CÁC NHÂN tố ẢNH HƯỞNG đến NĂNG SUẤT NUÔI tôm THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH tại HUYỆN BÌNH đại, TỈNH bến TRE - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG


TRẦN NHỰT CẦU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT
NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG THÂM CANH
TẠI HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60.34.05 Người hướng dẫn khoa học:
TS. NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Nha Trang, tháng 04 năm 2012
i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.


iii
TÓM TẮT
Nghiên cứu thực hiện đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm
he chân trắng tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu áp dụng phương
pháp định tính và định lượng dựa trên mẫu khảo sát từ 250 hộ nuôi tôm he chân
trắng. Nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố tác động đến năng suất tôm he chân trắng
tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre là: trình độ, hệ số thức ăn, lượng đạm, độ ph, ý
thức cộng đồng, độ mặn. Dựa trên kết quả này, nghiên cứu đề xuất người nuôi
cần quan tâm nhiều đến nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất là độ ph cũng
như clần quan tâm đến các yếu tố tiềm ẩn khác để đưa ra được những giải pháp
phù hợp .
Từ khóa: tôm he chân trắng, năng suất
ABSTRACT
Performance measurement study of factors affecting productivity of
P.vannamei in Binh Dai district, Ben Tre province. Applied research methods
based on qualitative and quantitative survey sample of 250 P.vannamei farmers.
Research shows that six factors affecting yield P.vanamei in Binh Dai district,
Ben Tre province are: degree, feed conversion ratio, protein, pH, capital, sense of
community, salinity. Based on the results of this study suggest farmers need to
pay much attention to the biggest factors affecting yield is pH as well as the need
to consider other potential factors to come up with appropriate solutions.
Keywords: P.vannamei shrimp, productivity.


PHỤ LỤC 75

v
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 : Định hướng chiến lược phát triển nuôi tôm he chân trắng tỉnh Bến
Tre đến năm 2020 2
Bảng 2: Qui trình nuôi tôm thâm canh 15
Bảng 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi thâm canh 21
Bảng 4: Sản lượng tôm nuôi trên thế giới giai đoạn 2001 – 2005 27
Bảng 5: Sản lượng NTTS 10 quốc gia đứng đầu thế giới năm 2005 29
Bảng 6: Sản lượng tôm nuôi của Việt Nam theo khu vực từ năm 2006 - 2010 30
Bảng 7: Tình hình nuôi tôm he chân trắng huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre
năm 2011 38
Bảng 8: Ma trận tương quan 44
Bảng 9: Đánh giá độ phù hợp của mô hình 50
Bảng 10: Hệ số hồi qui 50
Bảng 11: Đánh giá độ phù hợp của mô hình sau khi loại biến có dấu hiệu đa
cộng tuyến 53
Bảng 12: Hệ số hồi qui sau khi loại biến có hiện tượng đa cộng tuyến 53
Bảng 13: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết 54
Bảng 14 : Một số tình huống mà người nuôi cần giám sát chặt chẽ việc cho ăn 61

vi
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Hình 1: Sự phụ thuộc các hình thức nuôi vào đầu tư của con người 13
Hình 2: Sơ đồ bố trí ao nuôi tôm tại một trang trại hoặc nông hộ 17
Hình 3: Sơ đồ điều khiển môi trường ao nuôi tôm 19
Hình 4: Mô hình lý thuyết tổng quát sự ảnh hưởng của các nhân tố đến năng suất

