BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRƯƠNG THỊ BÍCH HỒNG
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, ƯƠNG
NÂNG CẤP TÔM HÙM BÔNG (Panulirus
ornatus Fabricius, 1798) VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG
NGUỒN LỢI TÔM HÙM GIỐNG Ở
VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, năm 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRƯƠNG THỊ BÍCH HỒNG
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, ƯƠNG NÂNG CẤP
TÔM HÙM BÔNG (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) VÀ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG NGUỒN
LỢI TÔM HÙM GIỐNG Ở VÙNG BIỂN KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành
Mã số
Người hướng dẫn khoa học
: Nuôi trồng Thủy sản
: 60 62 70
: PGS – TS. Nguyễn Đình Mão
Nha Trang, năm 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ một công trình khoa học nào.
Tác giả
Lời cảm ơn………………………………… ……………………………….ii
Mục Lục…………………………………………………………………… iii
Danh mục các bảng………………………………………………………… Vi
Danh mục hình ………………………………………………… Vii
Danh mục các chữ viết tắt Viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Đặc điểm phân bố của tôm hùm 3
1.1.1 Phân bố của tôm hùm trên thế giới 4
1.1.2 Phân bố của tôm hùm ở Viêt Nam 4
1.2 Tình hình khai thác và nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình khai thác và nuôi tôm hùm trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình khai thác và nuôi tôm hùm ở Việt Nam 9
1.3 Nghiên cứu về khai thác và ương nâng cấp tôm hùm giống ở Việt Nam 10
1.3.1 Sự hình thành và phát triển nghề khai thác tôm giống 10
1.3.2 Tình hình ương nâng cấp tôm hùm giống 11
1.3.3 Những nghiên cứu về hiện trạng khai thác tôm hùm giống 12
1.4 Điều kiện tự nhiên ở vùng biển Khánh Hòa có ảnh hưởng tới nghề khai
thác và ương nâng cấp tôm hùm giống 14
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 14
1.4.1.1 Vị trí địa lý 14
1.4.1.2 Khí hậu 14
1.4.1.3 Địa hình đáy biển 15
1.4.1.4 Đặc điểm thủy văn 15
1.4.2 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới hoạt động khai thác và ương
tôm hùm giống 16
1.4.2.1 Thuận lợi 16
1.4.2.2 Khó khăn 17
iii
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.1.6.2 Số lượng con giống khai thác được trên 100 bẫy 42
3.1.6.3 Lặn Bắt 43
iv
3.2 Hiện trạng ương nâng cấp tôm hùm giống 44
3.2.1. Những thông tin về chủ hộ ương tôm 44
3.2.1.1 Cấu trúc tuổi của chủ hộ 44
3.2.1.2 Trình độ học vấn của người ương nâng cấp tôm hùm giống 45
3.2.1.3 Trình độ chuyên môn của người ương nâng cấp tôm hùm giống 45
3.2.1.4 Thời gian làm nghề ương nâng cấp tôm hùm giống 46
3.2.2. Hiện trạng ương nâng cấp tôm hùm giống 47
3.2.2.1 Địa điểm ương nâng cấp 47
3.2.2.2 Hệ thống lồng ương 48
3.2.2.3 Tôm giống 50
3.2.2.4 Mật độ thả 52
3.2.2.5 Mùa vụ và thời gian ương nâng cấp 53
3.2.2.6 Quản lý và chăm sóc tôm ương 53
3.2.2.7 Bệnh và cách phòng trị bệnh cho tôm giống 56
3.2.2.8 Tỷ lệ sống của tôm giống 57
3.3 Đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý nguồn tôm hùm giống 59
3.3.1 Sự tác động của khai thác giống đến nguồn lợi tôm hùm 59
3.3.1.1 Hình thức khai thác 59
3.3.1.2 Cường độ khai thác 60
3.3.1.3 Thành phần loài và kích cỡ tôm khai thác 60
