MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, số lượng các phương tiện giao thông ở Hà Nội
tăng nhanh. Năm 2001, thành phố có gần 1 triệu xe máy và hơn 100.000 ô tô. Cuối
năm 2007, con số này đã tăng gấp đôi, với khoảng 1,9 triệu xe máy và 200.000 ô tô.
Tốc độ phát triển của các phương tiện giao thông giai đoạn 2001-2007 là 12%/năm
đối với xe ô tô, 15%/năm đối với xe máy [3]. Nguyên nhân của sự gia tăng này là
do phát triển kinh tế và mở rộng quy mô dân số, làm tăng nhu cầu đi lại. Theo đánh
giá của các chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thông gây ra
chiếm tỷ lệ khoảng 70%. Lưu lượng xe lớn và chất lượng nhiên liệu sử dụng chưa
tốt (hàm lượng benzen khoảng 5% so với 1% ở các nước trong khu vực; hàm lượng
lưu huỳnh trong diezen chiếm từ 0,5-1% so với 0,05% ở các nước trong khu vực)
ngoài ra còn nhiều khí thải độc hại khác như: CO, NO
x
, PM,… là những nguyên
nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm.
Qua thực tế lấy mẫu khảo sát tại các trạm đăng kiểm và phân tích mẫu (Đề
tài nghiên cứa khoa học cấp thành phố mã số 01C-09/06-99-2: "Điều tra, đánh giá
mức độ ô nhiễm môi trường Hà nội do các phương tiện giao thông đô thị gây nên.
Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường") có thể sơ bộ đánh giá chất
lượng các loại ôtô đang lưu hành trên địa bàn Hà Nội (theo tiêu chuẩn TCVN 6436-
1998 và TCVN 6438-1998 ở mức cao nhất) thì có tới 80% số xe ôtô lắp động điezel
(chủ yếu là xe bus), gần 20% số xe ôtô lắp động cơ xăng và khoảng 37% số xe máy
đang lưu hành ở Hà Nội không đạt yêu cầu về một trong các tiêu chuẩn cho phép.
Cũng qua những số liệu cụ thể trong bản báo cáo nói trên thì có thể khẳng định mức
độ ô nhiễm môi trường không khí ở các đô thị lớn trong nước ta là đáng báo động.
Để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí do các phương tiện vận tải gây ra
chúng ta phải thực hiện đồng thời nhiều giải pháp, chẳng hạn như: siết chặt tiêu
chuẩn khí phát thải đối với các loại phương tiện lưu thông (từ ngày 01 tháng 07 năm
2007, toàn bộ các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ sẽ phải tuân thủ theo
1
tiêu chuẩn EUROII về khí thải); nâng cao phẩm cấp của nhiên liệu truyền thống
Sản lượng khí đồng hành lớn của các nhà máy chế biến dầu mỏ và nhà máy
tách khí trong nước đảm bảo nguồn nguyên liệu dồi dào nên khả năng độc lập trong
việc sản xuất nhiên liệu LPG của chúng ta cũng rất lớn. Hiện nay chúng ta có nhà
máy sản xuất gas Dinh Cố với dự báo công suất nhà máy có khả năng duy trì mức
300 - 350 nghìn tấn LPG/ năm cho đến hết năm 2008, sau đó sẽ giảm dần xuống
mức 200 - 270 nghìn tấn/năm trong vòng 5 năm tiếp theo nếu không có điều chỉnh
gì về nguồn khí đầu vào. Đầu năm 2009 nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt
động và trong số các sản phẩm đầu ra của nhà máy, LPG dự tính sẽ có sản lượng
khoảng 348 nghìn tấn/ năm. Trong tương lai gần nhà máy lọc dầu Nghi Sơn sẽ đi
vào hoạt động với dự kiến giai đoạn 2008 - 2010 là 436 nghìn tấn/năm, còn giai
đoạn 2011 - 2013 là 494 nghìn tấn/ năm.
Mặt khác giá LPG nhập khẩu cũng rẻ hơn so với nhập khẩu nhiên liệu
khoáng xăng hay diesel (giá nhập LPG khoảng 820 USD/tấn so với khoảng 1000
USD/tấn xăng, diesel).
