Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm sú nuôi thâm canh tại huyện bình đại, tỉnh bến tre - Pdf 22

- 1 -
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vài chục năm trở lại đây nuôi tôm là một trong những nghề phát triển mạnh,
nhiều loại tôm có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào nuôi với nhiều hình thức khác
nhau: nuôi quảng canh, bán thâm canh và thâm canh. Tại một số quốc gia Châu Á,
Châu Mỹ, nghề nuôi tôm phát triển ở trình độ cao, thu hút một lực lượng lớn các
nhà đầu tư, các cán bộ nghiên cứu và người lao động. Trong thực tế, nghề nuôi tôm
đã mang lại lợi nhuận khá cao cho các quốc gia này (Trần Văn Vỹ và ctv, 1995).
Việt Nam với hơn 3.600 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa
sông, lạch và hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển. Trong nội địa hệ thống sông ngòi
kênh rạch chằng chịt và các hồ chứa thủy lợi, thủy điện đã tạo nên một tiềm năng
lớn về diện tích nuôi trồng thủy sản; trong đó có 1.700.000 ha để phát triển nuôi
nước ngọt, lợ, mặn đặc biệt là phát triển nuôi tôm (Bộ Thủy sản, 1999).
Nghề nuôi trồng thủy sản ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long trong những
năm gần đây phát triển mạnh mẽ cả về diện tích và năng suất nuôi. Đặc biệt, nuôi
tôm chiếm vị trí quan trọng trong nuôi trồng thủy sản, góp phần đáng kể về chuyển
đổi cơ cấu kinh tế các vùng nông thôn ven biển, giải quyết công ăn việc làm cho
hàng ngàn lao động, nâng cao thu nhập cho người dân vùng ven biển, tăng tích lũy
ngoại tệ cho nhà nước và thay đổi bộ mặt nông thôn.
Tỉnh Bến Tre là một tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, với hệ
thống sông ngòi nội địa chằng chịt được bắt nguồn từ hệ thống sông Mêkông đổ ra
biển Đông thông qua bốn cửa sông lớn Cổ Chiên, Ba Lai, Hàm Luông và Cửa Đại,
với tổng chiều dài hơn 382 km kết hợp với 65 km bờ biển; thiên nhiên ưu đãi đã tạo
thành cho Bến Tre hơn 60.000 ha mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản ở cả 3
vùng sinh thái mặn, lợ, ngọt và vùng biển đặc quyền gần 20.000 km
2
với hằng trăm
giống loài thủy sản đa dạng phong phú.
- 2 -
Với những lợi thế về điều kiện tự nhiên như trên nghề nuôi trồng thủy sản của