3.3.2 Sự tác động của quá trình ương nâng cấp đến nguồn lợi tôm hùm 61
3.3.3 Đề xuất giải pháp sử dụng bền vững nguồn giống tôm hùm 62
3.3.3.1 Giải pháp về kỹ thuật 62
3.3.3.2 Giải pháp về quản lý 64
Chương 4 KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
I Kết luận 66
1. Hiện trạng khai thác 66
Bảng 3.11 Khó khăn trong quá trình mua giống ………………….…… 51
Bảng 3.12 Mật độ thả ương nâng cấp tôm hùm giống tại Khánh Hòa …… 52
Bảng 3.13 Số lần cho ăn trong ngày ……………………….……………… 54
Bảng 3.14 Thời điểm bắt đầu cho ăn sau khi thả ương………………….… 55
Bảng 3.15 Tần suất gặp các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ sống của con giống 58
Bảng 3.16 Tỷ lệ sống của tôm ương từ nguồn giống khác nhau………… 58
vi
DANH MỤC HÌNH
Tên hình Trang
Hình 1.1: Sản lượng tôm hùm thương phẩm của một số nước trên thế giới từ
1992 – 2004…………………………………………………………….… 6
Hình 1.2: Sản lượng khai thác của một số loài tôm hùm chính từ 1982-2006 7
Hình 2.1: Vị trí điều tra …………………… ………………………….… 19
Hình 2.2: Sơ đồ khối hoạt động điều tra khai thác tôm hùm giống ……… 22
Hình 2.3: Sơ đồ khối hoạt động điều tra ương nâng cấp tôm hùm giống……23
Hình 3.1: Trình độ văn hóa của chủ hộ khai thác tôm giống… ………… 26
Hình 3.2: Tàu, mành sử dụng cho khai thác tôm hùm giống …………….….31
Hình 3. 3: Các loại bẫy: A bẫy mút, B bẫy đá, C bẫy lưới trủ túm, D bẫy lưới
trủ mành 34
Hình 3.4: Mùa vụ khai thác tôm giống theo các hình thức khai thác ……… 37
Hình 3.5: A Cỡ tôm “trắng”, B cỡ tôm đen “tôm bọ cạp” …….…………….40
Hình 3.6: Bình quân số lượng tôm giống khai thác/tàu tại các vùng biển khác
nhau từ năm 2007 - 2010 42
Hình 3.7: Trình độ học vấn của chủ hộ ương nâng cấp tôm hùm giống 45
Hình 3.8: Trình độ chuyên môn của hộ ương nâng cấp tôm hùm giống … 46
Hình 3.9: Số năm kinh nghiệm ương nâng cấp tôm hùm giống… …………47
Hình 3.10: Bè ương tôm giống (A), lồng tròn treo trên bè ương (B)……… 50
Hình 3.11: Mùa vụ ương nâng cấp tôm hùm giống tại Khánh Hòa năm 2010 53
Hình 3.12: Chuẩn bị thức ăn (A), chia thức ăn cho từng lồng ương (B)… 54
Hình 3.13: Vệ sinh lồng ương (A) và vệ sinh giai ương (B)……………. … 56
thương phẩm cũng giảm đi nhiều [26]. Việc khai thác quá mức và không hợp lý
đã làm cho nguồn lợi tôm hùm suy giảm nghiêm trọng.
Kích cỡ của tôm hùm khai thác ngoài tự nhiên vào những năm cuối thế
kỷ XX nhỏ hơn nhiều so với cỡ tôm xuất khẩu. Tôm khai thác được phải bán
với giá thấp, nhiều ngư dân đã thả tôm vào lồng nuôi đạt kích thước xuất khẩu
mới bán. Do vậy, nghề nuôi tôm hùm lồng được hình thành và phát triển đến
ngày nay.
Kích thước con giống tôm hùm đưa vào nuôi lồng ngày càng nhỏ đi.
Ban đầu, khi nghề nuôi tôm hùm lồng mới hình thành, ngư dân chỉ thả nuôi
con giống có kích thước trung bình hoặc nhỏ hơn kích thước thương phẩm vài
trăm gram. Nhưng từ năm 2000, phong trào nuôi tôm hùm lồng phát triển
mạnh mẽ, nhu cầu con giống tăng cao, ngư dân khai thác cả tôm giống có kích
thước nhỏ (ấu trùng và hậu ấu Puerulus) đưa vào nuôi. Tuy nhiên, tỷ lệ sống
của tôm giống từ giai đoạn ấu trùng Puerulus lên thương phẩm rất thấp chỉ đạt
1
khoảng 40-50%. Để tăng tỷ lệ sống của tôm hùm con giai đoạn ấu trùng
Puerulus và hậu ấu trùng nhiều ngư dân đã đưa tôm giống vào ương. Từ đó đã
hình thành nên các vùng ương nâng cấp tôm hùm con.