Trong thời gian vừa qua, để phục vụ cho các triển lãm Auto Petro 2002,
2003 và 2004, Viện dầu khí đã chuyển đổi 02 động cơ diesel cỡ nhỏ và vừa sử dụng
LPG dạng đơn nhiên liệu. Nhưng việc sử dụng dạng đơn nhiên liệu LPG cũng chưa
thực sự khả thi vì chi phí đầu tư ban đầu lớn do phải thay đổi hoàn toàn kết cấu của
động cơ diesel (hiện nay trên thế giới chỉ có Australia là nước đầu tiên thay đổi toàn
bộ động cơ diesel của xe tải nặng sang sử dùng 100% nhiên liệu LPG). Để tiết kiệm
chi phí đầu tư ban đầu thì việc sử dụng công nghệ “chuyển đổi động cơ diesel từ
dạng sử dụng đơn nhiên liệu diesel sang sử dụng dạng lưỡng nhiên liệu
diesel/LPG” mà không cần thay đổi kết cấu của động cơ là phù hợp hơn cả và cũng
là công nghệ đang được nghiên cứu thử nghiệm ở các nước phát triển trên thế giới.
Việc chuyển đổi thành công này có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, kỹ thuật và đảm bảo
tính khả thi cao.
3
Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tác động của việc sử dụng lượng nhiên liệu
diesel-khí hóa lỏng (LPG) đến tính năng và phát thải của động cơ diesel truyền
thống” đáp ứng được tính khoa học và thực tiễn. Nó xem xét đến các ảnh hưởng
Ngoài ra các thử nghiệm đối chứng còn được tiến hành xen kẽ với quá trình thử
nghiệm bền động cơ.
* Thử nghiệm đối chứng
Thử nghiệm đối chứng động cơ chạy lưỡng nhiên liệu LPG/diesel với các tỉ
lệ LPG đưa vào khác nhau so với động cơ chạy nhiên liệu diesel từ đó đánh giá tính
năng hoạt động và phát thải của động cơ.
* Thử nghiệm bền:
Thử nghiệm bền được thực hiện trên động cơ diesel D1146TI hoàn toàn mới.
Tổng thời gian thử nghiệm bền đối với động cơ là 100 giờ chạy trên băng thử.
Trước và sau mỗi 50 giờ thử nghiệm bền cần tiến hành đo đạc công suất, mô men,
suất tiêu thụ nhiên liệu, nhiệt độ khí thải, lọt khí cácte trên đường đặc tính; ngoài ra
lấy mẫu dầu bôi trơn, phân tích đánh giá trước và sau 50h, 70h và 100h chạy ổn
định (việc lấy mẫu dầu được được thực hiện ngay khi dừng máy).
5
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LPG VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LPG CHO
GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1. Tổng quan về LPG
LPG là tên viết tắt của khí dầu mỏ hoá lỏng LPG (Liquefied Petroleum Gas),
là hỗn hợp hydrocarcbone với thành phần chính là Butan (C
4
H
10
), Propan (C
3
H
8
)
chiếm 99%. Tính chất cơ bản của các thành phần hóa học có trong LPG được thể
hiện như trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Tính chất cơ bản của các thành phần hóa học có trong LPG
2
17-21,5 5-6,25
8 Ẩn nhiệt hóa hơi kcal/kg 85,5 89
9 Không khí cần để đốt cháy kg/kgLPG 25,6 15,3
10 Nhiệt trị thấp Q
H
kJ/kg
46.340 45.500
11 Số Octan (RON/MON) - 92/89 112/96
LPG được hoá lỏng dưới áp suất cao để thuận lợi cho tồn chứa và vận
chuyển. Với nhiều đặc tính quý báu, LPG đang được sử dụng và ứng dụng rộng rãi
trong nhiều ngành nhiều lĩnh vực đã và đang mang lại những hiệu quả thuyết phục.
Ứng dụng của LPG có thể chia theo mục đích sử dụng thành các nhánh chính:
− Sử dụng LPG như là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp.
− Sử dụng LPG như là nguồn nhiên liệu cho các quá trình đốt sinh
nhiệt.
