Mùa
sinh sản của cá rô đồng ngoài tự nhiên kéo dài quanh năm, hệ số thành thục sinh
dục của cá cái đạt (6,27 ± 2,34%) và ở cá đực là (1,09 ± 0,24%), sức sinh sản tuyệt
đối là (16.016 ± 3.767) trứng/cá cái. Cá nuôi vỗ trong giai với mật độ 0,5 – 1 kg/m
3

thành thục sau 20 - 25 ngày nuôi, thời gian nuôi tái phát là từ 12 - 15 ngày, tỷ lệ
thành thục đạt 95,24% ở cá đực và 76,50% ở cá cái. Với liều lượng 50 µg LRHa + 5
mg Dom/kg cá cái, những cá cái đẻ trong bể xi măng có thời gian hiệu ứng kích dục
tố dao động từ 7
h
- 7
h
30

. Sức sinh sản thực tế của cá rô đồng thành thục ngoài tự
nhiên là 935 trứng/g cá cái sai khác có ý nghĩa (P< 0,05) trong khi đó sức sinh sản
thực tế của cá rô đồng thành thục trong điều kiện nhân tạo đạt 807 trứng/g cá cái.
Cá rô đồng thành thục ngoài tự nhiên cũng cho các chỉ tiêu; tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở
của trứng cao hơn cá rô đồng thành thục trong điều kiện nhân tạo.
Thí nghiệm nuôi thâm canh cá rô đồng bằng thức ăn viên với các hàm lượng

ngọt. Cá rô đồng là loài cá rất quan trọng ở khu vực động Nam châu Á, vì vậy việc
9
nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm trên đối tượng này đã và đang
được các quốc gia trong khu vực này hết sức quan tâm. Tuy nhiên trên thế giới chưa
có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này, các công trình nghiên cứu bao
gồm hình thái, cấu tạo, phân loại, đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo Khang,
1962 và rainboth, 1996. (trích theo Đàm Bá Long, 2005).
Về đặc điểm sinh học sinh sản, (Potongkam, 1971). đã nghiên cứu và tiến
hành mô tả các giai đoạn thành thục của tinh sào và noãn sào, sức sinh sản, đường
kính trứng, noãn hoàng của trứng. Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá rô đồng
cho thấy; cá rô đồng là loài thích ứng rộng với điều kiện khí hậu nhiệt đới, vào mùa
khô thậm chí lúc thời tiết khô hạn cá cũng có thể sống chui rúc dưới bùn hay thoát
ra khỏi mặt nước để tìm thức ăn ở các vùng đất ẩm thấp.
Doolgindachabaporn (1994) đã thử nghiệm cho sinh sản thành công và nuôi
cá rô đồng trong ao, sử dụng phụ phẩm nông nghiệp và đạt năng suất khoảng 10
kg/100m
2
sau 3 tháng nuôi. Kết quả ương cá rô đồng của Doolgindachabaporn
(1994) cho thấy; sau 1,5 tháng đạt kết quả với tỷ lệ sống dao động từ (3,7 – 15,6)%
năng suất cá ương bình quân đạt 1653 kg cá giống/ha mặt nước ao nuôi. Theo nhận
định của Ray (1989) thì hệ số tiêu tốn thức ăn ở cá rô đồng có lẻ là cao so với các
loài cá nhiệt đới khác. Theo Mangklamanee (1986) thì cá rô đồng có tốc độ tăng
trưởng chậm khoảng 0,5 g/ngày khi nuôi trong ao với mật độ 10 - 15 con/m
2
và có
bổ sung thêm thức ăn. Thức ăn cung cấp cho cá nuôi trong 3 tháng đầu là thức ăn
viên công nghiệp có 28% đạm, khẩu phần ăn dao động từ 10 - 12% khối lượng thân
của đàn cá nuôi/ngày.
1.4. Tình hình nghiên cứu chuyển đổi giới tính trong nước và trên thế giới
1.4.1. Tình hình nghiên cứu chuyển đổi giới tính trong nước.

áp dụng. Với nhiệt độ được xác định trong khoảng 27-28
o
C, việc ngâm cá rô phi
non ở thời điểm 13 – 14 - 15 DPH (Day Post hatching – ngày sau khi nở) với các
mức nồng độ MT 1,2; 1,8 và 2,4 mg/l trong thời gian (3, 4 và 5) giờ đã thu được
trung bình 94,12% cá đực (trong đó tỷ lệ đực hóa 87,79%), tỷ lệ sống 98,39%, hiệu
suất đực hóa là 86%.
Khi sử dụng phương pháp cho ăn MT, lượng MT khó phân bố đều đến từng
cá thể và qua nhiều công đoạn chắc chắn làm hao hụt một lượng lớn MT, không
quản lý được lượng MT thừa. Đối với phương pháp ngâm, lượng MT được sử dụng
một cách chính xác, lượng MT sẽ đi vào bên trong cơ thể cá theo nguyên lý thẩm
thấu qua da, mang và các bộ phận khác một cách đồng đều giữa các cá thể. Lượng
MT còn thừa trong dung dịch ngâm có thể được thu lại và xử lý để không có ảnh
hưởng đến môi trường và sức khỏe con người
(trích theo Lê Văn Thắng, 1999).