Nguồn giống phục vụ cho ương nâng cấp và nuôi thương phẩm tôm
hùm phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Tôm hùm giống ngoài tự nhiên ngày
càng bị đánh bắt triệt để bằng nhiều loại ngư cụ và phương thức khai thác khác
nhau. Nguy cơ đe dọa nguồn lợi tôm hùm cũng như môi trường sống của
chúng là điều không thể tránh khỏi. Do đó, tìm hiểu về hiện trạng khai thác và
ương nâng cấp tôm hùm giống là yêu cầu của thực tiễn.
Xuất phát từ những tính chất trên và được sự đồng ý của Hiệu trưởng
Trường Đại học Nha Trang, chúng tôi thực hiện đề tài ”Hiện trạng khai thác,
ương nâng cấp tôm hùm bông (Panulirus ornatus, Fabricius, 1798) và đề
xuất giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi tôm hùm giống ở vùng biển
Khánh Hòa” với các mục tiêu và nội dung sau:
Mục tiêu của đề tài:
của sóng, gió, dòng chảy. Hầu như suốt thời kỳ này, chúng luôn di chuyển và
hoàn toàn phụ thuộc vào các điều kiện thủy văn môi trường biển khơi [6].
+ Sau khi ấu trùng Phyllosoma trải qua 12-15 lần lột xác biến thái,
chúng chuyển sang giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus và bắt đầu sống định cư.
Môi trường phân bố của ấu trùng Puerulus phụ thuộc vào điều kiện sinh thái
của các vũng, vịnh hoặc đầm. Tôm thường phân bố ở những vùng biển ít sóng
gió, nguồn thức ăn phong phú . Giai đoạn hậu ấu trùng Puerulus có thể bơi chủ
động. Chúng thích bám trên rong, vách đá hoặc các giá thể[5, 6].
+ Sau khoảng 4 lần lột xác và biến thái, ấu trùng Puerulus trở thành
tôm hùm con (juvenile) có màu sắc và hình thái giống tôm trưởng thành.
Chúng sống định cư trong các vũng, vịnh, đầm phá ven biển. Tập tính sống
bầy đàn thể hiện rất rõ. Chúng thường nấp trong các khe, hốc đá hoặc bám
chắc vào những hõm, lỗ nhỏ của ghềnh đá [5, 6].
+ Tôm trưởng thành có xu hướng di chuyển ra ngoài khơi, nơi có
điều kiện sinh thái thuận lợi cho sự phát triển và sinh sản của loài. Cá thể
trưởng thành thường ẩn mình cả ngày trong rạn san hô hoặc hốc đá. Chúng chỉ
bò ra ngoài để kiếm mồi ở gần chỗ chú ẩn như rạn san hô và thảm cỏ biển vào
buổi tối [6, 15].
3
1.1.1 Phân bố của tôm hùm trên thế giới
Họ tôm hùm có trên 47 loài thuộc 8 giống: Linuparus, Justitia, Jasus,
Palinurus,Palinustus, Puerulus, Projasus, Palinustrus. Trong 47 loài được xác
định, có khoảng 33 loài đem lại giá trị kinh tế cao cho ngành khai thác và nuôi
trồng thủy sản. Hầu hết các giống có thành phần loài phong phú (giống
Panulirus có 22 loài, giống Jasus có 8 loài; Palinurus có 5 loài) đều thuộc họ
tôm hùm gai (Palinuridae) [25].
Tôm hùm gai phân bố ở cả vùng biển nhiệt đới và ôn đới. Tuy nhiên, ở
vùng biển nhiệt đới có số lượng loài phân bố nhiều nhất và sản lượng khai thác
được cũng cao nhất [25].
Môi trường sống của tôm hùm từ vùng triều tới vùng biển có độ sâu
tích định lượng các chỉ tiêu nhiệt độ, độ mặn của Võ Văn Lành có thể phân
chia vùng phân bố của tôm hùm gai ở vùng biển miền trung thành 3 vùng
nhỏ [6, 26]:
Vùng 1: Bao gồm biển ven bờ mũi Ròn (phía bắc Quảng Bình) đến mũi
An Lương (phía bắc Quảng Ngãi). Đây là vùng rộng nhất, đáy biển có độ dốc
thấp và ít bị phân cắt. Có khoảng gần 50.000 ha nền đáy rạn ghềnh và rạn ngầm
là nơi trú ẩn tốt của tôm hùm. Nhiệt độ và độ mặn trung bình đo ở độ sâu 10 m là
23,5-27,0oC và 29,5 -31.0 ‰ vào mùa hè, 18,0-21,5oC và 33,9-34,0 ‰ vào mùa
đông. Có 4 loài tôm hùm P. stimpsoni, P.homarus, P.longipes và P. ornatus phân
bố ở vùng biển này. Trong đó, loài P. stimpsoni là loài cận nhiệt đới chiếm ư thế,
với khoảng 85% sản lượng khai thác, sản lượng khai thác của 3 loài còn lại chỉ
chiếm khoảng 15% [6, 26].
