BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ĐỖ THỊ HƯƠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NĂNG SUẤT TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI
TẠI TỈNH KHÁNH HÒA
ĐỖ THỊ HƯƠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NĂNG SUẤT TÔM THẺ CHÂN TRẮNG NUÔI
TẠI TỈNH KHÁNH HÒA Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số : 60340102
ii
LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm thẻ chân trắng
nuôi tại tỉnh Khánh Hòa” đã hoàn thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến TS. Nguyễn Văn Ngọc, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện.
Xin cảm ơn tất cả thầy giáo, cô giáo đã truyền đạt nhiều kiến thức quí giá cho
tôi trong suốt khoá học để tôi có được nền tảng lý luận cơ bản khi nghiên cứu đề tài.
Để có được kết quả này, tôi xin cảm ơn bà con, các cơ sở nuôi tôm và chính
quyền địa phương tỉnh Khánh Hòa đã giúp đỡ, xây dựng và đóng góp ý kiến rất nhiều
trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Cuối cùng tôi muốn chia sẻ đến gia đình, bạn bè là những người đã luôn động
viên, ủng hộ và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
này.
Xin trân trọng cảm ơn!
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
2.2.1.4. Khí hậu – thủy văn, thủy triều 42
iv
2.2.1.5. Tài nguyên thiên nhiên 43
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 45
2.2.2.1. Cơ sở hạ tầng 45
2.2.2.2. Tình hình sản xuất và cung cấp giống thuỷ sản 46
2.2.2.3. Dân số và cơ cấu lao động 47
2.2.2.4. Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội 48
2.3. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm tỉnh Khánh Hòa 49
2.3.1 Giới thiệu về tôm thẻ chân trắng 49
2.3.2 Thực trạng nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa 50
2.4. Hiện trạng kỹ thuật nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm 51
2.4.1. Hệ thống công trình ao nuôi 51
2.4.2. Cải tạo ao nuôi 52
2.4.3. Khử trùng và diệt tạp 53
2.4.4. Gây màu nước 53
2.5. Chọn giống và thả giống 53
2.5.1 Nguồn tôm giống 54
2.5.2 Kích cỡ tôm giống và mật độ nuôi 54
2.5.3 Mật độ nuôi 54
2.5.4 Thức ăn và phương pháp cho ăn 54
2.5.4.1 Thức ăn 54
2.5.4.2 Phương pháp cho ăn 54
2.5.4.3 Hệ số thức ăn 55
2.6 Quản lý các yếu tố môi trường 55
2.6.1 Quản lý tảo 56
2.6.2 Quản lý pH 56
2.6.3 Quản lý độ mặn 56
4.2.2.1. Giải pháp về qui hoạch trong NTTS và nuôi tôm thẻ chân trắng thâm
canh của tỉnh Khánh Hòa: 85
4.2.2.2. Giải pháp về vốn đầu tư 86
4.2.2.3. Giải pháp về con giống 87
4.2.2.4. Giải pháp về phòng trị bệnh và hạn chế dư lượng kháng sinh 87
4.2.2.5. Giải pháp về ý thức cộng đồng 88
4.2.2.6. Giải pháp về Vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật 89
4.2.2.7. Các giải pháp khuyến ngư 90
4.2.2.8. Giải pháp về mối liên kết giữa trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng thâm
canh với các tổ chức khác 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Btom : Bệnh tôm
Clgtom : Chất lượng tôm giống
Dotrong : Độ trong ao nuôi
Doman : Độ mặn ao nuôi
Hsta : Hệ số thức ăn
