317
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT TÔM NUÔI
Ở HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Hoàng Quang Thành, Nguyễn Đình Phúc
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt. Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến năng
suất tôm nuôi ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả nuôi tôm của các hộ trên địa bàn trong thời gian tới.
Nghiên cứu điều tra 90 hộ nuôi tôm ở 3 xã trọng điểm gồm Phước Hòa, Phước Sơn,
Phước Thắng, sử dụng hàm sản xuất Cobb – Douglas để xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến năng suất tôm nuôi theo các hình thức nuôi của các hộ điều tra. Trên cơ
sở đó, phân tích ảnh hưởng cận biên của các yếu tố đầu vào đến năng suất tôm nuôi
và xác định hiệu quả kinh tế của từng yếu tố đầu tư theo hình thức nuôi tôm của
các hộ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện hiện nay để đảm bảo đạt hiệu quả
kinh tế cao, các hộ nên đầu tư nuôi tôm theo hình thức bán thâm canh, tập trung
nuôi ở thời vụ chính bắt đầu từ tháng 3 đến cuối tháng 5 trong năm (vụ 1) và chỉ sử
dụng thức ăn công nghiệp, không sử dụng thêm thức ăn tươi.
1. Đặt vấn đề
Vốn có nhiều tiềm năng về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, trong những năm gần
đây phong trào nuôi tôm ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định phát triển mạnh, với diện
tích nuôi tôm từ 1.000,60 ha năm 2008 tăng lên 1.030,60 ha năm 2010, nâng sản lượng
tôm nuôi từ 580 tấn lên đến 1.594,5 tấn năm 2010 với hai hình thức nuôi chủ yếu là quảng
Logarit hóa hai vế của phương trình trên được phương trình tuyến tính theo các
tham số
α, β
như sau:
1 1 2 2 3 3 4 4 5 5 1 1 2 2 3 3
LnY = LnA + αLnX + α LnX + α LnX + α LnX + α LnX +
βD+ β D + β D +
ε
Trong đó, Y: Năng suất tôm nuôi (tấn/ha); X
1
: Mật độ thả giống (vạn con/ha);
X
2
: Số lượng thức ăn công nghiệp (tấn/ha); X
3
: Số lượng thức ăn tươi (tấn/ha); X
4
: Số
ngày công lao động (ngày công/ha); X
5
: Số năm kinh nghiệm sản xuất (năm);
i
α (i = 1 5):
Các hệ số ảnh hưởng của các biến độc lập X
i
đến năng suất tôm nuôi;
i
tôm hình thức BTC, 41 hộ nuôi tôm hình thức QCCT. Bình quân diện tích nuôi tôm của 1
hộ điều tra là 1,38 ha; tương ứng đầu tư 59,04 triệu đồng cho TSCĐ; 42,35 triệu đồng vốn
XDCB và vốn vay mượn là 32,55 triệu đồng. Bình quân mỗi hộ nuôi tôm cần 4,47 nhân
khẩu; 2,73 lao động; tuổi đời bình quân của chủ hộ là 46,38 tuổi; trình độ văn hóa của chủ
hộ là trên lớp 8; số năm kinh nghiệm nuôi tôm của chủ hộ là 7,04 năm. Năng suất tôm
nuôi bình quân trong 1 vụ ở hình thức BTC đạt 3,71 (tấn/ha), QCCT đạt 1,91 (tấn/ha).
Bằng phương pháp ước lượng mô hình hồi quy OLS (Ordinary Least Square)
ở Bảng 1, cho kết quả kiểm định mô hình đối với vụ nuôi tôm 1 và 2 lần lượt với F =
64,495 và F = 56,466 tại mức ý nghĩa thống kê 99%. 319
Bảng 1. Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất tôm nuôi
Vụ 1 Vụ 2
Các biến và hệ số
Coefficients Sig. Coefficients Sig.