6
− Sử dụng LPG trong nông nghiệp.
− Sử dụng LPG như là nguồn nhiên liệu cho các phương tiện vận tải,
các thiết bị chuyển nhiệt năng thành cơ năng.
* LPG sử dụng làm nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
Với đặc tính không màu, không mùi, không độc hại nên LPG là nguyên liệu
tốt cho các quá trình chế biến hoá học, làm chất mang
+ Trong công nghiệp hoá chất, LPG được sử dụng để chế biến tạo các hợp
chất hoá học như các hợp chất cao phân tử, nhựa
+ Trong nông nghiệp, LPG cũng được sử dụng để chế biến phân bón như
phân đạm, ure Ngoài ra LPG còn được sử dụng để tổng hợp thuốc trừ
sâu
+ Trong công nghiệp mỹ phẩm, LPG được sử dụng để tổng hợp các hợp
chất thơm, khí mang trong nước hoa, kem bôi da
Một ứng dụng khá quan trọng hiện nay là sử dụng LPG làm nhiên liệu cho
các phương tiện giao thông. Với đặc tính cháy hết, chỉ số Octan cao, không gây ô
nhiễm môi trường, trên thế giới LPG đã và đang được triển khai ứng dụng vào lĩnh
vực này và theo đánh giá, LPG sẽ trở thành nguồn nhiên liệu thay thế trong tương
lai.
Những ứng dụng của LPG vào nhiều lĩnh vực mang lại hiệu quả cao cho các
ngành kinh tế cho thấy một triển vọng phát triển lớn về sử dụng LPG trong giai
đoạn hiện nay và trong tương lai. Việc sử dụng LPG sẽ giúp chúng ta hạn chế được
nguy cơ ô nhiễm môi trường và đảm bảo khả năng phát triển bền vững.
8
Nguồn LPG chủ yếu là sản phẩm phụ của nhà máy chế biến dầu mỏ và nhà
máy tách khí. LPG được hoá lỏng dưới áp suất nhất định do đó có thể tồn chứa vận
chuyển dưới dạng lỏng nhưng ở áp suất khí quyển LPG hoá hơi được sử dụng dưới
dạng khí. LPG thương phẩm có thành phần 70/30% đến 50/50% Butan/Propan
không màu, không mùi và không vị. Tuy nhiên trong thực tế, trong quá trình chế
biến được pha thêm Ethyl Mecaptan có mùi đặc trưng để dễ phát hiện rò rỉ. Nồng
độ mùi phải đủ để có thể nhận ra trước khi chúng tạo thành hỗn hợp nổ. LPG không
độc, không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến thực phẩm và sức khỏe
con người. LPG nặng hơn không khí (1,5 ÷ 2 lần so với không khí), nhẹ hơn nước
(0,5 lần so với nước) vì vậy nếu thoát ra ngoài hơi gas sẽ lan truyền ở mặt đất và tập
trung ở những phần thấp nhất như rãnh, hố ga tuy nhiên sẽ tản mát ngay khi có
gió. LPG được tồn chứa trong các loại bể chịu áp lực khác nhau, tồn tại ở trạng thái
bão hoà. LPG lỏng ở dưới, hơi gas ở phía trên theo qui định an toàn các loại bồn,
bình chứa LPG chỉ được phép nhập 80÷85% thể tích, phần còn lại đảm bảo sự giãn
nở nhiệt của LPG lỏng. Đặc trưng lớn nhất của LPG khác với các loại khí khác là
chúng tồn chứa ở dạng bão hoà nên với thành phần không đổi (70% Butan - 30%
Propan) áp suất bão hoà trong bể chứa cũng như trong hệ thống ống không phụ
thuộc vào lượng LPG bên trong mà hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ bên ngoài.