Vùng 2: Từ mũi An Lương (Quảng Ngãi) đến mũi Sừng Trâu (Ninh
Thuận). Đây là vùng biển có phần thềm lục địa nhỏ nhất và địa hình đáy biển
phức tạp hơn so với các vùng biển khác. Diện tích nền đáy rạn ghềnh và rạn
ngầm nơi trú ẩn của các loài sống đáy ở vùng này là thấp nhất (30.000 ha).
Nhưng đây là vùng có nhiều loài tôm hùm phân bố nhất (6 loài) và sản lượng
khai thác đạt khoảng 1/3 tổng sản lượng ở Miền Trung. Trong đó tôm hùm sỏi
có tỷ lệ ít nhất, chiếm khoảng 10% sản lượng khai thác [6, 26].
Vùng 3: Từ Sừng Trâu (Ninh Thuận) đến Phan Thiết (Bình Thuận).
Vùng biển này được chia làm hai tiểu vùng nhỏ: Vùng biển sâu gần bờ và
vùng ngoài khơi quanh các đảo. Diện tích nền đáy rạn ghềnh và rạn ngầm ở
5
vùng này cao nhất (70.000 ha) so với vùng 1 và vùng 2. Vùng 3 không bị ảnh
hưởng bởi nhiệt độ thấp vào mùa đông, nhiệt độ trung bình đo ở độ sâu 10 m
trong năm dao động từ 25,5 -29,0oC. Tôm hùm bông (P. ornatus) là loài chiếm
ưu thế với khoảng 80% sản lượng tôm hùm khai thác được toàn vùng và đạt ¼
sản lượng khai thác tôm hùm ở biển Miền Trung. Tiếp đến là tôm hùm đá, tôm
hùm đỏ, còn tôm hùm sỏi bắt gặp rất ít chỉ khoảng 5% [6, 26].
1.2 Tình hình khai thác và nuôi tôm hùm trên thế giới và Việt Nam
29,0%, giống Nephrops chiếm 28,3%, giống Jasus là 4,3%, giống Palinurus là
2,0% tổng sản lượng tôm hùm khai thác trên toàn thế giới [25].
Cũng theo thống kê của FAO (1997), những loài tôm hùm có sản lượng
khai thác cao nhất từ năm 1991 đến 1995 thuộc nhóm tôm hùm gai phân bố ở
vịnh Caribê, loài Panulirus argus chiếm 50,8%, tiếp đến là P.cygnus chiếm
15,3% và Jasus verreauxi đạt 4,9 % [25].
Tôm hùm trên thế giới được chia thành một số nhóm chính bao gồm:
tôm hùm Mỹ (American lobster), tôm hùm hùm gai (Spiny lobter), tôm hùm
Châu Âu (European lobter), tôm hùm đá (Rock lobster), các loài tôm hùm còn
lại được xếp vào một nhóm [34].
Tôm hùm Mỹ
Tôm hùm gai
Tôm hùm đá
Tôm hùm Châu Âu
Hình 1. 2: Sản lượng khai thác của một số loài tôm hùm chính
từ 1982-2006 [35]
7
ng hìn tấn
Từ năm 1989 đến 2006, sản lượng khai thác tôm hùm Mỹ luôn cao nhất.
Riêng năm 2006, tôm hùm Mỹ chiếm 63% tổng sản lượng khai thác trên toàn
thế giới. Trong vòng 25 năm (1982-2006) sản lượng khai thác tôm hùm Mỹ
tăng gấp đôi (năm 1982 đạt 40.000 tấn tăng lên trên 90.000 tấn vào năm 2006),
tôm hùm gai tăng khoảng 30%. Tuy nhiên, những năm gần đây (2001-2006) sản
lượng khai thác tôm hùm gai và tôm hùm đá có xu hướng giảm nhẹ [35].