Hằng số (C) - 0,885 0,001 - 0,574 0,015
LnX
1
- Ln(Mật độ giống) 0,042 0,041 0,037 0,081
LnX
2
- Ln(Thức ăn CN) 0,125 0,000 0,118 0,001
LnX
3
- Ln(Thức ăn tươi) - 0,088 0,000 - 0,089 0,000
LnX
4
- Ln(Lao động) 0,252 0,000 0,203 0,000
Ở vụ 2 các biến độc lập nói trên cũng đều mang dấu dương và có các mức ý
nghĩa thống kê tương ứng là 90%, 95% và 99%. Hệ số hồi quy của biến thức ăn tươi
cũng mang dấu âm với mức ý nghĩa thống kê 99%, tương tự cho phép kết luận các
biến: Mật độ giống, Thức ăn công nghiệp, Lao động, Kinh nghiệm, Hình thức nuôi,
Kiểm dịch, Xử lý ao đều có ảnh hưởng làm tăng năng suất tôm nuôi, đối với biến
Thức ăn tươi lại làm giảm năng suất tôm nuôi.
Hàm sản xuất Cobb – Douglas ứng với từng vụ nuôi và hình thức nuôi có dạng: 320
Vụ 1 với hình thức nuôi quảng canh cải tiến (QCCT):
2 3
[0,099D + 0,161D ]
(0,042) (0,125) (- 0,088) (0,252) (0,297)
1 2 3 4 5
Y = (0,413).X .X .X .X .X .e
Vụ 1 với hình thức nuôi bán thâm canh (BTC):
2 3
[0,071+ 0,099D + 0,161D ]
(0,042) (0,125) (- 0,088) (0,252) (0,297)
1 2 3 4 5
Y = (0,413).X .X .X .X .X .e
Vụ 2 với hình thức nuôi quảng canh cải tiến (QCCT):
2 3
[0,104D + 0,163D ]
(0,037) (0,118) (- 0,089) (0,203) (0,228)
1 2 3 4 5
)
ĐVT
(X )
i
QCCT
BTC QCCT BTC
X
1
- Mật độ giống
Vạn
con/ha
42,16 0,0019 0,0037 0,0017 0,0032
X
2
- Thức ăn CN Tấn/ha 3,36 0,0709 0,1377 0,0668 0,1298
X
3
- Thức ăn tươi Tấn/ha 0,83
-
0,2024
-0,3932 -0,2038 -0,3959
X
4
- Lao động Công/ha 165,87
0,0029 0,0056 0,0023 0,0045
X
5
thức ăn tươi thì cho kết quả ngược lại, tức là năng suất cận biên sẽ âm. Cụ thể, khi cố định
các yếu tố đầu vào khác ở mức trung bình, nếu chủ hộ nuôi tôm tăng thêm 1 tấn thức ăn
tươi/ha so với mức trung bình là 0,83 tấn/ha thì năng suất tôm nuôi ở vụ 1 giảm đi 0,2024
tấn/ha đối với hình thức nuôi QCCT và 0,3932 tấn/ha đối với nuôi BTC; năng suất tôm
nuôi ở vụ 2 cũng sẽ giảm 0,2038 tấn/ha đối với hình thức nuôi QCCT và giảm 0,3959
tấn/ha đối với nuôi BTC. Mặc dù các hộ thường cố gắng tăng lượng thức ăn tươi nhằm
tăng năng suất tôm nuôi, tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy kết quả mà các hộ thu được
thì lại ngược lại. Nguyên nhân của thực trạng này có thể được lý giải là: khác với thức ăn
công nghiệp, khi sử dụng nhiều thức ăn tươi sẽ dễ gây ô nhiễm môi trường nước, gây dịch
bệnh cho tôm nuôi trong ao [2]. Vì thế, sử dụng nhiều thức ăn tươi để nuôi tôm là không
tốt và kết quả là sẽ làm giảm năng suất tôm nuôi của hộ.
Giá trị sản phẩm cận biên (MPV
Xi
) của từng yếu tố đầu vào được thể hiện qua số
liệu được tính toán ở Bảng 3. Đây chính là phần giá trị sản phẩm tăng thêm của hộ nuôi tôm
khi yếu tố đầu vào X
i
tăng thêm 1 đơn vị. 322
Bảng 3. Giá trị sản phẩm cận biên của các yếu tố đầu vào nuôi tôm
(ĐVT:Triệu đồng/ha)
Giá trị sản phẩm cận biên (MPV
Xi
)
Vụ 1 Vụ 2
Yếu tố đầu vào
(X
14,70 triệu đồng/ha (vụ 2).