Hldtta : Hàm lượng đạm thô trong thức ăn
Ld : Lao động
Bảng 3.4: Kỹ thuật nuôi tôm của chủ hộ nuôi 61
Bảng 3.5: Phân bố mẫu theo trình độ học vấn 61
Bảng 3.6: Phân bố mẫu theo diện tích nuôi tôm 62
Bảng 3.7: Tên biến và dấu kỳ vọng của các hệ số hồi qui mô hình của nghiên cứu sau khi điều
chỉnh 64
Bảng 3.8: Ma trận tương quan 66
Bảng 3.9: Thủ tục chọn biến trong phân tích hồi qui OLS 67
Bảng 3.10: Mô hình tổng quát trong phân tích hồi qui 68
Bảng 3.11: Phân tích ANOVA của mô hình 69
Bảng 3.12: Ma trận tương quan hạng 72
Bảng 3.13: Các hệ số 75
Bảng 3.14: Các biến bị loại sau khi phân tích. 76
Bảng 4.1: Các chỉ tiêu chính của nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2010 – 2015 82
Bảng 4.2: Phương án quy hoạch diện tích (ha) giai đoạn 2015 83
Bảng 4.3: Quy hoạch diện tích nuôi tôm của các địa phương trong tỉnh KH 84
viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sự phụ thuộc các hình thức nuôi vào đầu tư của con người 19
Hình 1.2: Sơ đồ bố trí ao nuôi tôm tại một trang trại hoặc nông hộ. 24
Hình 1.3: Sơ đồ điều khiển môi trường ao nuôi tôm 26
Hình 1.4: Mô hình lý thuyết tổng quát sự ảnh hưởng của các nhân tố đến năng
suất tôm nuôi thâm canh 29
Hình 1.5: Mô hình nghiên cứu đề nghị 30
Hình 1.6: Quy trình nghiên cứu 35
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hòa (Tỷ lệ 1 : 50.000) 40
Hình 2.2: Tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Khánh Hòa 49
Hình 2.3: Đáy và bờ ao nuôi 51
1.052.600 ha, sản lượng 2.465.600 tấn; và năm 2012 có 30 tỉnh thành nuôi tôm nước
lợ, đã thả nuôi 657.523 ha, đạt sản lượng 476.424 tấn, tăng 0,2% diện tích và giảm
3,9% sản lượng. Trong đó diện tích nuôi tôm sú 619.355 ha, sản lượng 298.607 tấn,
giảm 7,1% diện tích và 6,5% sản lượng; tôm chân trắng 38.169 ha, tăng 15,5%, sản
lượng 177.817 tấn, tăng 3,2% so với năm 2011. Diện tích tôm sú chiếm 94,1% diện
tích nuôi tôm và 62,7% sản lượng, tôm chân trắng chiếm 5,9% diện tích và 27,3% sản
lượng. Khu vực ĐBSCL chiếm diện tích và sản lượng lớn nhất với 595.723 ha và
358.477 tấn, trong đó tôm sú là 579.997 ha và 280.647 tấn, tôm chân trắng 15.727 ha
và 77.830 tấn trong đó diện tích nuôi mặn lợ là 713.800 ha, riêng nuôi tôm 629.300 ha.
Trong những năm gần đây, tôm luôn là đối tượng nuôi chủ lực của Việt Nam do mang
lại giá trị xuất khẩu cao. Tuy Việt Nam gia nhập nhóm các cường quốc “tôm” chậm
hơn một số nước khác nhưng đã thâm nhập mạnh vào thị trường thế giới và hiện đứng
thứ 3 về sản lượng nuôi tôm.
2
Tôm thẻ chân trắng là loại tôm được nuôi phổ biến nhất ở Tây Bán cầu, chiếm
hơn 70% các loài tôm thẻ ở Nam Mỹ. Sản lượng tôm thẻ chân trắng chỉ đứng sau sản
lượng tôm sú nuôi trên thế giới. Các quốc gia châu Mỹ như Ecuado, Mehico,
Panama… là những nước có nghề nuôi tôm thẻ chân trắng đầu tiên trên thế giới, họ bắt
đầu nuôi tôm thẻ chân trắng từ đầu thập niên 90, trong đó quốc gia đứng đầu về sản
lượng là Ecuado (riêng năm 1998 đạt 131.000 tấn; tổng sản lượng tôm thẻ chân trắng
châu Mỹ vào khoảng 200.000 tấn đạt giá trị 1,2 tỷ USD vào năm 2002).