quan đến hoạt động nuôi tôm tại tỉnh như sau:
- Môi trường nước vùng ven biển bị ô nhiễm do chất thải nuôi trồng thủy
sản, nhất là nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp phát triển một cách tự phát và
không được kiểm soát. Do điều kiện tự nhiên của ĐBSCL nói chung và tỉnh Bến
Tre nói riêng, đặc biệt là huyện Bình Đại, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong
những năm tới sẽ làm cho môi trường đất chịu sự tác động của quá trình phèn hóa
và mặn hóa. Các hoạt động sản xuất như phát triển hệ thống thủy lợi, đào ao, đầm
nuôi thủy sản không hợp lý sẽ làm cho chất sinh phèn được đưa lên mặt đất hay tiếp
xúc với oxy và bị oxy hóa hình thành tầng phèn. Thủy triều biển Đông tiếp tục tác
động lên các vùng đất thấp, gây nhiễm mặn cục bộ tại một số khu vực. Việc canh
tác không theo quy hoạch như dẫn nước mặn vào vùng ngọt hóa để nuôi trồng Thủy
sản làm phá vỡ cấu trúc và suy thoái nguồn tài nguyên đất. Các hoạt động khai thác
nước ngầm quá mức giới hạn và không theo quy hoạch làm cho mực nước ngầm bị
hạ thấp hơn mức cân bằng, tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập, gây mặn hóa,
làm cho tài nguyên đất bị suy thoái. Những năm gần đây, thời tiết diễn biến ngày
càng bất thường, xâm nhập mặn vào mùa khô hết sức phức tạp.
- Kết quả quan trắc nước biển ven bờ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bến Tre hàng năm cho thấy, hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước biển khá cao, từ
46 mg đến 500 mg/lít, vượt tiêu chuẩn Việt Nam cho chất lượng nước bãi tắm từ
1,84 đến 20 lần. Nước biển ven bờ tại các huyện Ba Tri, Thạnh Phú và Bình Đại
mặc dù chưa bị ô nhiễm hữu cơ, thể hiện qua giá trị BOD5 vẫn nằm trong giới hạn
cho phép. Tuy nhiên, nước biển ven bờ vào đầu mùa khô đã bị ô nhiễm bởi chất
dinh dưỡng thể hiện qua giá trị Amoniac vượt tiêu chuẩn cho phép và có giá trị dao
động từ 0,11 mg đến 2,42 mg/lít. Nước biển ven bờ của tỉnh cũng bị ô nhiễm vi sinh
với giá trị tổng Coliform biến thiên từ 1.500 MPN đến 240.000 MPN/100 ml, vượt
tiêu chuẩn Việt Nam 5.943 – 1.995 từ 1,5 đến 240 lần.
Http://www.bentretv.org.vn/news/index.php?Mode
- 4 -
- Từ vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi đã kéo theo dịch bệnh do một số xã và
vùng nuôi chưa thật sự quan tâm đến việc quản lý vùng nuôi, chưa kiên quyết trong

gian qua là một nghiên cứu cần thiết. Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất
tôm sú nuôi thâm canh tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre” sẽ góp phần đưa ra một số
đề xuất cho công tác quy hoạch vùng nuôi tôm sú thâm canh một cách hợp lý, đảm
bảo cho sự phát triển nghề này tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre ổn định và bền vững.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu chung:
Điều tra thực trạng nghề nuôi tôm sú thâm canh nhằm xác định các nhân tố
ảnh hưởng đến năng suất tôm sú nuôi thâm canh tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre.
Mục tiêu cụ thể:
1- Đánh giá hiện trạng nghề nuôi tôm sú tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre.
(Giai đoạn 2005 – 2007)
2- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm sú nuôi thâm canh tại
huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre.
3- Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao năng suất của hoạt động nuôi tôm
sú thâm canh tại địa phương nghiên cứu.
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài
Những kết luận của đề tài sẽ là một tài liệu tư vấn cho Sở Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, tham mưu cho Tỉnh Ủy và UBND Tỉnh Bến Tre đề ra chiến
- 6 -
lược phát triển ngành nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến năm
2020.
- Là bộ tài liệu cho huyện Bình Đại định hướng, đề ra các giải pháp quản lý
và đầu tư nghề nuôi tôm sú thâm canh cho những năm tiếp theo đảm bảo phát triển
bền vững nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế địa phương.
- Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể hữu ích cho những hộ nuôi tôm trong
việc đầu tư và phát triển công việc nuôi của mình.
- Kết quả nghiên cứu hy vọng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên
cứu tiếp theo và có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên, sinh viên ngành Kinh tế
thủy sản.

