Thành phần thiên địch (côn trùng và nhện lớn bắt mồi) của sâu hại chính trên đậu đũa và biện pháp phòng chống bằng thuốc hoá học đối với sâu đục quả (Marucca testulalis Geyer) và ruồi đục lá (Liriomyza sativa Blanch.) vụ hè thu 2007 tại Gia Lâm – Hà Nội” - Pdf 22

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 1 -
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cây đậu đũa Vigna unguiculata spp sespuipedalis, L. thuộc họ đậu
(Fabaceae).
Cây đậu đũa đã được con người biết đến rất sớm cách đây khoảng gần 5000
năm và được trồng vào khoảng thế kỷ XI trước công nguyên. Trong các loại đậu
thuộc đậu rau thì đậu đũa là loại cây được trồng phổ biến và quan trọng nhất.
Đậu đũa là loại rau ăn quả giàu protein, trồng vụ hè cho năng suất cao nhất.
Cây đậu đũa ưa ánh sang mạnh, chịu được nhiệt độ cao (30
0
C). Đậu đũa không
kén đất nhưng thích hợp với các loại đất tơi xốp, dễ thoát nước, nhất là thời kỳ
tháng 9, tháng 10 mưa nhiều, tốt nhất nên chọn đất thịt nhẹ có pH từ 6 đến 7. Đất
trồng đậu đũa nên trồng luân canh với các cây trồng khác, đặc biệt là lúa nước.
Đậu đũa có 2 nhóm giống: giống quả ngắn, chiều dài quả 20 – 25cm, hạt dày, thịt
quả chắc, ăn ngon; giống quả dài, chiều dài quả >30cm, hạt thưa, thịt quả xốp,
lóng dài, ăn nhạt, giống quả dài cho năng suất cao hơn giống quả ngắn.
Thành phần dinh dưỡng của đậu đũa: Trong 100g quả đậu đũa có 47mg
Canxi; 8,3g đường tổng số; 3,2g protein; 0,5g chất béo; 0,2g chất xơ; 1,6 mg sắt;
22mg Vitamin C và 1,8mg Vitamin PP (Rubatzky, 1997) [40].
Ngoài việc sử dụng làm rau, đậu đũa còn là vị thuốc. Theo đông y cổ
truyền, đậu đũa (chủ yếu là hạt), có vị ngọt hơi mặn, tính bình, có tác dụng bổ tỳ,
vị, điều hoà ngũ tạng, bổ thận và sinh tuỷ. Tại Ấn Độ, đậu đũa được dùng nấu ăn
để trị giun sán, bồi bổ dạ dày, nước ép từ lá có thể sử dụng cho mục đích y học
(Xu, 1993) [54]. Lá non và giá của đậu đũa có thể sử dụng làm rau.
Việt nam có lịch sử trồng đậu đũa lâu đời, thống kê cho thấy đậu đũa được
dùng làm thức ăn cách đây khoảng 5 – 6 ngàn năm. Hiện nay đang được trồng ở
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 3 -

1.2. Mục đích và yêu cầu
1.2.1. Mục đích
Trên cơ sở điều tra thu thập thành phần côn trùng và thiên địch của sâu
hại chính trên đậu đũa vụ hè thu, đồng thời xác định mối quan hệ giữa một số
loài bắt mồi quan trọng với sâu hại. Từ đó, đề xuất các biện pháp phòng chống
sâu hại đậu đũa đạt hiệu quả kinh tế và môi trường.
1.2.2. Yêu cầu
- Xác định thành phần các loài sâu hại trên đậu đũa vụ hè thu 2007 tại Gia
Lâm – Hà Nội.
- Xác định thành phần côn trùng và nhện lớn bắt mồi trên cây đậu đũa
(thuộc đậu rau).
- Theo dõi diễn biến mật độ của sâu sâu đục quả Maruca testulalis Geyer,
ruồi đục lá Liriomyza sativa Blanch.
- Nuôi sinh học sâu đục quả đậu (Maruca testulalis Geyer.) trong phòng
thí nghiệm để tìm một số đặc điểm sinh vật học của chúng.
- Xác định hiệu quả của biện pháp hoá học trong việc phòng trừ sâu hại
trên cây đậu đũa.