Các nước châu Á, tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi thử nghiệm từ những
năm 1980, tuy nhiên chỉ từ năm 1996 loài tôm này mới được đưa vào nuôi thương mại
tại Trung Quốc và Đài Loan, sau đó là một số quốc gia ven biển châu Á khác trong đó
có Việt Nam. Trong năm 2002, Trung Quốc đã có ngành công nghiệp nuôi tôm thẻ
chân trắng với sản lượng khoảng 270.000 tấn. Một số quốc gia châu Á khác hiện đang
phát triển ngành công nghiệp nuôi tôm này như Thái Lan (120.000 tấn năm 2003),
Việt Nam, Philippines, Indonesia…
Tôm thẻ chân trắng P.
biết về cách sử dụng thuốc thú y, hoá chất, chế phẩm sinh học không những gây mất
vệ sinh thực phẩm tôm nuôi do nhiễm kháng sinh cấm, làm tăng sự đầu tư không đáng
có vào quá trình nuôi mà còn gây mất ổn định và làm suy thoái môi trường nuôi.
- Sự thiếu liên kết và bảo vệ hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng người nuôi cũng
làm người nuôi khó có thể đối phó với những khó khăn trong quá trình nuôi. Một số hộ
nuôi thả tôm thẻ không đúng lịch thời vụ, khi tôm nuôi bị bệnh chết lại xả mầm bệnh
chưa qua xử lý ra môi trường tự nhiên làm lây lan các ao nuôi thả giống ở vụ chính.
- Về chất lượng giống, mặc dù công tác quản lý giống trên địa bàn tỉnh khá tốt
nhưng do thả giống vào thời điểm tập trung nên thiếu con giống có chất lượng tốt để
người dân mua thả nuôi. Việc quản lý đàn tôm bố mẹ chưa được kiểm soát chặt chẽ
nên chất lượng con giống được sản xuất ra không cao.
- Giá thành sản phẩm ngày càng tăng qua các năm do giá thức ăn, thuốc hoá
chất, công lao động ngày càng tăng. Giá bán nguyên liệu có xu hướng ngày càng giảm
nên mức lợi nhuận trên 1kg tôm thẻ sản xuất ra ngày càng thấp đi, cùng với nhiều mối
nguy đó là: môi trường nuôi ngày càng ô nhiễm và suy thoái; rủi ro do dịch bệnh liên
tục xảy ra và phát triển trên diện rộng làm nghề nuôi tôm thẻ của tỉnh Khánh Hoà và
của cả nước gặp nhiều khó khăn hơn.
- Chất lượng và kích cỡ tôm thương phẩm: Do diện tích nuôi tôm thẻ ngày càng
phát triển một cách tự phát cùng với việc quản lý môi trường ao nuôi chưa đồng bộ và
chặt chẽ nên chất lượng sản phẩm sản xuất ra có giá trị chưa cao, không đáp ứng tốt
4
các yêu cầu của nhà nhập khẩu như: chưa đảm bảo về chất lượng và vệ sinh an toàn
thực phẩm, tôm có kích cỡ không đồng đều, màu sắc vỏ nhợt nhạt, tôm nuôi bị nhiễm
kháng sinh cấm
- Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) tạo sức cạnh tranh lớn
trong thị trường xuất khẩu tôm thẻ ngày càng khó khăn hơn trong điều kiện khắt khe,
các rào cản kỹ thuật về hệ thống quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, các
yếu tố đầu vào của quá trình nuôi làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của nghề nuôi
tôm thẻ.
Trước những vấn đề trên, việc tìm ra các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng
hết tháng 7 năm 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với những mục tiêu đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu thu thập trên cơ sở
bảng câu hỏi điều tra của các hộ nuôi tôm thẻ thâm canh. Quy trình nghiên cứu được
thực hiện theo các bước như sau:
5.1. Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính dùng phương pháp thảo luận nhóm để khám phá, điều
chỉnh và bổ sung các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu. Những thành
viên tham gia thảo luận dự kiến gồm các chuyên gia trong lĩnh vực nuôi tôm thẻ chân
trắng thâm canh (Cán bộ kỹ thuật của các trại nuôi, Kỹ sư của các Phòng khuyến nông
khuyến ngư phụ trách chuyên thuỷ sản,….) và các hộ trực tiếp tham gia nuôi tôm thẻ
chân trắng thâm canh để nắm sơ bộ về quy trình nuôi cũng như tình hình nuôi tôm thẻ
chân trắng thâm canh hiện nay tại tỉnh Khánh Hoà. Trên cơ sở những thông tin có
được sau khi thảo luận, từ đó xem xét, điều chỉnh lại bảng câu hỏi cho phù hợp với mô
hình nghiên cứu đề nghị.