Nhu cầu thị trường cao tăng cao, nhưng sản lượng đánh bắt ngoài tự
nhiên của các nhóm tôm chính (tôm hùm gai, tôm hùm đá, tôm hùm Châu
Âu) có xu hướng giảm đi. Do đó, nhiều nước trên thế giới đã và đang quan
tâm đến nghề nuôi tôm hùm lồng. Các loài tôm hùm được nuôi phổ biến
hiện nay như Homarus americanus ở vùng biển Đông Bắc Mỹ; Panulirus
argus ở bang Florida – Mỹ; Panulirus japonicus ở Nhật Bản; Jasus
thô sơ, đơn giản, chủ yếu là lặn sử dụng chĩa và móc để bắt tôm. Do đó, sản
lượng khai thác tôm hùm ở giai đoạn này chỉ đạt vài chục tấn/năm đáp ứng nhu
cầu nội địa [26].
Từ năm 1980, ngư cụ khai thác và phương pháp khai thác tôm hùm
được thay đổi nhanh chóng. Các ngư cụ khai thác cũ được thay thể bằng lưới
rê hai hoặc ba lớp, tàu khai thác cũng được nâng cấp tốt hơn để có thể khai
thác tôm hùm xa bờ. Cỡ tôm hùm khai thác được có thể đạt tới 5-10 kg/con ở
loài P.ornatus;
3-5 kg/con ở loài P. homatus; 1-2 kg/con ở loài P.longipes
và P.stimpsoni. Sản lượng tôm hùm khai thác được tăng đột biến từ vài chục
tấn lên tới 500-700 tấn/năm. Đây là thập niên thịnh vượng nhất đối với nghề
khai thác tôm hùm của 14 tỉnh miền trung [26].
Tuy nhiên, việc khai thác quá mức không quan tâm đến vấn đề bảo
vệ nguồn lợi, đã làm sản lượng tôm hùm khai thác hàng năm sụt giảm
nhanh chóng còn 180 tấn/năm vào những năm 1990. Cùng với sự sụt giảm
sản lượng khai thác, kích cỡ tôm hùm khai thác ngoài tự nhiên cũng giảm.
Tỷ lệ tôm có kích thước nhỏ chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngày
càng tăng, chiếm tới 30-50 % sản lượng khai thác. Do đó, nhiều ngư dân đã
lưu giữ những con tôm hùm còn nhỏ vào lồng nuôi đến khi đạt kích thước
thương phẩm mới bán [3].
9
Nghề nuôi tôm hùm lồng ở Việt Nam bắt đầu tự phát từ năm 1992 và
thực sự phát triển mạnh mẽ vào năm 2000. Phú Yên, Khánh Hòa và Ninh Thuận
là ba tỉnh có số lượng lồng nuôi cao nhất. Sản lượng tôm hùm lồng tăng từ 301
tấn năm 1995 lên tới gần 1900 tấn vào năm 2006. Nhưng do ảnh hưởng của
dịch bệnh tôm sữa xuất hiện vào cuối năm 2006, sản lượng tôm hùm sụt giảm
xuống còn khoảng 1400 tấn vào năm 2007 [5, 23].
Trong số 9 loài tôm hùm tìm thấy ở vùng biển Việt Nam, 3 loài lớn
nhanh, màu sắc sáng và giá trị dinh dưỡng cao là tôm hùm bông (P. ornatus),
tôm hùm đá (P. homarus), tôm hùm sỏi (P. stimpsoni) được ngư dân nuôi phổ
P.ornatus
P.homarus
Tổng
Số lượng
(con)
1.917.910
494.165
2.412.075
Tỷ lệ
(%)
79,5
20,5
100
Số lượng
(con)
998.621
1.328.669
2.327.290
Tỷ lệ
(%)
42,9
57,1
100
Số lượng
(con)
2.280.289
729.678
3.009.967
Tỷ lệ
(%)
tôm hùm và sự tác động của việc khai thác tới nguồn lợi tôm hùm ở các vùng
trọng điểm thuộc 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã chỉ ra số lượng
tôm hùm khai thác được ở tất cả các vùng biển trọng điểm thuộc 3 này có xu
hướng giảm dần từ năm 2002-2004 [3].