số lượng hộ nuôi tôm sú thâm canh trên địa bàn. Tiếp theo xác định vùng lấy mẫu,
phân bổ mẫu cho từng vùng và thực hiện điều tra cụ thể từng mẫu đã được xác định.
Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu
Dùng phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng theo địa bàn, dựa trên
danh sách hộ gia đình nuôi tôm sú thâm canh tại huyện Bình Đại của Phòng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn huyện Bình Đại. Số lượng mẫu được xác định là 50
quan sát (quy tắc số đơn vị mẫu phải lớn hơn số biến trong mô hình cộng thêm 30).
b) Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sơ bộ
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định tính
bằng cách phỏng vấn sâu các chuyên gia trong lĩnh vực nuôi tôm sú thâm canh (cán
- 8 -
bộ kỹ thuật của các trại nuôi, phòng Khuyến ngư của huyện….) và các hộ trực tiếp
tham gia nuôi tôm để nắm được sơ bộ về quy trình nuôi cũng như tình hình nuôi
tôm sú thâm canh hiện nay. Trên cơ sở đó xem xét, điều chỉnh lại bảng câu hỏi cho
phù hợp với mô hình nghiên cứu đề nghị.
Nghiên cứu chính thức
Dùng phương pháp phân tích định lượng: hoàn thiện bảng câu hỏi để thu
thập dữ liệu sau đó dùng phương pháp thống kê mô tả, mô hình hồi quy để phân tích
số liệu. Bảng câu hỏi sau khi hoàn thiện sẽ được trực tiếp phỏng vấn các chủ hộ
nuôi để thu thập dữ liệu. Các phương pháp định lượng cụ thể bao gồm:
Phương pháp thống kê mô tả: So sánh các nhóm liên quan nhằm làm nổi bật
những đặc trưng của mỗi nhóm về các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch
của mẫu nghiên cứu.
Lập mô hình hồi quy: Thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến
năng suất tôm sú nuôi thâm canh, từ đó tìm ra các nhân tố tác động có ý nghĩa đến
năng suất nuôi tôm.
1.3.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng suất tôm sú nuôi thâm canh của các cơ sở (trang trại)
hay hộ dân nuôi tôm sú thâm canh.


Hình 1.1: Thiết kế nghiên cứu của đề tài
Xác định nội dung nghiên cứu

Tổng quan lý thuyết

Mô hình nghiên cứu
đề nghị
Thảo luận nhóm
Thiết kế bảng phỏng vấn
Điều tra thử
Hiệu chỉnh bảng phỏng vấn
Điều tra diện rộng
Phân tích dữ liệu, kiểm định giả
thiết bằng mô hình hồi quy
Kết quả và thảo luận kết quả
Kết luận và kiến nghị
- 10 -
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT
Thuật ngữ năng suất lần đầu tiên được nói đến trong bài báo của Quesnay
vào năm 1766. Nhưng đến hơn một thế kỷ sau, năm 1883, nó mới được định nghĩa
như “Khả năng sản xuất”. Vào thời kỳ này người ta chưa nói đến nhiều về năng suất

Năng suất là nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực (tức là
làm thế nào để gia tăng số lượng và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ được sản
xuất và giao đến nơi khách hàng yêu cầu với giá thành thấp nhất).
Năng suất là sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng và cổ đông (tức là tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua việc
thỏa mãn ở mức cao nhất sự hài lòng của khách hàng với giá thành thấp nhất ở mức
có thể).
Các định nghĩa trên được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau
với mục đích định hướng vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các
định nghĩa trên chỉ bàn về định tính, không đi sâu vào vấn đề định lượng của năng
suất nên có phần trừu tượng và không thể sử dụng để so sánh năng suất giữa các
doanh nghiệp ở các ngành khác nhau, hay các doanh nghiệp trong cùng ngành
nhưng có qui mô sản xuất, vốn, trình độ công nghệ, quản lý khác nhau.
Các định nghĩa về định lượng của năng suất như:
- Trong một đơn vị thời gian,
Năng suất = Tổng lợi ích mang lại cho khách hàng / Giá trị của nguồn
lực sử dụng (1)
- Trong một đơn vị thời gian,
Năng suất = Xuất lượng / Nhập lượng (2)
Có nhiều phương pháp đo lường năng suất khác nhau, mỗi phương pháp đều
có các ưu nhược điểm riêng. Ví dụ, nếu dựa vào các định nghĩa trên để đo lường
năng suất thì sử dụng công thức (2) sẽ thuận lợi hơn so với sử dụng công thức (1) vì
các giá trị xuất lượng và nhập lượng có thể dễ dàng thu được từ các báo cáo tài
chánh và sản xuất của doanh nghiệp.