5.2. Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua số liệu thu thập được từ
bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đã được xác lập từ bước 1. Nghiên cứu định lượng
được thực hiện nhằm đánh giá mối quan hệ giữa các nhân tố trong thang đo và các
nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Khánh Hoà.
5.3. Phần mềm sử dụng: Tác giả sử dụng SPSS để thực hiện các phân tích như: thống
kê mô tả, phân tích hồi qui bội
6
5.4. Dữ liệu
a. Dữ liệu thứ cấp
Để đánh giá tiềm năng nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Khanh
Trong đó: n - cỡ mẫu; N - tổng thể và
2
e
- giới hạn sai số chọn mẫu.
Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa
năm 2012, số cơ sở nuôi đang hoạt động nuôi tôm trong vùng khoảng trên 3.000 ha với
khoảng gần 600 cơ sở nuôi. Tuy nhiên, riêng tại 4 vùng trọng điểm nuôi tôm nhiều
như Ninh Hòa, Vạn Ninh, Cam Ranh và Nha Trang đã có khoảng 2.628 ha diện tích
nuôi với 568 cơ sở nuôi, chiếm trên 90 % tổng số cơ sở nuôi toàn vùng. Do đó, nghiên
cứu này chỉ tập trung điều tra dữ liệu tại các địa bàn trên. Như vậy, với giới hạn sai số
7
mẫu cho phép là 5%, theo công thức (*), với tổng thể là 568 cơ sở nuôi thì số lượng cơ
sở nuôi cần chọn để khảo sát trong nghiên cứu này là 150 và được phân bổ theo các
vùng và trong quá trình điều tra sẽ căn cứ vào phương thức nuôi và quy mô hộ nuôi để
lấy theo tỷ lệ tương ứng.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu
6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghề nuôi tôm đã có ở Việt Nam từ lâu đời. Nghề này bắt đầu khởi sắc từ
những năm sau đổi mới với con tôm sú. Từ sau năm 2000, nghề nuôi tôm thẻ chân
trắng bắt đầu phát triển nhanh chóng và đóng vai trò rất quan trọng trong nghề nuôi
tôm Việt Nam. Do vậy, làm thế nào để nâng cao năng suất và phát triển bền vững nghề
nuôi này đã và đang là câu hỏi nghiên cứu quan trọng. Các nghiên cứu về chủ đề này
tiêu biểu như:
Trần Văn Nhường và các cộng sự (2004), “Ngành nuôi tôm Việt Nam hiện
trạng, cơ hội và thách thức.” Nghiên cứu đã khái quát hiện trạng nuôi tôm Việt Nam
từ những năm bắt đầu đổi mới đến 2003 với sự nhấn mạnh về: (i) ảnh hưởng của phát
triển nghề nuôi tôm đối với các mặt kinh tế, xã hội và môi trường; (ii) các thách thức
nghề nuôi tôm đang gặp phải; (iii) một số chính sách quan trọng của chính phủ đối với
nghề nuôi tôm; (iv) từ đó, nghiên cứu thảo luận tính bền vững của nghề nuôi tôm và
đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm định hướng phát triển nuôi tôm bền vững.
Vietnam.” Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vấn đề kỹ thuật của sản xuất giống
tôm thẻ chân trắng ở Quảng Ngãi Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vấn đề kỹ
thuật của sản xuất giống tôm thẻ chân trắng tới phát triển bền vững ở Quảng Ngãi.
Phan Văn Hòa (2004) với đề tài “Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu
quả kinh tế nuôi tôm ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”, sử dụng hàm sản xuất
Cobb – Douglas để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi theo các
hình thức nuôi của các hộ nuôi tôm ở huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế. Trên cơ
sở đó, phân tích ảnh hưởng cận biên của các yếu tố đầu vào ảnh hưởng đến năng suất
tôm nuôi và xác định hiệu quả kinh tế của từng yếu tố đầu tư theo hình thức nuôi cụ
thể. Đề tài xác định được năng suất nuôi tôm tại vùng nghiên cứu chịu tác động của
nhiều nhân tố, trong đó chủ yếu là thức ăn tươi, thức ăn công nghiệp,vụ nuôi, con
giống và công lao động. Thức ăn công nghiệp ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất tôm
nuôi của các hộ nuôi, thứ đến là biến thức ăn tươi, vụ nuôi, hình thức nuôi và ảnh hưởng
thấp nhất là công lao động.