Nếu gas lỏng rò rỉ ra ngoài thì tại chỗ rò có nhiệt độ thấp và xuất hiện tuyết. LPG có
tỷ lệ giãn nở lớn: một đơn vị thể tích LPG lỏng khi bay hơi tạo ra 250 đơn vị thể
kéo dài thời gian sử dụng dầu nhờn, tăng tuổi thọ hệ thống đánh lửa và tuổi thọ
động cơ. Giảm quá trình tạo cặn cacbon do đó giảm mức độ kẹt xước, mài mòn
đồng thời không làm mất phẩm chất dầu bôi trơn. LPG không làm loãng màng dầu
nhờn mỏng trong xylanh, điều này rất có ý nghĩa khi khởi động động cơ.
1.2. Tình hình sản xuất và sử dụng LPG trên thế giới
1.2.1. Tình hình sản xuất LPG
Từ thập niên 90 đến nay, lượng LPG sản xuất trên toàn cầu liên tục tăng
(trung bình 5-10%/năm) và dự đoán vẫn tiếp tục tăng trong những năm tới [11][12]
[17].
Tổng nguồn cung LPG trên thế giới năm 2008 đạt 239 triệu tấn từ mức 198
triệu tấn năm 2000. Tốc độ tăng trưởng nguồn cung LPG thế giới tăng khoảng
2,4%/năm trong giai đoạn 2000-2008. Dự báo năm 2010 nguồn cung thế giới đạt
260,3 triệu tấn, đến năm 2015 đạt 291,7 triệu tấn theo nhận định của Purvin&Gertz.
Trong đó, 60% LPG được sản xuất từ quá trình xử lý; 39,5% sản xuất từ các nhà
máy lọc dầu và còn lại 0,5% từ các nguồn khác.
Bắc Á là khu vực sản xuất LPG lớn thứ hai trên thế giới trong giai đoạn
2000-2008, sau Trung Đông. Hơn 90% sản lượng tăng lên là từ các nhà máy lọc dầu
ở Trung Quốc. Hầu hết sản lượng LPG của khu vực này tới từ các nhà máy lọc hóa
dầu, số ít là xử lý khí và duy nhất cho tới nay ở Trung Quốc có nhà máy hóa khí từ
10
than. Phần còn lại tăng lên trong sản lượng của khu vực là từ các nhà máy lọc dầu ở
Hàn Quốc và Đài Loan. Sản lượng LPG của Nhật Bản giảm nhẹ trong suốt giai
đoạn này. Dự báo năm 2010, Bắc Á cung cấp khoảng 25,8 triệu tấn LPG, đến 2015
khoảng 31,1 triệu tấn LPG.
Hình 1.1. Sản lượng (triệu tấn) LPG trên toàn cầu [11][12][17].
Trung Đông cung cấp 1/5 tổng lượng LPG trên thế giới trong năm 2008 và
tăng trung bình 4,1%/năm từ năm 2000 mặc dù sản lượng của khu vực này giảm
trong năm 2001 và 2002. Tổng cung khu vực này dự báo tăng đến 58,1 triệu tấn cho
năm 2010 và 69,7 triệu tấn cho năm 2015. Năm 2008, khoảng 66% sản lượng LPG
Trung Đông là từ xử lý khí đồng hành, 24% là từ quá trình tinh khiết khí.
tỷ trọng LPG sử dụng cho công nghiệp, hoá dầu, giao thông vận tải đang tăng dần.
Trên toàn thế giới hiện có trên 7 triệu xe sử dụng LPG tập trung tại 38 nước
và chủ yếu tại các vùng kinh tế phát triển do tại đây có mức sống cao và vấn đề ô
nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc được chính phủ quan tâm như là mặt trái
của sự phát triển kinh tế. Dưới đây là các thông tin khái quát về thị trường Autogas
(ôtô sử dụng nhiên liệu khí hoá lỏng) tại một số quốc gia hiện đang có mức tăng
trưởng thị trường Autogas nhanh nhất trên thế giới hiện nay [3]:
− Italy: Là quốc gia có mức tiêu thụ LPG cho Autogas lớn nhất với lượng tiêu
dùng hàng năm đạt tới khoảng 1,3 triệu tấn. Hiện nay số lượng xe dùng LPG tại
Italy là 1,234 triệu xe trong tổng số 32,969 triệu xe vận tải. Tuy chỉ chiếm 4%
trong tổng số xe lưu hành nhưng trong thời gian tới tỷ lệ này sẽ tăng với tốc độ
nhanh chóng do các chính sách hỗ trợ hiện tại của Chính phủ nhằm giảm mức độ ô
nhiễm môi trường. Trong năm 1999, 175.000 xe sử dụng xăng dầu đã được lắp bộ
phận chuyển đổi để sử dụng LPG. Nhằm thúc đẩy sự chuyển đổi này hiện chính phủ
Italia đang áp dụng các biện pháp khuyến khích như: thanh toán từ quỹ của chính
phủ cho việc chuyển đổi với số tiền 377 USD/chiếc, giảm lệ phí giao thông đối với
các xe chạy bằng LPG, hạn chế việc lưu hành các xe chạy bằng xăng dầu tại một số
khu vực có mật độ ô nhiễm cao.