Theo tài liệu dịch của Vũ Trọng Hùng (1995), năng suất là thước đo xuất
lượng được tạo ra từ một nhập lượng nhất định. Năng suất là thước đo mức độ kết
- 12 -
hợp tốt các lực lượng sản xuất để tạo ra các kết quả mong muốn. Ích lợi của năng
suất cao được mọi người thừa nhận là bao gồm khả năng tạo ra một số lượng lớn


Hình 2.1: Sự phụ thuộc các hình thức nuôi vào đầu tư của con người
(Tacon, 1988)
Nuôi quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến:
Nuôi quảng canh là loại hình nuôi truyền thống, phụ thuộc vào tự nhiên, diện
tích ao thường lớn từ vài ha đến vài chục ha và độ sâu mức nước thường nông từ 0.5
– 1m. Các ao đầm nuôi được lấy đầy nước khi nước triều lên mang theo thức ăn và
nguồn giống tự nhiên. Giống và thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Nếu thả thêm giống thì rất ít, khoảng 1 – 2 con/m
2
. Các ao nuôi được thu hoạch theo
phương pháp thu tỉa.
Loại hình nuôi quảng canh tích cực hơn được gọi là nuôi quảng canh cải tiến.
Chọn các ao nuôi có diện tích nhỏ, thường khoảng 1 đến vài ha, mật độ thả giống từ
1 – 5 con/m
2
, có bổ sung thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn tự tạo. Năng suất đạt từ
300 – 800 kg/ha/năm.
Nuôi bán thâm canh:
Nuôi bán thâm canh là hình thức nuôi phù hợp với điều kiện của nền kinh tế
hiện nay của nước ta, đồng thời phù hợp với trình độ và khả năng quản lý của nhiều
người nuôi tôm sú. Do vậy hình thức nuôi này ngày càng phát triển.
Hình thức này nuôi bằng giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp là chủ yếu.
Các ao nuôi bán thâm canh thường xây dựng ở vùng cao triều. Diện tích ao nuôi từ
0.5 – 1.5 ha. Hệ thống ao đìa được đầu tư nhất định để chủ động cung cấp nguồn
nước, xử lý và khống chế môi trường như hệ thống máy bơm, máy sục khí, độ sâu
mức nước từ 1,2 – 1,4 m. Mật độ giống thả 10 – 15 con/m
2
. Năng suất đạt từ 1 -5
tấn/ha/năm.

tài vì lý do: Thứ nhất: tính trên tổng số sản lượng do nghề nuôi tôm tạo ra trong toàn
tỉnh Bến Tre thì sản lượng do hoạt động nuôi thâm canh tạo ra là 74% trong tổng
sản lượng tôm của tỉnh. Thứ hai: hình thức nuôi tôm này chịu sự tác động nhiều
nhất của con người thông qua kỹ thuật, quản lý và vốn; có nghĩa là con người có thể
điều chỉnh hành vi của mình nhằm mục đích tăng năng suất.
2.2.2 Đặc điểm kỹ thuật nghề nuôi tôm sú thâm canh
Tìm hiểu đặc điểm kỹ thuật nghề nuôi tôm sú thâm canh sẽ là cơ sở cho việc
xây dựng một mô hình quản lý, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nuôi
tôm. Dưới đây là quy trình nuôi tôm sú thâm canh phổ biến nhất hiện nay.
Loại tôm được người nghiên cứu quan sát trong đề tài có tên khoa học là:
Penaeus monodon - do Fabricius (1798) đặt tên; tên thường gọi là tôm sú (tiếng
Anh là Black tiger shrimp).