mạnh tại huyện Bình Đại và cả tỉnh Bến Tre.
Nghề nuôi sú phát triển tại 3 huyện biển đã làm thay đổi lớn bộ mặt nông
thôn vùng ven biển, đời sống vật chất của người dân tăng lên rõ rệt, nhà cửa
khang trang đổi mới. bên cạnh đó còn kéo theo các ngành nghề khác phát triển
như dịch vụ, vận chuyển hàng hóa….da góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho hơn 30.000 lao động nông thôn ven biển nghèo khó khăn trước đây.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, bên cạnh những thuận lợi do nghề
nuôi tôm sú thâm canh đem lại thì nghề nuôi tôm sú thâm canh không còn là
nghề siêu lợi nhuận nữa bởi vì nghề nuôi tôm sú thâm canh đã và đang nảy sinh
nhiều vấn đề như môi trường nuôi ngày càng ô nhiểm, dịch bệnh thường xảy ra
và kéo dài, tôm nuôi chậm lớn, giá cả bấp bên…Trước vấn đề đó Tỉnh ủy Bến
2
Tre chỉ đạo các Sở, Ban, Ngành cần phải có những giải pháp quản lí tốt hơn về
nuôi tôm sú thâm canh, đồng thời cần phải xác định đối tượng nuôi mới để thay
thế cho tôm sú bước đầu nuôi tôm he chân trắng.
Năm 2008, Công ty Lâm Thủy sản Bến Tre đã xin với Ủy Ban Nhân Dân
Tỉnh Bến Tre được nuôi thí điểm thẻ chân trắng thâm canh tại xã Bảo Thuận –
Ba Tri – Bến Tre và đã cho kết quả khả quan. Nhằm phát triển nuôi tôm chân
trắng trên địa bàn tỉnh theo hướng ổn định và bền vững, góp phần thực hiện tốt
chiến lược phát triển kinh tế trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, Ủy ban nhân dân
tỉnh Bến Tre đã ban hành quyết định số 1196/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy
hoạch chi tiết nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Bến Tre đến năm 2020. Cụ
thể, năm 2010 toàn tỉnh Bến Tre phát triển phát triển 1.000 ha, sản lượng 8.800
tấn; năm 2015 phát triển 3.080ha, sản lượng 32.880 tấn; đến năm 2020 là 5.450
ha, sản lượng dự kiến 63.500 tấn tôm thẻ chân trắng, giá trị sản lượng ước đạt
3.965 tỷ đồng. Trong đó, huyện Bình Đại là trọng điểm của vùng nuôi, chiếm
trên 50% diện tích nuôi từ năm 2010 đến 2020.
Bảng 1 : Định hướng chiến lược phát triển nuôi tôm he chân trắng tỉnh Bến
Tre đến năm 2020
2010 2015 2020 Năm


Từ việc đánh giá việc nuôi tôm he chân trắng có thể nuôi và cho hiệu quả
không kém hơn nuôi tôm sú và đặc biệt một số vùng nuôi tôm sú không hiệu quả
nữa thì có thể nuôi tôm he chân trắng. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi do
việc nuôi tôm he chân trắng thâm canh đem lại, sự phát triển nhanh chóng nuôi
3
tôm he chân trắng thâm canh của người dân trong tỉnh nói chung và huyện Bình
Đại nói riêng đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến năng suất nuôi tôm
he chân trắng như:
- Từ vấn đề ô nhhiểm môi trường nuôi đã kéo theo dịch bệnh do một số
xã và vùng nuôi chưa thật sự quan tâm đến việc quản lý vùng nuôi, chưa kiên
quyết trong công tác kiểm tra xử lý vi phạm nên việc xả thải mầm bệnh và bơm
bùn đáy ao ra môi trường tự nhiên còn tồn tại khá phổ biến, từ đó mầm bệnh
ngoài môi trường tự nhiên luôn tồn tại ở mức cao và dịch bệnh xảy ra hàng năm.
- Ý thức quản lý cộng đồng của một số người dân chưa cao, một số hộ
nuôi thả giống không đúng mùa vụ, nuôi ngoài vùng quy hoạch, khi tôm chết
không báo cho cơ quan chức năng đến hủy mà xả thải mầm bệnh chưa xử lý ra
môi trường tự nhiên làm lây lan cho các ao nuôi thả giống đúng chính vụ.
- Hệ thống công trình nuôi của đa số các cở sở, hộ nuôi chưa đảm bảo
được điều kiện an toàn vệ sinh thú y thủy sản như chưa có ao xử lý nước thải, ao
chứa bùn,…gây khó khăn trong công tác kiểm soát môi trường, dịch bệnh.
- Về chất lượng giống, mặc dù công tác quản lý giống trên địa bàn tỉnh
khá tốt nhưng do thả giống vào thời điểm tập trung nên thiếu giống chất lượng tốt
để người dân mua thả. Ngoài ra trong thời gian cấm thả một số bà con thả chui
nên chất lượng con giống không đảm bảo.
- Giá thành sản phẩm ngày càng tăng qua các năm do giá thức ăn, thuốc,
hóa chất , công lao động ngày càng tăng. Giá cả tôm nguyên liệu không ổn định
còn phụ thuộc nhiều vào đầu nậu, thương buôn và nhà máy chế biến. Cho nên lợi
nhuận trong 1kg tôm ngày càng thấp đi cùng với rủi ro do thiên tai dịch bệnh làm
cho nghề nuôi tôm he chân trắng của tỉnh Bên Tre nói riêng và nuôi thủy sản của