9
Phạm Xuân Thủy (2004) với đề tài ”Xây dựng mô hình nuôi tôm thâm canh tại
Khánh Hòa” nhằm điều tra hiện trạng kỹ thuật và đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề
nuôi tôm sú ở các tỉnh Nam Trung Bộ, nhằm xác định một số thông số kỹ thuật – kinh
tế chủ yếu của nuôi tôm sú thâm canh. Lựa chọn một số yếu tố cơ bản có mối quan hệ
tuyến tính với năng suất nuôi tôm để xây dựng mô hình nuôi tôm thâm canh bằng hàm
thống kê toán học và nuôi tôm thực nghiệm theo mô hình thâm canh tại Nha Trang –
Khánh Hòa.
Mai Văn Xuân (2005) với đề tài ‘’Hiệu quả kinh tế nuôi tôm ở vùng đầm phá
huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế’’ đã sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu
ngẫu nhiên không lặp theo khoảng cách tổ xác định, sử dụng phương pháp nhiên cứu
có sự tham gia của người dân, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích riêng
biệt và phương pháp toán kinh tế để đánh giá thực trạng tình hình nuôi tôm vùng đầm
phá, huyện Quảng Điền. Đề tài đã vận dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để phân
tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế các hình thức nuôi tôm vùng nghiên
cứu. Trên cơ sở đó đề tài đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nghề
tăng năng suất nuôi trồng. Năm 2009, nuôi trồng thuỷ sản đóng góp 37% tổng sản lượng,
tăng đều từ mức 26% năm 2012 (FAO, 2010).
Tôm là sản phẩm quan trọng của nghề nuôi trồng thuỷ sản. Theo thống kê,
trong cơ cấu các sản phẩm nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới, mặt hàng tôm nuôi dù chỉ
chiếm 5,56% về sản lượng nhưng đã chiếm đến 14,96% giá trị năm 2005. Điều này
cho thấy nuôi tôm trên thế giới luôn chiếm ưu thế trong nuôi giáp xác và trong nuôi
trồng thuỷ sản. Các loài tôm nhiều nhất là tôm sú P.
Monodon, tôm nương P.
Chinenis
và tôm chân trắng P.
Vannamei, riêng 3 loài tôm này chiếm trên 86% sản lượng nuôi
tôm của thế giới. Nuôi tôm là nghề mang lại lợi nhuận cao, giúp giải quyết công ăn
việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát
triển. Dù vậy, đây là nghề nuôi trồng ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái và thải ra các
chất gây ô nhiễm môi trường (Martinez, 2003). Do tầm quan trọng đặc biệt của nghề
nuôi tôm, ngay từ năm 1998, các chuyên gia của FAO đã nhóm họp tại Bangkok, dựa
vào kinh nghiệm phát triển nghề nuôi tôm, để đề xuất các tiêu chí của nghề nuôi tôm
bền vững (FAO, 1998).
Sự gia tăng nhanh chóng của nghề nuôi trồng thuỷ sản thuỷ sản thế giới đã đặt
ra những thách thức đối với các nhà quản lý và nghiên cứu thế giới. Năm 2000, FAO
(Tổ chức Lương nông Thế giới) và NACA (Mạng lưới các Trung tâm nuôi trồng Châu
Á - Thái Bình dương) đã nhóm họp ở Bankok và ra tuyên bố về chiến lược phát triển
nghề nuôi sau năm 2000 với quan điểm “phát triển, chấp nhận và áp dụng các tiêu chí,
11
chỉ số đánh giá tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường để phát triển nghề nuôi”
(FAO/NACA, 2000).
Để đáp ứng sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu của thị trường đối với các sản phẩm
12
sản xuất đồ gỗ. Trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, Martinez (2003) là người tiên
phong đầu tiên áp dụng cách tiếp cận này để nghiên cứu cho nghề nuôi tôm ở Mexico.