- 15 -
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NUÔI TÔM
Chọn địa điểm
- Điều kiện đất
- Điều kiện nước
- Điều kiện kinh tế xã hội
Thiết kế công trình
- phù hợp với điều kiện thực tế
- phù hợp với quy trình kỹ thuật

Xây dựng công trình
- Đạt tiêu chuẩn kỹ thuật
- Vận hành hiệu quả


CHĂM SÓC TÔM NUÔI
Quản lý việc cho tôm ăn
- Cho ăn tháng đầu tiên
- Cho ăn sau tháng đầu tiên
- Phương pháp kiểm tra
việc đánh giá bắt mồi của
tôm
Quản lý môi trường ao nuôi
- Phương pháp kiểm tra đánh giá
các thông số thủy lý, thủy hóa,
thủy sinh
- Giải pháp điều chỉnh các yếu tố
thủy lý, thủy hóa, thủy sinh
Quản lý sức khỏe tôm
- Kiểm tra hoạt động tôm
- Kiểm tra các dấu hiệu
bệnh ở tôm
- Giải pháp phòng trị
bệnh

THU HOẠCH
- Thăm dò thị trường
- Kiểm tra chất lượng tôm trong ao và giải pháp cải thiện chất lượng tôm
- Thu hoạch  bảo quản  bán sản phẩm.

Hình 2.2: Sơ đồ Quy trình nuôi tôm sú thâm canh

- 16 -
2.2.2.1. Vị trí lựa chọn và xây dựng công trình nuôi
a) Vị trí lựa chọn

không nên thấp hơn các ao lân cận, xung quanh ao có hệ thống lưới ngăn cua, còng,
địch hại từ ngoài xâm nhập vào trong ao.
Ao chứa (ao lắng)
Ao lắng có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát môi trường ao nuôi và dự
trữ nước để cung cấp cho ao nuôi khi chất lượng nước trong ao nuôi không ổn định
hoặc những nơi có nguồn nước mang tính thời vụ cao. Diện tích ao chứa khoảng 25
– 30 % diện tích ao nuôi.
- 17 -
Ao xử lý nước thải
Ao xử lý nước thải dùng để xử lý nước và bùn của đáy ao trước khi đưa ra
bên ngoài. Ao này có diện tích từ 10 – 20% diện tích ao nuôi.
Dưới đây là sơ đồ bố trí ao nuôi tôm tại một trang trại hoặc nông hộ: Hình 2.3: Sơ đồ bố trí ao nuôi tôm tại một trang trại hoặc nông hộ
Các hệ thống khác (bờ, đê, cống, mương cấp và thoát nước)
Bờ ao phải đủ cao để ngăn chặn lũ lụt trong mùa mưa hoặc khi nước triều lên
cao nhất. Tốt nhất mỗi ao nên có 2 cống, cống cấp và thoát nước đặt ở 2 bờ đối
diện. Mương cấp thoát nước riêng biệt.
Các dụng cụ cần thiết cho nuôi tôm
Bao gồm máy quạt nước, máy sục khí, máy bơm nước, các dụng cụ đo môi

thường
có kích thước 13 -15mm trở lên hoặc cỡ lớn hơn 2 -3 cm. Tôm không dị hình, chủy
và bộ phụ không bị ăn mòn, có màu hơi xám hoặc nâu đen.
Mật độ thả
Ở vùng Duyên hải miền Nam Trung Bộ thường thả 20 -25 con/m
2
, cỡ 2 - 3
cm hoặc 30 - 40 con/m
2
để đạt năng suất cao.
Tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre
mật độ thả tôm sú thâm canh thường 40 – 50 con/m
2
.