− Anh: Thị trường Autogas tại nước Anh được đánh giá là một trong những thị
trường tiềm năng nhất với mức tăng trưởng đạt tới 500%. Nếu đầu năm 1999, tại
13
Anh mới chỉ có 3500 xe thì đến tháng 05/2000 con số này đã lên tới 20.000 xe và
đến cuối năm 2000 theo ước tính đạt 30.000 xe, tới năm 2007 con số này đã lên tới
là 150.000 xe. Để đạt được tốc độ này, chính phủ Anh đã có các tác động đáng kể
thông qua các chính sách như: hình thành quĩ hỗ trợ chuyển đổi từ xe chạy xăng,
dầu sang chạy LPG (năm 1999, quỹ này là 3,6 triệu bảng và năm 2000 là 10 triệu
bảng), giảm thuế đối với LPG dùng cho ô tô (mức chênh lệch so với thuế đánh vào
các nhiên liệu khác là 0,3 USD/lít), hỗ trợ mở rộng hệ thống các trạm bơm LPG cho
xe ô tô (vào đầu năm 1999, trên toàn quốc chỉ có 150 trạm nhưng đến cuối tháng
5/2000 con số này đó là 370 trạm và đến nay là khoảng 1000 trạm).
− Hàn Quốc: Do giá bán LPG chạy xe chỉ bằng 1/3 giá xăng, Autogas được sử
dụng rất rộng rãi cho xe taxi, bus và xe tải nên tốc độ tăng trưởng rất nhanh. Sản
lượng butan cho chạy xe khoảng 1,5 triệu tấn/năm.
− Hồng Kông: Hiện nay, 18.000 xe taxi đang chạy bằng LPG tại Hồng Kông.
Với các chương trình xúc tiến sử dụng Autogas, số lượng xe sử dụng LPG sẽ có thể
tăng gấp đôi vào năm nay. Các biện pháp bao gồm : tăng thuế đánh vào Diesel, hỗ
trợ 5000 đô la Hồng Kông cho mỗi xe chuyển đổi sang sử dụng LPG, mở rộng
mạng lưới trạm nạp LPG (năm 2000 mới chỉ có 4 trạm nạp) lên tới hơn 500 trạm,
không thu phần phụ trội (premium) trên giá đất đối với khu vực được sử dụng để
xây các trạm nạp LPG, chuyển đổi 6000 xe bus hiện tại sang sử dụng LPG. Hiện
nhu cầu LPG dùng cho Autogas là 140.000 tấn/năm. Với các chính sách hỗ trợ trên
đây năm nay LPG dùng trong lĩnh vực autogas tại Hồng Kông ước tính sẽ đạt
280.000 tấn.
− Ấn Độ: Tháng 08/2000, Chính phủ đó chính thức cho phép lưu hành xe chạy
LPG. Hiện tại, hai thành phố là Bombay và New Delhi được ưu tiên phát triển đội
xe sử dụng LPG. Tại Bombay, hiện có 1/5 trong tổng số 55.000 xe taxi hiện đó
được lắp đặt bộ phận chuyển đổi dùng LPG. Chi phí cho một bộ phận chuyển đổi
khoảng 12.000 Rupees (tương đương 260 USD).
