KỸ THUẬT NUÔI LỒNG cá BIỂN và tác ĐỘNG của VIỆC sử DỤNG THỨC ăn NUÔI cá lên môi TRƯỜNG ở VÙNG BIỂN vân đồn, QUẢNG NINH - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ MAI
KỸ THUẬT NUÔI LỒNG CÁ BIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ
DỤNG THỨC ĂN NUÔI CÁ LÊN MÔI TRƯỜNG Ở VÙNG BIỂN
VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ MAI
KỸ THUẬT NUÔI LỒNG CÁ BIỂN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ
DỤNG THỨC ĂN NUÔI CÁ LÊN MÔI TRƯỜNG Ở VÙNG BIỂN
VÂN ĐỒN, QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Nuôi trồng Thủy sản
Mã số: 60 62 70
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
T.S LÊ ANH TUẤN
Nha Trang - 2010
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu thu được trong quá trình điều tra là hoàn toàn
đúng với thực tế và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho
việc thực hiện luận văn này là đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận
văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi đến Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa nuôi trồng thủy sản,
Phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang sự kính trọng và

(Start Weight) Khối lượng cá khi bắt đầu theo dõi
(Daily Growth Rate)Tốc độ sinh trưởng hàng ngày
(Daily Growth Coefficient) Hệ số sinh trưởng hàng ngày
(Feed Conversion Ratio) Hệ số chuyển hoá thức ăn
(Feed Conversion Ratio) Hệ số chuyển hoá thức ăn theo chất khô
(Survival Rate) Tỷ lệ sống
(Based Feed Intake) Lượng thức ăn cá ăn vào
Thời gian theo dõi tính theo ngày
Nitơ
Nitơ tổng số
Food and Agriculture Organization
đồng
Việt Nam Đồng
iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Nuôi cá biển lồng bè trên thế giới 3
1.2 Nghề nuôi cá biển lồng bè ở Việt Nam 4
1.3 Sơ lược một vài đặc điểm sinh học của các đối tượng nuôi chính 6
1.3.1 Cá song chấm nâu 6
1.3.2. Cá giò 7
1.3.3 Cá hồng mỹ 8
1.4. Tình hình nghiên cứu tác động của việc nuôi lồng lên môi trường xung quanh 9