Để có các đề xuất đúng đắn về việc sử dụng các yếu tố đầu vào, cần xác định
chênh lệch giữa giá trị sản phẩm cận biện (MPV
Xi
) và đơn giá đầu vào của các yếu tố
tăng thêm (P
Xi
). Kết quả tính toán đối với các hình thức nuôi ở các vụ cho thấy: với giá
tôm bình quân của các hộ điều tra 77,49 nghìn đồng/kg, ở vụ 1 nếu tăng thêm 1 vạn con
giống/ha sau khi trừ đi chi phí 0,14 triệu đồng (giá bình quân 1 vạn con giống), hộ còn
lợi được 0,04 triệu đồng/ha nếu nuôi QCCT; 0,25 triệu đồng/ha nếu nuôi BTC.
Tương tự ở vụ 2 nếu hộ tăng thêm 1 vạn con giống/ha sau khi trừ đi chi phí
giống, hộ còn lợi 0,02 triệu đồng/ha nếu nuôi QCCT; 0,06 triệu đồng/ha nếu nuôi BTC.
Phân tích hiệu quả kinh tế nếu tăng thêm đầu tư thức ăn CN, công lao động cũng hoàn
toàn tương tự. Riêng đối với thức ăn tươi, do giá trị sản phẩm cận biên của biến này là
âm ở cả hai hình thức nuôi nên nếu tăng thêm 1 tấn thức ăn tươi/ha, sau khi trừ đi chi
phí 1,05 triệu đồng/ha thì vụ 1 hộ sẽ lỗ 17,82 triệu đồng/ha nếu nuôi QCCT; 32,94 triệu 323
đồng/ha nếu nuôi BTC. Đối với vụ 2 ở các hình thức mức lỗ cũng tương ứng là 15,82
triệu đồng/ha nuôi QCCT; 25,84 triệu đồng/ha nuôi BTC.
Qua kết quả nghiên cứu còn cho thấy, trong hai hình thức nuôi tôm hiện đang
được các hộ trên địa bàn áp dụng thì hình thức BTC tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn nuôi
QCCT, nhờ tiết kiệm được diện tích nuôi trồng, dễ áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăn
nuôi tiên tiến. Đối với hình thức nuôi BTC thì năng suất tôm nuôi bình quân đạt 3,71
tấn/ha, cao hơn 94,24% so với nuôi tôm QCCT; giá trị gia tăng đạt 96,44 triệu đồng/ha,
cao hơn 86,89% so với nuôi QCCT, thu nhập hỗn hợp đạt 70,04 triệu đồng/ha, cao hơn
88,36% so với nuôi QCCT. Về hiệu quả sử dụng chi phí, cứ 1 đồng chi phí trung gian
1. Chi cục Nuôi trồng thủy sản Bình Định. Báo cáo tổng kết hội nghị nuôi tôm năm 2011,
Bình Định, 2011.
2. Nguyễn Quang Đăng. Các vấn đề về sản xuất và thương mại tôm, nuôi tôn trên cát và
những vấn đề đặt ra, Bộ Thủy sản, 2002
3. Sở NN & PTNT Bình Định. Báo cáo tại Hội nghị tổng kết nuôi tôm nước lợ tỉnh Bình
Định, 2010.
4. Trung tâm tin học, Bộ Thủy Sản. Thông tin chuyên đề, Phát triển nuôi tôm bền vững,
2/2005.
DETERMINANTS OF SHRIMP FARMING'S PRODUCTIVITY
IN TUY PHUOC DISTRICT, BINH DINH PROVINCE
Hoang Quang Thanh, Nguyen Dinh Phuc
College of Economics, Hue University
Abstract. The paper aims to present results of the study on factors determining the
productivity of shrimp farming in Tuy Phuoc district, Binh Dinh province and to
propose essential solutions for raising the productivity of household's shrimp
farming in the area. We conducted a survey of 90 households in three focused
communes including Phuoc Hoa, Phuoc Son, Phuoc Thang. Using production
function approach, the paper identifies factors that determine the productivity of
shrimp farming with different farming methods. The paper then analyzes marginal
products of inputs that determined the shrimp farming's productivity and identifies
economic efficiency of households' shrimp farming. Results show that in the
current situation, in order to obtain high economic efficiency, households should
invest in semi-intensive aquaculture method, focus on one farming season and only
use processed feeds; they should not use additional fresh feeds.