3. Các câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố ảnh nào hưởng đến năng suất nghề nuôi tôm he chân trắng
thâm canh tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre?
- Cơ sở nào để đề xuất giải pháp nâng cao năng suất nuôi tôm he chân
trắng thâm canh tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre?
5
4. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng suất tôm he chân trắng thâm canh của các
cơ sở (Trang trại, Khu nuôi Thủy sản công nghiệp) hay hộ dân nuôi tôm he chân
trắng thâm canh.
- Phạm vi nghiên cứu: Người nghiên cứu chọn huyện Bình Đại, tỉnh Bến
Tre là địa bàn nghiên cứu vấn đề này, vì huyện Bình Đại có số diện tích và số hộ
nuôi tôm he chân trắng thâm canh khá lớn trong toàn tỉnh (hơn 50%), có thể là
vùng đại diện cho hoạt động nuôi tôm thâm canh trong toàn tỉnh.
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành vào tháng 07 năm 2011.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu sẽ được tiến hành theo 3 bước như sau:
Bước 1: Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính dùng phương pháp thảo luận nhóm để khám phá,
điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu.
Những thành viên tham gia thảo luận dự kiến gồm các chuyên gia trong lĩnh vực
nuôi tôm he chân trắng thâm canh (Cán bộ kỹ thuật của các trại nuôi, Kỹ sư của
các Phòng khuyến nông khuyến ngư phụ trách chuyên thủy sản,….) và các hộ
trực tiếp tham gia nuôi tôm he chân trắng thâm canh để nắm sơ bộ về quy trình
nuôi cũng như tình hình nuôi tôm he chân trắng thâm canh hiện nay tại huyện
Bình Đại. Trên cơ sở những thông tin có được sau khi thảo luận, từ đó xem xét,
điều chỉnh lại bảng câu hỏi cho phù hợp với mô hình nghiên cứu đề nghị.
Bước 2: Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua số liệu thu thập được từ
bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đã được xác lập từ bước 1. Nghiên cứu định

Thừa Thiên Huế. Trên cơ sở đó, phân tích ảnh hưởng cận biên của các yếu tố đầu
vào ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi và xác định hiệu quả kinh tế của từng yếu
tố đầu tư theo hình thức nuôi cụ thể. Đề tài xác định được năng suất nuôi tôm tại
vùng nghiên cứu chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu là thức ăn
tươi, thức ăn công nghiệp,vụ nuôi, con giống và công lao động. Thức ăn công
nghiệp ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất tôm nuôi của các hộ nuôi, thứ đến là
biến thức ăn tươi, vụ nuôi, hình thức nuôi và ảnh hưởng thấp nhất là công lao động.
Phạm Xuân Thủy (2004) với đề tài ”Xây dựng mô hình nuôi tôm thâm
canh tại Khánh Hòa” nhằm điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả
7
kinh tế của nghề nuôi tôm sú ở các tỉnh Nam Trung Bộ, nhằm xác định một số
thông số kỹ thuật – kinh tế chủ yếu của nuôi tôm sú thâm canh. Lựa chọn một số
yếu tố cơ bản có mối quan hệ tuyến tính với năng suất nuôi tôm để xây dựng mô
hình nuôi tôm thâm canh bằng hàm thống kê toán học và nuôi tôm thực nghiệm
theo mô hình thâm canh tại Nha Trang – Khánh Hòa.
Mai Văn Xuân (2005) với đề tài ‘’Hiệu quả kinh tế nuôi tôm ở vùng đầm
phá huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế’’ đã sử dụng phương pháp điều tra chọn
mẫu ngẫu nhiên không lặp theo khoảng cách tổ xác định, sử dụng phương pháp
nhiên cứu có sự tham gia của người dân, phương pháp chuyên gia, phương pháp
phân tích riêng biệt và phương pháp toán kinh tế để đánh giá thực trạng tình hình
nuôi tôm vùng đầm phá, huyện Quảng Điền. Đề tài đã vận dụng hàm sản xuất
Cobb – Douglas để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế các
hình thức nuôi tôm vùng nghiên cứu. Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nghề nuôi tôm của địa phương trong những
năm tới
Lê Vũ Phương (2005) đã điều tra mẫu ngẫu nhiên thông qua phỏng vấn
trực tiếp người nuôi tôm ở huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh nhằm khảo sát điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hiện trạng nuôi tôm tại Duyên Hải. Phân tích dữ
liệu và xác định mối tương quan giữa yếu tố xã hội đến năng suất và hiệu quả của
nghề nuôi tôm tại địa bàn từ đó đánh giá tác động yếu tố kinh tế xã hội đến năng