3.2.5 Chọn cá giống và thả cá giống 26
3.2.6 Kích cỡ và mật độ thả giống 26
3.2.7 Thức ăn cho cá 28
3.2.7.1 Loại thức ăn 28
3.2.7.2. Nguồn gốc thức ăn 28
3.2.7.3 Tỷ lệ cá tạp trong đánh bắt 28
3.2.7.4 Biến động nguồn thức ăn trong nuôi cá ở Vân Đồn 29
3.2.8. Kỹ thuật bảo quản thức ăn 30
3.2.9. Kỹ thuật cho cá ăn 30
3.2.10 Quản lý và chăm sóc 32
3.2.11 Phát hiện bệnh trên cá và phương pháp phòng trị 35
3.3 Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển Vân Đồn. 37
3.3.1 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi các loài cá chính 37
3.3.1.1 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi cá cá song chấm nâu 37
3.3.1.2 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi cá cá giò 38
3.3.1.3 Tỷ lệ thức ăn trong nuôi cá hồng mỹ 39
3.3.1.4 So sánh việc sử dụng cá tạp trong nuôi cá song chấm nâu, cá giò và cá
hồng mỹ 40
3.3.2. Sinh trưởng của cá 41
vi
3.4 Tác động của việc cho cá ăn lên môi trường nuôi trong nuôi cá 42
3.5. Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của hoạt động nuôi cá
biển ở Vân Đồn 46
3.5.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế ở cấp độ hộ 46
3.5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội ở cấp độ ngành 49
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 51
KẾT LUẬN 51
ĐỀ XUẤT 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Hình 3.2 Tỷ lệ % số hộ tham gia nuôi cá ở Vân Đồn 17
Hình 3.3 Tỷ lệ % lồng nuôi cá biển ở Vân Đồn 18
Hình 3.4 Diện tích và sản lượng cá lồng nuôi biển từ năm 2005 đến 2009 ở Vân Đồn 19
Hình 3.5 Sản lượng, giống thả nuôi, số ô lồng và số hộ nuôi cá biển toàn tỉnh Quảng
Ninh từ 2007 đến 2009 20
Hình 3.6 Lồng bè nuôi cá biển ở Vân Đồn 23
Hình 3.7 Tỷ lệ % về nguồn gốc cá giống tại các hộ nuôi ở Vân Đồn 24
Hình 3.8 Mật độ nuôi một số loài cá biển chính nuôi lồng (3 x 3 x 3m) ở Vân Đồn 27
Hình 3.9 Cá giò cỡ 8 – 12cm 27
Hình 3.11 Sơ đồ biến động cá tạp theo thời gian trong năm 29
Hình 3.12 Bảo quản thức ăn cho cá nuôi bằng thùng xốp có ướp đá 30
Hình 3.13 Cá tạp được xảy nhuyễn và ướp vào bao nylong để cho cá ăn trong ngày 31
Hình 3.14 Cho cá ăn giò qua lỗ thủng trên miệng lồng 32
Hình 3.15 Cho cá song ăn ở Vân Đồn 32
Hình 3.16 Giặt lồng bằng thanh gỗ 33
Hình 3.17, 3.18 Rác bẩn trong lồng và xung quanh lồng nuôi cá 34
Hình 3.19 Cá song bị bệnh lở loét 36
Hình 3.20 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá song 38
Hình 3.21 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá giò 39
Hình 3.22 Tỷ lệ cá tạp trong thức ăn của cá hồng mỹ 39
Hình 3.23 So sánh tỷ lệ cá tạp xuất hiện trong thức ăn của cá song, giò, hồng mỹ 40
Hình 3.24 Biến động hàm lượng Ni-tơ tổng số của chất nước trong các lồng nuôi cá . 44
Hình 3.25 Biến động hàm lượng Ni-tơ tổng số của chất đáy trong các lồng nuôi cá 45
Hình 26, 27 Rác bẩn và dầu loang xung quanh khu vực nuôi cá ở Cái Rồng 46
Hình 3.28 So sánh hiệu quả kinh tế trong nuôi các đối tượng 48
1
MỞ ĐẦU
Nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh đang phát triển với tốc độ
nhanh, hàng năm tạo ra lượng sản phẩm lớn phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Chỉ
tính riêng năm 2007, vùng đã sản xuất được 1855 tấn cá từ nuôi lồng, chiếm 74,2%

Đồn.
Đề tài chủ yếu đi sâu vào các đối tượng cá biển nuôi chính (cá song chấm nâu,
cá giò và cá hồng mỹ) với các nội dung sau:
1) Tình hình nghề nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn, Quảng Ninh
2) Kỹ thuật nuôi lồng cá biển tại Vân Đồn
3) Tác động của việc sử dụng thức ăn nuôi cá lên môi trường ở vùng biển Vân
Đồn, Quảng Ninh
4) Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của hoạt động nuôi cá
biển ở Vân Đồn
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Về mặt khoa học, nghiên cứu này góp phần làm cơ sở khoa học cho các nghiên
cứu về kỹ thuật nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn. Đề tài ước tính hàm lượng Ni-tơ thải do
sử dụng thức ăn trong nuôi cá biển nhằm đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường ở
vùng biển Vân Đồn. Từ đó đề xuất một số giải pháp liên quan tới việc quản lý và sử
dụng thức ăn trong nuôi lồng cá biển cho vùng, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển
nuôi lồng cá biển ở Vân Đồn nói riêng và nghề nuôi cá biển của nước ta nói chung
theo hướng ngày càng bền vững.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1 Nuôi cá biển lồng bè trên thế giới
Trong những thập kỷ gần đây, nghề nuôi cá biển ở khu vực Đông Nam Á phát
triển rất mạnh ở nhiều vùng lãnh thổ như: Thái Lan, Philippin, Indonexia, Đài Loan,
Malaysia, Trung Quốc Trong đó Indonexia là nước đi đầu về tổng sản lượng nuôi
lồng cá biển, với 381.485 tấn vào năm 1991; Philippin đứng vị trí thứ 2 với 282.119
tấn, tiếp đến Thái Lan 93.060 tấn, Malaysia 11.575 tấn và cuối cùng Việt Nam 123 tấn
[28].
Nuôi biển là một ngành mới nhưng phát triển nhanh chóng vì sản phẩm của
nuôi biển có giá trị cao hơn các sản phẩm thủy sản từ các ngành khác. Sản lượng thủy
sản cung cấp cho tiêu dùng năm 1994 là 80 triệu tấn trong đó khai thác hải sản chiếm