15
− Philippin: Tháng 10 năm 2002 tại thủ đô Manila của Philippin đã có trên
3000 xe ô tô chuyển sang chạy LPG. Hiện nay Philippin cũng đang tích cực triển
khai công nghệ chuyển đổi chạy lưỡng nhiên liệu LPG/diesel với tỷ lệ 30/70 cho
các xe sử dụng động cơ diesel hoạt động ở thủ đô.
Bảng 1.2. Thị trường LPG-Autogas năm 2007 [19]
Quốc gia
Lượng LPG tiêu thụ
(tấn)
Số lượng phương tiện
chạy LPG (chiếc)
Số lượng trạm
công ty tham gia kinh doanh là Elfgas, Petrolimex và Saigon Petro với tổng mức
tiêu thụ mới ở mức 5.000-8.000 tấn/năm.
Nhu cầu tiêu thụ gas ở Việt Nam liên tục tăng cao trong suốt 10 năm qua và
sẽ tiếp tục tăng trong 5 năm tới.
Hiện tại thị trường tiêu thụ LPG ở Việt nam có cơ cấu như sau: khu vực dân
dụng chiếm khoảng 60% tổng nhu cầu; khu vực thương mại chiếm khoảng 25% và
khu vực công nghiệp chiếm khoảng 15% tổng nhu cầu.
Bảng 1.3. Sản lượng tiêu thụ LPG qua các năm [3]
Đơn vị: 1000 tấn
Năm 1994 1995 1996 1999 2000 2002 2003 2004 2006 2008
Sản lượng
tiêu thụ
16,4 50 91 225 320 500 650 720 850 >1000
Tiêu thụ gas tăng mạnh đã thu hút nhiều hãng nổi tiếng trên thế giới như BP,
Shell, Total, PTT, Petronas nhảy vào thị trường Việt Nam và cạnh tranh quyết
liệt. Thời kỳ đầu, gas bị đánh thuế nhập khẩu khá cao là 30%, sau đó mức thuế nhập
khẩu gas giảm dần, hiện nay còn 0% (kể từ tháng 11/2007).
Theo số liệu thống kê, thị trường gas Việt Nam có tốc độ tăng trưởng
15%/năm trong vòng 10 năm qua và được đánh giá là tăng trưởng cao nhất trong
khu vực. Theo dự báo của Petrolimex, nhu cầu tiêu thụ gas ở Việt Nam trong 5 năm
tới sẽ tăng 9-12%/năm do những nguyên nhân sau:
17
− Gas là chất đốt sạch, cho nhiệt độ cao, năng suất tỏa nhiệt lớn, không gây ô
nhiễm môi trường, không gây nhiễm bẩn thực phẩm ngay cả khi tiếp xúc trực tiếp,
độ an toàn cao do được hóa lỏng dưới áp suất thấp, không ăn mòn, tiện lợi trong
việc vận chuyển, tồn trữ và sử dụng.
− Gas đang được sử dụng rộng rãi trong dân dụng, thương mại, công nghiệp và
đặc biệt trong giao thông vận tải, gas được dùng thay thế xăng dầu và nhiều loại
bình nước nóng hiện nay đã chuyển sang sử dụng gas thay cho điện vì loại bình này
vừa tiết kiệm năng lượng vừa làm nóng nhanh và có độ an toàn cao.
một trong những giải pháp chắc chắn.
− Thị trường LPG hiện đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ với sự tham
gia của khoảng 100 Công ty, trong đó có nhiều Công ty hàng đầu trên thế giới. Sự
cạnh tranh sẽ buộc các Công ty phải tìm ra các khúc tuyến thị trường còn bỏ trống,
đặc biệt là trong điều kiện các Công ty này đã có kinh nghiệm phát triển thị trường
Autogas trên thế giới.
− Số lượng xe hơi ngày càng tăng nhanh đặc biệt ở các đô thị lớn.
− Vấn đề kỹ thuật của chuyển đổi từ xe chạy xăng dầu sang dùng LPG không
phức tạp với chi phí không cao.