thời kỳ rau giáp vụ.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 5 -
Đậu đũa được trồng ở khắp các khu vực trên đất nước ta, và có lịch sử
lâu đời. Nhưng chúng được trồng ở khu vực Bắc Bộ là nhiều nhất và cho
năng suất cao nhất.
Ở Việt Nam, số lượng giống còn ít mới chỉ chọn lọc ra được giống HA05
do Viện Nghiên cứu Rau quả chọn ra từ 30 giống có nguồn gốc địa phương và
nhập nội từ Trung tâm Nghiên cứu và phát triển châu Á. Nhưng chủ yếu được
trồng là các giống nhập ngoại, trong đó giống YP5 có nguồn gốc từ Đài Loan
được nhập vào nước ta từ năm 1992. Vũ Tuyên Hoàng và CTV (1997) [7] đã phân
lập và chọn ra dòng đậu đũa S5 ổn định về cả đặc tính sinh học cũng như các đặc
tính kinh tế, cho năng suất cao nhất vào vụ xuân hè khoảng 15 – 20 tấn/ha, quả dài
(>60), quả xanh hấp dẫn, ăn giòn và ngọt.
2.2. Tình hình nghiên cứu sâu hại đậu đũa
Cây đậu đũa là cây trồng quan trọng ở nhiều nước trên thế giới, có tác
dụng cung cấp một lượng thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cho con người,
được coi là nguồn cung cấp protein cho các quốc gia đang phát triển (Gethi
và Khaemba, 1985; Alghli, 1991) [19] và có tác dụng cải tạo đất rất tốt cho
cây trồng vụ kế tiếp như lúa, ngô…Tuy nhiên, việc trồng đậu đũa cũng gặp
không ít khó khăn, trong đó phải kể đến sự có mặt và gây hại của nhiều loài
dịch hại ( chủ yếu là côn trùng gây hại).
Số lượng sâu hại chính trên đậu đũa khá đa dạng và phong phú.
Nghiên cứu của Eruch cho thấy ở Nam Nigeria, loài rầy xanh (Empoasca
colichi Paoli) và sâu đục quả (Cydia plychora Meyr) là những loài sâu hại
phổ biến. Còn ở vùng Đông Uttar Paradesh (Ấn Độ) đã xác định được 8 loài
sâu hại chính, đó là Madurasia obscurella Jac, rầy xanh (Empoasca kerri
Pruthi), ruồi đục thân (O. phaseoli), rệp đậu (Aphis craccivora Koch),
Acrocercops spp., sâu đục quả đậu (Euchrysops cnejus F.), bọ trĩ hại hoa

chính, trong đó có 6 loài quan trọng là: Heliothis armigera Gour, Maruca
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 7 -
testulalis Geyer, Ophyonyia phaseoli, Chromatomyia horticola Gour,
Anomis flava Fabr. và Callosubsuchos chinensis L. Gần đây bọ trỹ đã trở
thành loài gây hại phổ biến và quan trọng trên đậu đũa. Theo Spencer
(1973), hiện nay có nhiều cây thực phẩm (kể cả đậu đũa, đậu trạch, đậu
cove) bị ruồi đục lá hại rất nặng phần lớn là các loài ruồi đục lá thuộc giống
Liriomyza, Phytomyza, Chronyatomyia (Diptera: Agromyzidae).
Các loài sâu hại đậu đũa gây ra những tổn thất đáng kể cả về mặt năng
suất và chất lượng quả. Theo ước tính của Saxenna và CTV (1978) [42], con
số này dao động từ 53 – 98% nếu không tiến hành các biện pháp phòng trừ.
Theo Rejesus (1978) [40], thiệt hại năng suất trên cây đậu đũa là 66 – 100%.
Theo Liao C.T.j- và Lin C.S.(2000) [25]. Theo Sing và Allen (1980) [45], sâu
đục quả Maruca testulalis có thể làm giảm năng suất hạt đậu đũa từ 20 –
60% nếu không phòng trừ. Ở Băngladesh, Ohno và Alam (1989) [32] cho
biết, sâu đục quả có thể gây hại tới 54,4% quả đậu đũa khi thu hoạch và làm
giảm năng suất khoảng 20%. Theo Ogunwolu (1990) [31], ở Nigieria năng
suất đậu đũa giảm từ 48 – 72% do sâu hại, còn theo Bal (1991), nếu không
phòng trừ bọ trĩ thì năng suất đậu đũa giảm đi từ 30 – 90%. Theo Singh và
Van Emden (1979) [52]; Taylor (1964) [47] (dẫn theo Nguyễn Quý Dương,
1997) [6]. Năng suất cây đậu đũa giảm tới 60% do sự gây hại của loài M.
testulalis và nó còn kết hợp với loài bọ trĩ Megalurothrip sjostedti làm mất
khả năng sinh sản của hoa.
Có một số lượng lớn các loài sâu hại gây ra các tác hại khác nhau cho
cây đậu đũa. Trong số 85 loài tấn công trên đậu đũa, loài M. testulalis được
coi là loài sâu hại chính (Atachi và Ahohoendo,1989; Singh, 1980) [11].
Theo Reed và Lateef (1990) [41] loài M. testulalis là nguyên nhân chính gây
ra việc giảm năng suất cây đậu đũa ở khu vực nhiệt đới ẩm. Trong khi đó ở