nuôi, sản lượng cá lồng biển 339.000 tấn [8].
1.2 Nghề nuôi cá biển lồng bè ở Việt Nam
Là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển thuỷ sản biển, trong những năm
qua nghề nuôi biển của Việt Nam đã có những bước phát triển không chỉ về diện tích,
số lồng nuôi mà sản lượng nuôi biển cũng không ngừng được tăng lên. Diện tích mặt
biển có thể đưa vào quy hoạch nuôi biển năm 1994 lên tới 460,000 ha [1]. Ngành thủy
sản nước ta đã đề ra mục tiêu, phấn đấu đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về biển,
giàu lên từ biển; phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp 53-55% GDP và 55-60% kim
ngạch xuất khẩu của cả nước [36]
Ở nước ta từ năm 1990 đến nay, do nhu cầu thị trường, nghề nuôi lồng cá biển
có xu thế tăng nhanh ở các tỉnh ven biển từ Móng Cái đến Hà Tiên [17]. Các loài cá
biển nuôi phổ biến như cá song, cá giò, cá hồng, cá vược, cá cam, cá đối mục, cá tráp,
cá hường, cá chim biển Khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh thuộc các vùng có số lường
bè cá nhiều nhất, tính đến giữa năm 1995, tổng số lượng bè cá ở khu vực này có
khoảng 300 – 400 ô lồng. Khu vực biển miền Trung, từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có
khoảng 200 ô lồng và khu vực Đông Tây Nam Bộ có trên 100 ô lồng [22]. Năm 2003,
cả nước có khoảng 6800 lồng nuôi cá biển [15]. Năm 2005 cả nước có 16.319 ô lồng
nuôi cá biển, đạt 3.508 tấn, tốc độ tăng số lồng 73%/năm và sản lượng 83%/năm [25]
Nuôi lồng cá biển ở nước ra đang phát triển nhanh chóng và được coi như một
giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng sản phẩm thuỷ sản ngày càng
tăng của người tiêu dùng. Hiện nay khả năng cung ứng thủy sản của cả nước vào
5
khoảng 8kg/đầu người/năm. Mục tiêu phấn đấu tăng gấp đôi 16kg/đầu người/năm vào
năm 2010 thì sản lượng thủy sản có giá trị cao hàng năm cần có để tiêu thụ cho hơn 80
triệu dân là 1,3 triệu tấn thành phẩm [3]. Tuy nhiên, nghề nuôi lồng cá biển nước ta
còn chậm phát triển, mang tính chất tự phát, nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch nên diễn ra tình
trạng môi trường nuôi bị ô nhiễm, do có một số vùng nuôi tập trung mật độ cao và sử
dụng cá tạp làm thức ăn.
Theo đánh giá của FAO, nghề nuôi cá lồng biển của Việt Nam còn non trẻ so
với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, chúng ta có đầy đủ tiềm năng để