− Trong những năm gần đây, Chính phủ đã bắt đầu quan tâm tới vấn đề
Autogas, thể hiện bằng việc các hội thảo và hội nghị về vấn đề này diễn ra thường
xuyên hơn. Qua các hội thảo, hội nghị này, Chính phủ và các cơ quan hữu quan đã
nhận được các ý kiến, kiến nghị hữu ích để đưa ra các chính sách phù hợp, khuyến
khích và hỗ trợ phát triển thị trường Autogas tại Việt Nam.
Qua các số liệu trên chúng ta có thể thấy được ở nước ta mới bắt đầu việc sử
dụng công nghệ chuyển đổi sử dụng nhiên liệu LPG thay nhiên liệu truyền thống
cho một số xe taxi ở Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh.
19
Ngoài ra, tạp chí Khoa học Công nghệ - Hàng Hải, số 21 – 01/2010 có đăng
bài “Nghiên cứu sử dụng nhiên liệu thay thế trên động cơ diesel” (PGS.TS Trần
Thanh Hải Tùng, PGS.TS Lê Anh Tuấn, GS.TS Phạm Minh Tuấn). Bài báo tổng
hợp kết quả nghiên cứu của việc sử dụng lưỡng nhiên liệu LPG-diesel cho động cơ
diesel trang bị trên xe việt dã 2 cầu, công suất 85kW và bước đầu đã thu được một
số kết quả nhất định.
20
Chương 2: LẮP ĐẶT HỆ THỐNG CUNG CẤP LPG LÊN ĐỘNG CƠ
D1146TI
2.1. Động cơ D1146TI
Hình 2.1. Động cơ D1146TI
Động cơ diesel D1146TI do hãng DAEWOO (Hàn Quốc) sản xuất, thường
0
36
0
Xupáp thải 46
0
14
0
− Hệ thống nhiên liệu (fuel system):
+ Bơm cao áp: Bơm dãy kiểu Bosch loại “AD”
+ Bộ điều tốc: Kiểu RLD
+ Bơm cấp nhiên liệu: Kiểu cơ khí
+ Vòi phun: Kiểu vòi phun nhiều lỗ
+ Lọc nhiên liệu: Toàn phần, kiểu Catridge
+ Loại nhiên liệu: dầu diesel
− Hệ thống bôi trơn (lubrication system):
+ Phương pháp bôi trơn: Kiểu bôi trơn cưỡng bức toàn phần
+ Bơm dầu: Bơm bánh răng dẫn dộng từ trục khuỷu
22
+ Lọc dầu: Toàn phần, kiểu Catridge
+ Lượng dầu bôi trơn: Mức cao nhất 13 lít (3,43 gal.)
Mức thấp nhất 10,5 lít (2,77 gal.)
+ Độ nghiêng cho phép: 25
0
về mỗi phía
+ Loại dầu: Theo sổ tay vận hành
− Hệ thống làm mát (cooling system):
+ Phương pháp làm mát làm mát bằng nước, cưỡng bức một vòng kín
+ Dung tích nước: 11 lít (2,91 gal.) (chỉ trong động cơ)
+ Áp suất hệ thống: Max 0,9 kg/cm
2
Hệ thống thải: lớn nhất là 1000mmH
2
O
2.2. Các thiết bị chính hệ thống cung cấp LPG cho động cơ
23
Bộ thiết bị của hệ thống cung cấp LPG được nhập khẩu từ Australia, bao
gồm các thiết bị như trên hình 2.2.
``
Hình 2.2. Các thiết bị chính của hệ thống cung cấp LPG
1.Giắc kết nối – cầu chì; 2.Modun nắn dòng; 3.Vòi phun; 4.Đầu nối LPG; 5.Bộ hóa hơi
LPG; 6.ECU LPG; 7.Van điện; 8.Phụ tùng kẹp chặt; 9.Công tắc khởi động từ xa; 10.Cảm
biến kích nổ; 11.Hộp điều khiển ON/OFF
2.2.1. Bộ hoá hơi (bộ chuyển đổi)
Hình 2.3. Bộ hóa hơi LPG
Nước vào
Nước ra
LPG vào
(lỏng)
LPG ra
(hơi)
MAP
port
Bộ lọc
LPG
24
1
2
3
4
5
nạp của động cơ được thực hiện bằng cách điều chỉnh áp suất LPG dạng hơi ra khỏi
25