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 9 -
Sâu đục quả đậu đỗ (M.testulalis) phân bố rất rộng trên cây đậu đỗ ở
các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới thuộc châu Phi, châu Á và vùng Thái Bình
Dương. Vùng phân bố chính xác được xác định từ đảo Verde ở Tây Phi, kéo
dài về phía Đông tới Kiji, Samoa và cả Tây Ấn, Nam Mỹ. Ngoài ra nó còn
xuất hiện trên đậu đũa ở một phần của phía Nam châu Phi (Phelp và
Ootihuigen, 1958), miền Nam nước Mỹ (Williamson, 1943) và Úc (Paslow,
1968). Sâu đục quả đậu đũa được phát hiện lần đầu tiên trên cây “Katjan”
(một loại đậu) ở Indonexia (Dielx, 1914). Nó được Hubner mô tả đầu tiên và
sau khi ông mất Geyer đã công bố kết quả này. Tuy những nhà phân loại học
ngày nay cho rằng Geyer mới là người đã mô tả về loài sâu đục quả đậu
Maruca testulalis.
Sâu đục quả có thể gây hại trên cây đậu đũa ngay khi hạt mới nẩy
mầm, giai đoạn cây con cho đến khi cây ra hoa kết quả. Sâu non của sâu đục
quả nhả tơ kết các lá non lại rồi đục lá (đối với sâu non tuổi nhỏ) hoặc đục từ
qua lại từ bên nọ sang bên kia (đối với sâu non tuổi lớn). Sâu non có thể tấn
công trực tiếp vào các bộ phận còn non như làm mất đỉnh ngọn cây đậu đũa
ở giai đoạn ra hoa và hình thành quả, nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
của cây trồng. Điều kiện thuận lợi cho việc ra hoa và hình thành quả cũng
thường là điều kiện thuận lợi cho sâu đục quả sinh trưởng và phát triển.
Trưởng thành đẻ trên là đài và cánh hoa, sâu non sau khi nở ra di chuyển dọc
theo mép cánh hoa rồi đục lỗ chui vào bên trong nụ hoa. Chúng chủ yếu tấn
công vào bộ phận sinh sản của hoa, trước tiên là bao phấn, chỉ nhị, vòi
nhụy, bầu nhụy sau đó đến tràng hoa. Triệu chứng mà chúng để lại trên hoa
là cánh hoa bị biến màu, mất màu. Sự tái tạo của các phần của hoa bị ảnh
hưởng thậm chí bị mất hẳn. Các hoa bị sâu non bị phá hoại sẽ thối và rụng.
Vì vậy việc sâu non của sâu đục quả đũa xuất hiện sớm ở giai đoạn cây ra nụ
hoa có liên quan chặt chẽ đến sự thiệt hại về năng suất (Akinfewa, 1975)