song, cá giò, cá hồng, cá tráp vây vàng là những đối tượng đang được nuôi phổ biến
trong các lồng bè của ngư dân. Đây là những loài cá có giá trị kinh tế cao, tốc độ sinh
trưởng nhanh, thị trường tiêu thụ rộng rãi, dễ nuôi, phù hợp với qui mô hộ gia đình
cũng như nuôi công nghiệp. Trong đó, cá song và cá giò được xem là những đối tượng
nuôi đóng góp sản lượng chủ yếu cho nghề cá biển.
1.3 Sơ lược một vài đặc điểm sinh học của các đối tượng nuôi chính
1.3.1 Cá song chấm nâu (Epinephelus coioides)
- Vị trí phân loại :
Ngành:
Lớp:
Bộ:
Họ:
Giống:
Loài:
Chrodata,
Osteichthyes
Perciformes
Serranidae
Epinephelus
Epinephelus coioides (Hamilton, 1822).
Hình 1.1 Cá song chấm nâu Epinephelus coioides (Hamilton, 1822) [29].
Cá song chấm nâu thuộc loài cá biển, sống đáy, phần lớn sống vùng rạn san hô.
Phân bố vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương: vùng Biển Đỏ ở phía nam Durban, Nam
Phi và phía đông giáp Palau và Fiji, phía bắc quần đảo Ryukyu, phía nam đến biển
Arafura và Australia. Chiều dài thân 120cm. Khối lượng lớn nhất có thể đạt 15kg. Độ
7
tuổi lớn nhất có thể 22 tuổi. Độ tuổi tham gia sinh sản trung bình 1,4 – 4,4 năm tuổi.
Cá song chấm nâu có tập tính dinh dưỡng ăn cá nhỏ, tôm, và cua [29].
1.3.2. Cá giò
- Vị trí phân loại

xuất hiện ở vùng Thái Bình Dương.
Cá giò có đội dài toàn thân lớn nhất là 200 cm, trọng lượng tối đa: 68,0 kg tối
đa, độ tuổi cao nhất 15 năm. Môi trường sống nơi đáy là bùn, cát và đáy sỏi; trên các
rạn san hô. Ăn cua, cá, và mực. Đẻ trứng trong những tháng ấm ở Đại Tây Dương phía
tây [29].
1.3.3 Cá hồng mỹ
- Vị trí phân loại:
Ngành:
Lớp:
Bộ:
Họ:
Giống:
Loài:
Chordate
Osteichthyes
Perciformes
Sciaenidae
Sciaenops
Sciaenops ocellatus (Linné, 1766 ).
Hình 1.3 Cá hồng mỹ Sciaenops ocellatus (Linné, 1766 ) [19].
Cơ thể có hình thon dài, thân hơi tròn lưng có gồ cao lên, vẩy lược lớn vừa và nhỏ.
Phân bố: Cá hồng mỹ phân bố rộng muối, rộng nhiệt phân bố ở vịnh Mêhicô và
vùng duyên hải Tây - Nam nước Mỹ. Một số năm trở lại đây đối tượng này đã được
nhập cư vào các nước trong khu vực châu Á như: Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam
và nhanh chóng trở thành một đối tượng kinh tế khá quan trọng trong khu vực. Họ cá
9
này cũng được tìm thấy ở các vùng nước đại dương ôn đới và nhiệt đới. Chúng sống
đáy vùng ven bờ, vùng đá ngầm ven bờ, nơi có dòng nước ấm. Cũng có thể thấy chúng
sống ở các vùng đáy cát, đá cứng, vùng hỗn hợp bùn cát hoặc vùng đá san hô chết.
Phân bố ngang thì chúng sống từ đáy ven bờ cho đến các rạn đá hoặc bãi san hô chết ở