Nghiên cứu sản lượng khai thác tôm hùm giống ở các tỉnh ven biển
miền trung từ Đà Nẵng đến Bình Thuận của Nguyễn Văn Long và Đào Tấn
Học chỉ ra số lượng con giống khai thác được hàng năm có biến động lớn năm
2005-2006 là 2.412.075 con, năm 2006-2007 giảm còn 2.327.290 con, nhưng
2007-2008 tăng lên 3.009.967 con [24].
Nghiên cứu các giải pháp khai thác bền vững tôm hùm giống trên địa
bàn tỉnh Bình Định của Nguyễn Hữu Hào (2008-2010) cũng cho thấy số lượng
con giống khai thác hàng năm có nhiều biến động. Số lượng con giống khai thác
2004 là 205.000 con đến năm 2008 là 455.000 con tăng gấp 2 lần năm 2004.
Nhưng năm 2009 sụt giảm còn 350.000 con và 6 tháng 2010 chỉ khai thác được
50.000 con. Sự sụt giảm số lượng con giống khai thác những năm gân đây
chứng tỏ “nguồn giống tôm hùm đã bị khai thác quá mức và có nguy cơ cạn
kiệt” [11].
Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng số lượng con giống tôm hùm
khai thác hàng năm có sự biến động lớn, có thể bị ảnh hưởng bởi việc khai
12
thác quá mức. Như vậy, việc khai thác nguồn lợi tôm giống hợp lý cùng với
việc không ngừng nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng con
giống sau khi khai thác là thiết thực.
Trước yêu cầu thực tế trên, việc thực hiện đề tài “Hiện trạng khai
thác, ương nâng cấp tôm hùm bông (Panulirus ornatus, Fabricius, 1798)
và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi tôm hùm giống ở vùng
biển tỉnh Khánh Hòa” là rất cần thiết. Trong đề tài này, chúng tôi tập trung
tìm hiểu hiện trạng khai thác và ương nâng cấp tôm giống tại các vùng biển
tỉnh Khánh Hòa với mong muốn tìm ra ngư trường, phương pháp khai thác
hợp lý, có hiệu quả và vùng ương nâng cấp đạt chất lượng cao từ đó góp phần
đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt. Đặc điểm này đã gây ảnh
hưởng lớn tới các công trình cũng như đối tượng nuôi thủy hải sản trong đầm,
vịnh và ven biển [17; 21].
14
1.4.1.3 Địa hình đáy biển
Địa hình đáy biển là yếu tố tự nhiên quan trọng đối với sự phân bố, cư
trú của nhiều sinh vật biển, ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp khai
thác hải sản. Dải bờ biển Việt Nam kéo dài từ Móng Cái đến Hà Tiên được
chia làm 5 khu vực khác nhau về độ dốc trắc diện, mức độ chia cắt đường bờ,
tính chất của phần lục địa ven bờ và phần biển ven bờ. Trong đó, vùng biển
Khánh Hòa thuộc khu vực bờ biển từ Hải Vân – Vũng Tàu, đây là khu bờ
thuộc vùng có địa hình tương phản giữa lục địa và biển. Bờ biển rất dốc, chia
cắt sâu và ngang đều phức tạp. Ven bờ có nhiều nhánh núi ăn sâu ra biển tạo
nên những dãy núi ngầm mà đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình
thành các đảo như Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Mun. Đáy biển xung quanh đảo
thường có dạng rạn nghềnh, rạn ngầm là nơi cư trú lý tưởng của các loài động
vật đáy như tôm hùm [1; 21].
Xen giữa các đảo nổi, đảo ngầm là những vùng trũng tương đối bằng
phẳng gọi là vùng đồng bằng biển, đó chính là đáy của các vũng, vịnh như
vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh. Khu vực đầm vịnh thường
kín gió thích hợp cho việc phát triển nuôi trồng thủy hải sản [21].
1.4.1.4 Đặc điểm thủy văn
• Sóng biển
Sóng biển là yếu tố động lực có tác động tích cực đến việc phát tán của
sinh vật nổi và khả năng lưu thông trao đổi nước đối với nuôi lồng, nhưng
chúng lại là một trong những nhân tố phá hủy các công trình nuôi biển [22].
Sóng biển ven bờ và trên biển nước ta phụ thuộc chủ yếu vào chế độ
gió. Do đó, có thể chia chế độ sóng theo hai mùa khác nhau. Mùa gió đông bắc
(từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau), hướng sóng gió thịnh hành là hướng bắc có
khi là hướng đông bắc, độ cao sóng trung bình là 0,75 – 1 m, độ cao sóng lớn