2.2.2.4. Chăm sóc và quản lý:
Thức ăn
Loại thức ăn thường sử dụng là thức ăn công nghiệp có chất lượng cao, bảo
đảm hàm lượng đạm thô 30 - 40%. Thường cho ăn 4 – 6 lần/ngày tùy thuộc vào
kích cỡ của tôm. Lượng thức ăn trong ngày có thể phân chia theo tỉ lệ hoặc chia đều
cho các lần cho ăn tùy thuộc vào hoạt động ăn mồi của tôm và điều kiện thời tiết.
Quản lý môi trường ao nuôi
Quản lý môi trường ao nuôi thực chất là điều kiển các yếu tố môi trường dao
động trong khoảng giới hạn giá trị tối ưu cho vật nuôi. Các yếu tố thích hợp cho tôm
nuôi được thể hiện ở sơ đồ sau: (Sơ đồ 4)

Hình 2.4: Sơ đồ điều khiển môi trường ao nuôi tôm sú
(Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2006)

Năng suất và
dự kiến chất
lượng tôm
thu hoạch
Điều kiện tự nhiên
Tính chất địa
hình
-Nguồn nước
mặn, ngọt
-Vùng cửa sông,
bãi tri
ều

Tính chất thổ
nhưỡng
-PH, hữu cơ
trong đáy
-Thành phần cơ
học đáy…
Thời tiết khí hậu
-Thuận lợi
-Không thuận lợi
Khoảng cách tới

Thức ăn
công
nghi
ệp

Thay nước

Sục khí

Bón vôi

Bón phân
Mầm bệnh
-Từ tôm
giống
-Từ môi
trường
Xây dựng
và cải tạo
ao
Chất
lượng

mật
độ
giống
thả
Thu hoạch
-Giá bán
-Cỡ tôm

nghiên cứu chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu là thức ăn tươi, thức
ăn công nghiệp, vụ nuôi, con giống và công lao động. Thức ăn công nghiệp có ảnh
hưởng lớn nhất đến năng suất tôm của các hộ nuôi; thứ đến là biến thức ăn tươi, vụ
nuôi, hình thức nuôi và ảnh hưởng thấp nhất là công lao động.
Phạm Xuân Thủy (2004) đã thực hiện đề tài “Xây dựng mô hình nuôi tôm
thâm canh tại Khánh Hòa” nhằm điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả
- 21 -
kinh tế của nghề nuôi tôm sú thương phẩm ở các tỉnh Nam Trung Bộ, nhằm xác
định một số thông số kỹ thuật – kinh tế chủ yếu của ao nuôi tôm sú thâm canh. Lựa
chọn một số yếu tố cơ bản có mối quan hệ tuyến tính với năng suất nuôi tôm để xây
dựng mô hình nuôi tôm thâm canh bằng hàm thống kê toán học và nuôi tôm thực
nghiệm theo mô hình thâm canh tại Nha Trang – Khánh Hòa.
Mai Văn Xuân (2005) đã sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
không lặp theo khoảng cách tổ xác định, sử dụng phương pháp nghiên cứu có sự
tham gia của người dân, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích riêng biệt
và phương pháp toán kinh tế để đánh giá thực trạng tình hình nuôi tôm vùng đầm
phá, huyện quảng điền. Đề tài đã vận dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế các hình thức nuôi tôm ở vùng
nghiên cứu. Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
kinh tế nghề nuôi tôm của địa phương trong những năm tới.
Theo Lê Vũ Phương (2005) đã điều tra các mẫu ngẫu nhiên thông qua phỏng
vấn trực tiếp người nuôi tôm ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nhằm khảo sát điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng nuôi tôm tại duyên hải. Phân tích dữ liệu
và xác định mối tương quan giữa yếu tố xã hội đến năng suất và hiệu quả của nghề
nuôi tôm tại địa bàn từ đó đánh giá tác động yếu tố kinh tế xã hội đến năng suất và
hiệu qủa của nghề nuôi tôm sú thương phẩm.
Lê Xuân Sinh và cộng sự (2006), nghiên cứu sử dụng bộ số liệu thứ cấp mang
tính chất tổng quan, số liệu sơ cấp dựa trên bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn phỏng
vấn trực tiếp người nuôi. Bộ dữ liệu này được xử lý bằng phương pháp thống kê mô
tả, sử dụng phần mềm thống kê SPSS nhằm mô tả và phân tích tình hình hoạt động