Chaetoceros concavicornis) có thể ảnh hưởng tới mang cá, làm giảm sinh trưởng hoặc
thậm chí gây tử vong [53]. Quan trọng hơn, sự nở hoa (“thủy triều đỏ”) của một số loài
như Chattonella marina thường tạo ra các độc tố sinh học có thể giết chết các sinh vật
khác. Neurotoxins sản xuất bởi một số loài tảo có thể tập trung ở bọn hai mảnh vỏ như
vẹm và sò, có thể ảnh hưởng sức khỏe của người tiêu thụ [41].
Cá là thực phẩm có ít chất béo và được coi là một thay thế lành mạnh cho các
loại thịt khác, nhưng người tiêu dùng không thể bỏ qua các nguy cơ sức khỏe tiềm
năng của các loài nuôi, giống như họ không thể bỏ qua những rủi ro liên quan đến vật
nuôi trên cạn. Ngoài ra, bọn hai mảnh vỏ bị nhiễm tảo độc, các thủy sản nuôi có thể
gây ra mối quan tâm khác như sự lan truyền bệnh. Hầu hết các tác nhân gây bệnh cá
không gây hại đến con người, nhưng một số tác nhân gây bệnh như vi khuẩn
Streptococcus có thể ảnh hưởng đến con người [46]. Các mức cao của chất kháng sinh
và các thành phần công nghệ di truyền trong thức ăn cho cá (ví dụ như các chất phụ
gia đậu nành) cũng có thể gây ra rủi ro.
Nuôi cá hiện phụ thuộc vào thức ăn là cá tự nhiên vì bột cá và dầu cá từ đàn
giống tự nhiên là các thành phần chính của thức ăn tổng hợp nhân tạo (thức ăn thủy
sản) [38]. Vì thế, người ta có thể lập luận rằng, nuôi trồng thủy sản không thể thay thế
khai thác thủy sản, trừ khi chỉ có cá ăn thực vật và bọn ăn lọc được nuôi. Tuy nhiên,
nguồn gốc của bột cá là cá biển khơi như cá menhaden và cá thu, các loài thông
thường không được tiêu thụ bởi con người. Bột cá còn có thể đến từ phụ phẩm khai
thác mà nếu không sử dụng chúng sẽ bị loại bỏ như chất thải.
Khi trang trại càng thâm canh thì càng phát triển theo hướng gia tăng sử dụng
thức ăn thủy sản thâm canh. Khoảng 31 triệu tấn của tổng sản lượng thủy sản khai thác
của thế giới được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi mỗi năm, 15% trong số đó là được sử
dụng làm thức ăn cho nuôi thủy sản. Thức ăn thường được tổng hợp theo công thức
nhằm đảm bảo hiệu suất chuyển đổi cao. Nói chung, động vật thủy sản có hiệu quả
chuyển hóa thức ăn tốt hơn so với động vật trên cạn. Với những thực tế này, chiến
lược của việc dùng cá để nuôi cá có vẻ hợp lý, tuy nhiên cần lưu ý rằng chỉ có một vài
phần trăm thức ăn cho lợn và gia cầm có sử dụng bột cá, so với 70% đối với cá và bọn
giáp xác [38] và kỹ thuật nuôi không hiệu quả có thể dẫn đến một lượng lớn chất thải.

12
CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian: từ tháng 1/1/2010 đến 1/6/2010
Địa điểm: huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các loài cá biển kinh tế hiện đang nuôi ở Vân Đồn, nhưng tập trung sâu vào 3
đối tượng nuôi chính là cá song chấm nâu (Epinephelus coioides), cá giò
(Rachycentron canadum) và cá hồng mỹ (Sciaenops ocellatus).
2.3. Sơ đồ khối nghiên cứu:
Nghề nuôi lồng cá ở Vân Đồn, Quảng Ninh đang phát triển mạnh,
nhưng do người nuôi cá quản lý chăm sóc cá nuôi chưa đúng cách,
đặc biệt là việc dùng cá tạp làm thức ăn cho cá nuôi, đã dẫn tới các
vấn đề sau: - Hao phí thức ăn
- Ô nhiễm vùng nước nuôi
- Dịch bệnh cá xảy ra
- Giảm năng suất nuôi
Tình hình
nghề nuôi
lồng cá
biển ở Vân
Đồn
Kỹ thuật
nuôi lồng
cá biển tại
Vân Đồn,
Quảng
Ninh
Tác động của