hay tác động của thời tiết là rất quan trọng và ảnh hưởng mạnh tới sản lượng
cũng như giá sản phẩm làm ra trong lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp. Nếu sản
phẩm được sản xuất ra đều đặn hơn thì có thể cải thiện được mức độ tiền lời bằng
việc giảm chi phí của người sản xuất, thông qua việc giảm tính thời vụ của việc
cung cấp sản phẩm, đồng thời cũng giúp giảm giá bán sản phẩm trên thị trường.
Nếu vận dụng tốt điều này trong nghề sản xuất và kinh doanh tôm giống cũng có
nghĩa là giúp làm hài hòa lợi ích của người sản xuất tôm giống và lợi ích của
người nuôi tôm thịt.
Nghiên cứu của Shang và cộng tác viên (1998) về mối quan hệ giữa quy
mô trại sản xuất với hiệu quả kinh tế thu được, tác giả phân nhóm các trại tôm
giống ở Châu Á thành ba nhóm là nhỏ, trung bình và lớn. Các trại lớn thường có
trang thiết bị và kỹ thuật tốt hơn, sản xuất ra tôm giống có chất lượng tốt hơn,
9
nhưng hiệu quả kinh tế không cao và nếu dịch bệnh xảy ra thì rất chậm phục hồi.
Các trại nhỏ thường có chất lượng tôm giống không bằng các trại lớn và thường
gặp trục trặc trong vấn đề dịch bệnh, nhưng phục hồi rất nhanh và có hiệu quả
kinh tế cao hơn, đồng thời cũng dễ dàng trong việc xây cất. Qua đó các tác giả
kết luận, ở Châu Á sự phát triển của các trại quy mô nhỏ và trung bình thường
chiếm ưu thế hơn so với các trại lớn.
7. Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận:
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến năng suất tôm
he chân trắng và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm he chân trắng, đặc
biệt là tôm he chân trắng thâm canh.
- Về mặt thực tiễn:
+ Đề tài đã chỉ ra được bức tranh tổng quát về thực trạng nghề nuôi tôm
he chân trắng tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
đến năng suất tôm he chân trắng huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng suất cho nghề nuôi thẻ chân

Roma năm 1959 đưa ra định nghĩa có tính thuyết phục như sau: “Tổng quát mà
nói, năng suất là một trạng thái tư duy. Nó là một thái độ nhằm tìm kiếm để cải
thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng ngày hôm nay con người
có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn
nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng nghỉ để thích ứng với các hoạt động
kinh tế trong điều kiện luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương
pháp mới. Đó là một sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình tiên tiến của loài
người”
Ngoài ra còn có một số định nghĩa về năng suất khác như:
Năng suất là nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng các nguồn lực (tức là
làm thế nào để gia tăng số lượng và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ được sản
xuất và giao đến nơi khách hàng yêu cầu với giá thành thấp nhất).
Năng suất là sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng và cổ đông (tức là tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua
việc thỏa mãn ở mức cao nhất sự hài lòng của khách hàng với giá thành thấp nhất
ở mức có thể).
Các định nghĩa trên được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác
nhau với mục đích định hướng vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy
nhiên các định nghĩa trên chỉ bàn về định tính, không đi sâu vào vấn đề định
lượng của năng suất nên có phần trừu tượng và không thể sử dụng để so sánh
năng suất giữa các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau, hay các doanh nghiệp
trong cùng ngành nhưng có qui mô sản xuất, vốn, trình độ công nghệ, quản lý …
khác nhau.
12
Các định nghĩa về định lượng của năng suất như:
- Trong một đơn vị thời gian
Tổng lợi ích mang lại cho khách hàng
Năng suất