11
1.4.2. Tình hình nghiên cứu chuyển giới tính trên thế giới.
Trong nhiều loài cá nuôi, cá cái thường tăng trưởng nhanh hơn cá đực và đạt
kích thước lớn hơn sau cùng thời gian nuôi. Ở một số loài, con đực thành thục trước
khi đạt kích thước thương phẩm cho nên kết quả khi thu hoạch là kích thước cá
không đồng đều dẫn đến năng suất bị giảm, ảnh hưởng đến lợi nhuận rất lớn
(Yakupitiyage, 1989).
Tại Thái Lan, Pongthana và ctv (1995, 1999) đã cho sinh sản cá mè vinh toàn
cái bằng phương pháp dùng mẫu sinh nhân tạo kết hợp với việc chuyển đổi giới tính
bằng Hormone sinh dục. Theo Pandian (1995) thì có thể thực hiện chuyển đổi giới
tính khoảng 47 loài cá, bằng 31 loại Hormone steroid khác nhau (16 androgen và
15 estrogen) trong đó phổ biến nhất là 17α-methyltestosteron và estradiol-17β (để
đực hoá hay cái hoá) bằng phương pháp cho ăn hoặc ngâm. Sự đáp ứng của một số
họ cá đối với chúng có thể xếp theo thứ tự sau: Cichlidae < Cyprinodondidae <

chúng (Hunter và ctv, 1982, 1983; Bla´zquez và ctv, 1999). “Con đực mới” F
1
mang
nhiễm sắc thể XX có thế hệ F
2
về lý thuyết, phải đều là con cái (kiểu gen và kiểu
hình). Trong khi đó, con đực bình thường XY sẽ có đàn con gồm cả con cái và và
con đực. Khi dùng phương pháp này, đực hoá không phải là mục đích chính mà là
một bước quan trọng trong phương pháp cái hoá gián tiếp (trích theo Đặng Khánh
Hồng, 2006). Một số loài cá đã được cái hoá theo phương pháp này như cá Sóc
(Oryzias latipes) (Yamamoto, 1958), cá vàng (Carassius auratus) (Yamamoto and
Kajishima, 1969), cá hồi cầu vồng (Johnstone và ctv., 1979), cá hồi Đại Tây Dương
(Salmo salar) (Johnstone and Youngson, 1984), cá hồi (Oncorhynchus tshawytscha)
(Hunter và ctv, 1983), cá rô phi (Nile tilapia) (Mair và ctv., 1991), nhóm cá 7 màu
(Kavumpurath and Pandian, 1993), cá xiêm (Betta splendens) (Kavumpurath and
Pandian, 1994), cá Trê phi (Clarias lazera).
Mặc dù, giai đoạn đầu của phương pháp này tốn nhiều thời gian nhưng
phương pháp cái hoá gián tiếp này có ưu điểm là cá thương phẩm không bao giờ
tiếp xúc với steroid, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước
vì người ta cho rằng các Hormone steroid có thể gây ung thư. Phương pháp này
cũng đã được dùng trong sản xuất cá hồi (Oncorhynchus tshawytscha) ở Anh (Bye
and Lincoln, 1986) và cá hồi Chinook ở Canada (trích theo Đặng Xuân Trường,
2010)
 Cái hóa trực tiếp: Trong thực tế, phương pháp này đơn giản, thuận lợi khi
áp dụng và không tốn thời gian. Tuy nhiên, mặt hạn chế của phương pháp này là
mức độ thành công có thể thay đổi phụ thuộc vào thao tác và chăm sóc của người
kỹ thuật khi xử lý. Hơn nữa, cá xử lý theo cách này không thể đưa vào chương trình
sản xuất giống, vì phân nửa số cá cái được tạo ra là có kiểu gen con đực. Những con
13
cái XY này khi phối giống với con đực bình thường sẽ tạo ra thế hệ con với tỷ lệ

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu.
Trại thực nghiệm phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công
nghệ nuôi trồng thủy sản nước ngọt trường Đại học Nha Trang (Ninh Phụng, Ninh
Hòa, Khánh Hòa).
2.1.2 Thời gian nghiên cứu.
Ngày 13 tháng 3 năm 2010 đến ngày 20 tháng 5 năm 2011
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Cá rô đồng (Anabas testudineus Bloch, 1792).
15
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm ngâm và cho ăn và ngâm Hormone Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3 Vật liệu và điều kiện cơ sở thí nghiệm

mg/lít
ĐC
6
mg/lít
2
mg/lít
80
mg/kg
60
mg/kg
40
mg/kg
16
Bảng 2.1. Vật liệu và điều kiện thí nghiệm
Tên vật liệu Chủng loại và số lượng
Hormone Hormone Diethylstibestrol (DES)
Bể thí nghiệm 20 bể Composit, thể tích 0,5m
3

Thể tích nước thí nghiệm 200 lít
Giai thí nghiệm 60 giai làm bằng vải the
Số lần lặp lại ở mổi lô thí nghiệm 3 lần
Giai ương cá từ 1 đến 3 tháng tuổi 40 giai bằng lưới mịn, mắt lưới 100 × 100
ô/dm
2

Thể tích nước nuôi 0,8m
3

Số lượng mẫu cá trong mỗi bể thí

Trích đoạn Thí nghiệm xử lý cá bằng phương pháp ngâm Hormone Diethylstilbestrol
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status