hồng mỹ) tại Cái Rồng (vùng tập trung nuôi cá nhiều nhất trong huyện).
2.4.3.1 Tỷ lệ cá tạp trong nuôi cá lồng biển ở Vân Đồn
+ Tập trung 3 loài cá tạp chính; số còn lại gộp chung “cá khác”.
+ Xác định tỷ lệ cá tạp trong nuôi từng đối tượng: cá song, cá giò, cá hồng mỹ
+ Tính trung bình chung tỷ lệ % cá tạp trong nuôi từng đối tượng.
2.4.3.2 Sinh trưởng của cá
Sinh trưởng của cá liên quan đến hệ số thức ăn (FCR). Việc ô nhiễm môi
trường được đo bằng mức hao phí dinh dưỡng (thức ăn).
2.4.3.3 Tác động của việc cho cá ăn lên môi trường nuôi
- Phân tích hàm lượng Ni-tơ tổng số trong thức ăn và trong cơ thể cá trước và
sau thời gian theo dõi để tính được hàm lượng Ni-tơ tổng số phóng thích ra môi
trường, để ước tính cho khả năng gây ô nhiễm môi trường do sử dụng thức ăn trong
nuôi cá.
- Phân tích Ni-tơ tổng số của nước và trầm tích trong các lồng cá theo dõi, ước
tính cho khả năng ô nhiễm môi trường.
14
2.4.4 Phương pháp đo các thành phần sinh hóa
2.4.4.1 Các yếu tố môi trường pH, nhiệt độ (0C), độ mặn (ppt):
Các thông số được đo bằng dụng cụ thông thường: nhiệt kế, test pH, máy đo độ
mặn, đo tầng mặt và tầng giữa để lấy trung bình.
2.4.4.2 Ni-tơ tổng số trong thức ăn và trong cá nuôi
a) Ni-tơ tổng số trong thức ăn (cá nhâm, cá ót, cá man)
+ Vị trí thu mẫu: ngẫu nhiên
+ Phân tích mẫu cá tươi theo thành phần loài (chọn 3 loài chính)
+ Thu 3 mẫu/1 loài; 3 con/1 mẫu.
+ Phương pháp bảo quản: bảo quản mẫu thu bằng đá đựng trong thùng xốp, đưa
về nơi phân tích trong ngày.
+ Phương pháp phân tích: phương pháp Kjedahl
b) Ni-tơ tổng số của cá nuôi (cá song, cá giò, cá hồng mỹ).
+ Vị trí thu mẫu: ngẫu nhiên

ban đầu)
- FCR: lượng thức ăn (tính theo khối lượng khô) cần dùng để tăng một đơn vị
khối lượng cá nuôi trong khoảng thời gian theo dõi. Được tính bằng công thức:
Tổng lượng thức ăn
FCR =
Khối lượng gia tăng
- Nthức ăn: Được tính dựa trên hàm lượng Ni-tơ của từng thành phần và tỷ lệ %
của chúng trong thức ăn.
Nthức ăn = Ntích lũy + Nthải
Hệ số chuyển đổi: % Protein thô = % N x 6,25
2.5.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu đánh giá:
- Tổng chi = Định phí + Biến phí
- Doanh thu = Giá bán x Sản lượng
- Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi
- Tỷ suất lợi nhuận trên đầu tư = (Lợi nhuận/Đầu tư) x 100%
- Lợi nhuận biên = (Lợi nhuận/Doanh thu) x 100%

Trích đoạn Kỹ thuật nuôi lồng cá biển Nguồn giống Phát hiện bệnh trên cá và phương pháp phòng trị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status