=

Năng suất sinh học thứ cấp: được tính bằng khối lượng vật chất tươi hoặc
khô, trên một đơn vị diện tích hoặc thể tích tầng nước, hay diện tích nền đáy
trong một đơn vị thời gian.
Năng suất sinh học thứ cấp phụ thuộc vào thành phần, sinh trưởng và phát
triển của động vật trong vực nước. Điều này phụ thuộc vào hàng loạt những nhân
13
tố sinh thái học: cơ sở thức ăn, nhiệt độ … (Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Trọng
Nho, 1983).
1.2. Tổng quan hình thức và quy trình nuôi tôm
1.2.1. Những hình thức nuôi tôm thương phẩm hiện có tại Việt Nam
Hiện nay có 3 hình thức nuôi phổ biến là: nuôi quản canh truyền thống và
quảng canh cải tiến, nuôi bán thâm canh và thâm canh. Việc lựa chọn hình thức
nuôi tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, năng lực đầu tư, trình độ
quản lý của người nuôi ở từng địa phương. Có thể biểu diễn sự phụ thuộc các
hình thức nuôi và đầu tư của con người theo sơ đồ sau:
Hình 1: Sự phụ thuộc các hình thức nuôi vào đầu tư của con người
(Tacon, 1988)
 Nuôi quảng canh truyền thống và quảng canh cải tiến:
Nuôi quảng canh là loại hình nuôi truyền thống, phụ thuộc vào tự nhiên,
diện tích ao thường lớn từ vào ha đến vài chục ha và độ sâu mức nước thường
nông từ 0.5-1m. Các ao đầm nuôi được lấy đầy nước khi nước triều lên mang
theo thức ăn và nguồn giống tự nhiên. Giống và thức ăn hoàn toàn phụ thuộc vào
điều kiện tự nhiên. Nếu thả thêm giống thì rất ít, khoảng 1 - 2con/m
2

nguồn nước, xử lý và khống chế môi trường như hệ thống máy bơm, máy sục
khí, độ sâu mức nước từ 1.2-1.4m. Mật độ giống thả 10-15 con/m
2
. Năng suất đạt
từ 1-5 tấn/ha/năm.
 Nuôi thâm canh:
Nuôi thâm canh là hình thức có đầu tư lớn về cơ sở hạ tầng và kỹ thuật,
đồng thời đòi hỏi người sản xuất phải có trình độ kỹ thuật tương đối cao và có
nhiều kinh nghiệm thực tiễn về nuôi tôm thương phẩm. Có thể nuôi thâm canh là
hình thức con người hoàn toàn kiểm soát các yếu tố môi trường, thức ăn, sinh
trưởng … phù hợp với từng giai đoạn phát triển của tôm trong suốt chu kỳ nuôi.
Diện tích ao nuôi thường khoảng 0.5 ha, mật độ thả giống khoảng > 30 con/m
2
,
có đủ thiết bị điều khiển môi trường ao nuôi, năng suất thu hoạch > 8 tấn/ha/vụ.
Trong ba hình thức nuôi kể trên, nuôi thâm canh thu được lợi nhuận cao,
kích cỡ tôm thương phẩm thu được đồng đều. Người nuôi có thể chủ động trong
tất cả các thao tác nên nếu người nuôi đủ vốn thì đầu tư hình thức nuôi thâm canh
là lựa chọn hiệu quả cao.
Hiện nay hoạt động nuôi tôm tại huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre nói riêng
và cả nước nói chung có ba hình thức: thâm canh, quảng canh và bán thâm canh.
Người nghiên cứu chọn hình thức nuôi thâm canh là đối tượng nghiên cứu của đề
tài vì lý do:
- Thứ nhất: tính trên tổng số sản lượng do nghề nuôi tôm tạo ra trong
toàn tỉnh Bến Tre thì sản lượng do hoạt động nuôi thâm canh tạo ra là 74% trong
tổng sản lượng tôm của tỉnh.
15
- Thứ hai: hình thức nuôi tôm này chịu sự tác động nhiều nhất của con
người thông qua kỹ thuật, quản lý và vốn; có nghĩa là con người có thể điều
chỉnh hành vi của mình nhằm mục đích tăng năng suất.