Nghiên cứu của Kennendy (1986) và Sinh (2003) đã nhận xét rằng thời vụ hay
tác động của thời tiết là rất quan trọng và ảnh hưởng mạnh tới sản lượng cũng như giá
sản phẩm làm ra trong lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp. Nếu sản phẩm được sản xuất ra
đều đặn hơn thì có thể cải thiện được mức độ tiền lời bằng việc giảm chi phí của người
sản xuất, thông qua việc giảm tính thời vụ của việc cung cấp sản phẩm, đồng thời cũng
giúp giảm giá bán sản phẩm trên thị trường. Nếu vận dụng tốt điều này trong nghề sản
xuất và kinh doanh tôm giống cũng có nghĩa là giúp làm hài hoà lợi ích của người sản
xuất tôm giống và lợi ích của người nuôi tôm thịt.
Nghiên cứu của Shang và cộng tác viên (1998) về mối quan hệ giữa quy mô trại
sản xuất với hiệu quả kinh tế thu được, tác giả phân nhóm các trại tôm giống ở Châu Á
thành ba nhóm là nhỏ, trung bình và lớn. Các trại lớn thường có trang thiết bị và kỹ
thuật tốt hơn, sản xuất ra tôm giống có chất lượng tốt hơn, nhưng hiệu quả kinh tế
không cao và nếu dịch bệnh xảy ra thì rất chậm phục hồi. Các trại nhỏ thường có chất
lượng tôm giống không bằng các trại lớn và thường gặp trục trặc trong vấn đề dịch
bệnh, nhưng phục hồi rất nhanh và có hiệu quả kinh tế cao hơn, đồng thời cũng dễ
dàng trong việc xây dựng. Qua đó các tác giả kết luận, ở Châu Á sự phát triển của các
trại quy mô nhỏ và trung bình thường chiếm ưu thế hơn so với các trại lớn.
7. Đóng góp của luận văn
7.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hoá cơ sở lý thuyết liên quan đến năng suất tôm thẻ
chân trắng và các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất tôm thẻ chân trắng, đặc biệt là tôm
thẻ chân trắng thâm canh.
7.2. Về mặt thực tiễn
+ Đề tài đã chỉ ra được bức tranh tổng quát về thực trạng nghề nuôi tôm thẻ
chân trắng tại tỉnh Khánh Hoà.
+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến
năng suất tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Khánh Hoà.
gắng không ngừng nghỉ để thích ứng với các hoạt động kinh tế trong điều kiện luôn
thay đổi, luôn ứng dụng những lý thuyết và phương pháp mới. Đó là một sự tin tưởng
chắc chắn trong quá trình tiên tiến của loài người”
Các định nghĩa trên được sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau
với mục đích định hướng vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên các
định nghĩa trên chỉ bàn về định tính, không đi sâu vào vấn đề định lượng của năng suất
nên có phần trừu tượng và không thể sử dụng để so sánh năng suất giữa các doanh
nghiệp ở các ngành khác nhau, hay các doanh nghiệp trong cùng ngành nhưng có qui mô
sản xuất, vốn, trình độ công nghệ, quản lý … khác nhau.
Các định nghĩa về định lượng của năng suất như:
- Trong một đơn vị thời gian
Tổng lợi ích mang lại cho khách hàng
Năng suất=
Giá trị của nguồn lực sử dụng
(1.1)
- Trong một đơn vị thời gian
Xuất lượng
Năng suất
=
Nhập lượng
(1.2)
Ngoài ra còn có một số định nghĩa về năng suất khác như:
Năng suất phản ánh sự gia tăng (sản phẩm hoặc giá trị) của quá trình sản xuất.
động trực tiếp đến năng suất: lao động, vốn, khoa học và nghệ thuật quản trị.
Ở Mỹ người ta đã đúc kết được các số liệu sau đây phản ánh mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố nói trên.
Trong vòng 100 năm (1889 – 1989), năng suất của Mỹ tăng bình quân hàng
năm là 2.5 % trong đó:
- Nhân tố lao động đóng góp 0.5%
- Nhân tố tư bản (vốn) đóng góp 0.4%
- Nhân tố khoa học và nghệ thuật quản trị đóng góp 1.6%
Xét riêng trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, đã có nhiều nghiên cứu về định
nghĩa năng suất sinh học. Tuy nhiên, dù cho các khái niệm có khác nhau đến đâu, thực
chất vẫn chứa đựng một nội dung cơ bản là để biểu hiện độ tăng khối lượng chất sống