Nhóm nhân tố về lao động và quản lý gồm:
- Kinh nghiệm của người nuôi
- Trình độ kỹ thuật
- Đặc điểm về nhân công
Nhóm nhân tố về quản lý nhà nước gồm:
- Các dự án, chương trình quy hoạch
Nhóm nhân tố về thị trường gồm:
- Thị trường đầu vào
- Thị trường đầu ra
- 23 -
2.4.2 Mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất của nghề nuôi
tôm sú
Từ những nhân tố ảnh hưởng trên, chúng ta có mô hình tổng quát sự tác động
của các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nghề nuôi tôm sú thâm canh:



- Bệnh tôm

Qu
ản lý nh
à nư
ớc

- Các dự án,
- Chương trình quy hoạch

Lao đ
ộng v
à qu
ản lý

- Kinh nghiệm của người nuôi

- Trình độ kỹ thuật
- Đặc điểm về nhân công

Th
ị tr
ư
ờng

- Thị trường đầu vào
- Thị trường đầu ra
chu kỳ sản xuất (Aiken & Waddy, Reproductive Biology, 1976 – dẫn theo Hoàng
Thu Thủy 2008). Dựa trên những chỉ tiêu đo lường năng suất trong nuôi trồng thủy
sản, nghiên cứu này sử dụng giá trị sản lượng tôm sú thương phẩm sau thu hoạch
trong một chu kỳ sản xuất để đo lường năng suất nghề nuôi tôm sú thâm canh.
- 25 -
Qua kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, người nghiên cứu nhận thấy mô
hình thiếu hẳn hai yếu tố quan trọng:
Yếu tố 1: “Quản lý cộng đồng” của mỗi vùng nuôi – là sự hợp tác của các hộ
nuôi trong vùng để sử dụng và kiểm soát các nguồn lực chung dưới sự chỉ đạo của
ban quản lý vùng nuôi (do UBND huyện thành lập).
Yếu tố 2: “Cơ cấu vốn lưu động” của mỗi đơn vị và hộ nuôi – chính là tỷ lệ
vốn của chủ nuôi tôm tự bỏ ra trên tổng vốn lưu động trong một vụ nuôi.
Hai yếu tố này theo người nghiên cứu có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
nuôi tôm sú thâm canh vì: với việc quản lý cộng đồng không hiệu quả sẽ gây ra trở
ngại trong việc sử dụng các nguồn lực chung, đặc biệt là nguồn nước. Đồng thời
làm ô nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến các đơn vị và hộ nuôi khác trong vùng.
Với vốn lưu động có cơ cấu vốn tự có cao, người dân có thể có nhiều cơ hội tiếp
cận với nguồn giống, hóa chất và dịch vụ chất lượng cao, có thể ảnh hưởng đến
năng suất nuôi.
Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm sú nuôi thâm canh được tác giả
nghiên cứu tách rời theo từng nhóm.
Nhóm nhân tố chủ yếu được nghiên cứu vẫn là nhóm nhân tố về đặc điểm
kỹ thuật và quản lý cộng đồng. Từ thực tế điều tra, khảo sát tại địa bàn nghiên cứu,
tác giả tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng suất tôm sú nuôi thâm
canh bao gồm: trình độ kỹ thuật của người nuôi, chất lượng tôm giống, mật độ nuôi,
thức ăn, môi trường, bệnh tôm sú, vốn lưu động, nhân tố quản lý như ý thức quản lý
cộng đồng và giả định các yếu tố khác có thể tác động đến mô hình là không đổi.
Mô hình được đề xuất sau khi thực hiện nghiên cứu sơ bộ tại địa bàn nghiên cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status