- Lấy nước
- Xử lý nước
- Gây màu nước


CHỌN VÀ THẢ GIỐNG
Chọn giống
- Chọn cảm quan
- Kiểm tra bằng gây sốc
- Kiểm tra bằng pp PCR
Vận chuyển giống
- Kiểm tra số lượng
- Đóng gói
- Vận chuyển
Thả giống
- Thuần hóa nhiệt độ
- Thuần hóa độ mặn
- Xác định mật độ thả

CHĂM SÓC TÔM NUÔI
Quản lý việc cho tôm ăn Quản lý môi trường ao nuôi Quản lý sức khỏe tôm
16
- Cho ăn tháng đầu tiên
- Cho ăn sau tháng đầu tiên
- Phương pháp kiểm tra việc
đánh giá bắt mồi của tôm
- Phương pháp kiểm tra đánh
giá các thông số thủy lý, thủy
hóa, thủy sinh
- Giải pháp điều chỉnh các

dịch vụ cho nghề nuôi tôm, an ninh trật tự tốt và trình độ học vấn đảm bảo nguồn
nhân lực cho phát triển nuôi tôm …
17
b) Xây dựng công trình nuôi
Công trình nuôi thiết kế đúng sẽ giúp ích nhiều cho việc quản lý chất
lượng nước, cho ăn, thu hoạch, thu gom và tẩy dọn chất thải.
- Ao nuôi
Có diện tích từ 3000 – 5000m
2
. Hình dạng ao thường là hình vuông, nếu
là hình chữ nhật thì tỉ lệ chiều dài/ chiều rộng không quá lớn, ao càng ít góc cạnh
càng tốt. Đáy ao bằng phẳng, đầm nén chặt, độ dốc nghiêng có cống tháo. Cao
trình đáy không nên thấp hơn các ao lân cận, xung quanh ao có hệ thống lưới
ngăn cua, còng, địch hại từ ngoài xâm nhập vào trong ao.
+ Ao chứa (ao lắng)
Ao lắng có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát môi trường ao nuôi và
dự trữ nước để cung cấp cho ao nuôi khi chất lượng nước trong ao nuôi không ổn
định hoặc những nơi có nguồn nước mang tính thời vụ cao. Diện tích ao chứa
khoảng 25-30% diện tích ao nuôi.
+ Ao xử lý nước thải
Ao xử lý nước thải dùng để xử lý nước và bùn của đáy ao trước khi đưa ra
bên ngoài. Ao này có diện tích từ 10-20% diện tích ao nuôi.
Dưới đây là sơ đồ bố trí ao nuôi tôm tại một trang trại hoặc nông hộ:


Chuẩn bị ao nuôi là khâu quan trọng trong kỹ thuật nuôi tôm he chân trắng
thương phẩm, nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng của vụ nuôi. Mục
đích chính của việc chuẩn bị ao là tạo cho nền đáy sạch và chất lượng nước ban
đầu tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều chỉnh môi trường nước ao trong
suốt vụ nuôi.
Chuẩn bị ao bao gồm các bước sau: cải tạo ao, diệt tạp, bón phân gây màu nước.
1.2.2.3. Thả giống
Tiêu chuẩn chọn tôm giống
Tôm đều cỡ, râu và bộ phụ đầy đủ, không có chất bẩn bám. Tôm P
13

thường có kích thước 12-13mm trở lên hoặc cỡ lớn hơn 2-3 cm. Tôm không dị
hình, chủy và bộ phụ không bị ăn mòn, có màu đẹp và đồng đều.
Mật độ thả
Ở vùng Duyên hải miền Nam Trung Bộ thường thả 100-200 con/m
2
, cỡ 2-
3 cm hoặc 800-100 con/m
2
để đạt năng suất cao.
Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Bến Tre
mật độ thả tôm thâm canh thường 60-100 con/m
2
.
1.2.2.4. Chăm sóc và quản lý
- Thức ăn
Loại thức ăn thường sử dụng là thức ăn công nghiệp có chất lượng cao,
bảo đảm hàm lượng đạm thô 30-40%. Thường cho ăn 3-5 lần/ngày tùy thuộc vào

Trích đoạn Tình hình nuôi tôm he chân trắng thương phẩm huyện Bình Đại, tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status