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 11 -
phân bố của loà M. testulalis trên cây đậu đũa ở các tuổi sâu non ở Đài Loan.
Các tác giả Nitonifor; Jackai; Ewete (1996) [29]thuộc viện Nông nghiệp
nhiệt đới Quốc tế ở Ibadan, Nigeria nghiên cứu về phổ kí chủ và tập tính
sinh sống của loài M. testulalis Geyer trong phòng thí nghiệm và trong nhà
lưới từ trưởng thành đến thế hệ F1. Các nhà nghiên cứu đều đưa ra nhận
định, rất khó ghép đôi và đẻ trứng khi nuôi trong phòng thí nghiệm. Do vậy
phải có sự kết hợp với các nghiên cứu ngoài đồng ruộng để đưa ra các kết
luận chính xác.
Các kết quả nghiên cứu đều cho thấy, sâu đục quả thường đẻ trứng trên
nụ hoa và hoa của cây đậu đũa. Tuy nhiên trong một số trường hợp cũng tìm
thấy trứng trên lá, nách lá, đỉnh sinh trưỡng cả quả (Bruner, 1931; Wolcott,
1933; Krishwasnurthy, 1936, 1967) [13]. Khi theo dõi vị trí đẻ trứng của loài
sâu này trên cây đậu đũa Wallis và Byth (1986) [64]cũng có kết luận tương
tự. Nghiên cứu về đặc điểm của trứng loài sâu đục quả, Taylor (1967) [49]
cho thấy, trứng có hình bầu dục, kích thước 0.65 x 0.45mm, màu vàng nhạt
trên bề mặt có những đường cân hình mạng lưới. Theo Jackai (1981) [56]
trứng thường có đường kính 0.35mm và rất khó phát hiện khi nhìn bằng mắt
thường. Việc xác định khả năng đẻ trứng của trưởng thành tương đối khó
khăn do vị trí đẻ trứng luôn thay đổi. Theo kết quả nghiên cứu của Taylor
(1967) [49] thì một trưởng thành cái có thể đẻ từ 8 – 140 quả trứng, còn theo
Akinfewa [10] là từ 6 – 189 quả. Jackai, Ochieng và Raulson (1990) [57] khi
nuôi sâu trong phòng thí nghiệm với tỷ lệ 10 đực : 10 cái cho kết quả trung
bình 440 trứng, cao hơn nhiều so với các kết quả nghiên cứu trước đó. Kết
quả giải phẫu một con trưởng thành cái thời kì chuẩn bị sinh sản cho thấy có
200 – 300 quả trứng đã phát triển đầy đủ (Taylor, 1967) [49]. Trứng thường
được đẻ thành từng đợt, mỗi đợt có từ 2 – 16 quả (Taylor, 1967; Jackai và
cộng sự 1990) [49].

gian phát dục của pha nhộng thường kéo dài từ 6-8 ngày. Các kết quả nghiên
cứu của Ke, Fang, Li (1985) [22] tại Quảng Châu-Trung Quốc cho thấy
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 13 -
nhộng của loài M.testulalis thường qua đông trong các lớp đất bề mặt, đến
tháng 5 mới vũ hoá trưởng thành bay ra.
Sau khi vũ hoá trưởng thành cái không đẻ trứng ngay mà nó cần một
thời gian ăn thêm để hoàn thành bộ máy sinh sản. Vào thời gian này chất
lượng thức ăn có sự ảnh hưởng rất lớn đến thời điểm bắt đầu đẻ trứng và số
lượng trứng đẻ. Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy nếu
được ăn thêm bằng dung dịch đường glucose 25% thì sau khi vũ hoá 3-4
ngày trưởng thành cái bắt đầu đẻ trứng. Sự đẻ trứng đạt mức cao nhất là
khoảng 6-8 ngày sau khi giao phối. Trung bình trưởng thành cái sống từ 8,5-
10 ngày, trưởng thành đực có khoảng thời gian ngắn hơn 5,9 – 6,1 ngày.
Việc nghiên cứu khả năng đẻ trứng của loài M.testulalis trên một số loài cây
kí chủ khác nhau nhằm xác định kí chủ phù hợp cho việc nhân nuôi chúng
trong phòng thí nghiệm cho kết quả là số trứng được đẻ và tỉ lệ nở cao nhất ở
trên cây đậu ván (Ramasubramanian và Babu, 1989) [39]. Thời gian phát dục
của sâu non trên đậu ván ngắn nhất (12.9 ngày) và trưởng thành vũ hoá từ
những sâu non cũng có thời gian sống lâu hơn. Từ đó hai tác giả này đi đến
kết luận rằng đậu ván là thức ăn thích hợp cho việc nhân nuôi loài sâu này
trong phòng thí nghiệm.
Ngoài việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài sâu đục quả
M. testulalis, nhiều nhà khoa học cũng đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm
sinh thái học của chúng. Tại Đài Loan, sâu đục quả xuất hiện quanh năm và
số lượng quần thể tăng dần từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Vòng đời của
chúng có sự thay đổi theo vùng sinh thái, ở miền Nam Nigeria là 18 -35 ngày
còn ở miền Bắc là 30 -35 ngày (Booker, 1965) [12]. Loài M. testulalis luôn
có những giai đoạn phát triển khác nhau trong suốt năm nhờ vào hai nguồn

trồng rau. Nhưng do dân trí chưa thực sự cao và người dân vẫn đặt vấn đề
năng suất lên hàng đầu, sử dụng thuốc hoá học vẫn tỏ ra hết sức tuỳ tiện.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 15 -
Điều này chứng tỏ rằng những nghiên cứu về sâu hại đậu rau và đậu
đũa nói riêng ở nước ta có được quan tâm nhưng chưa nhiều.
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra cơ bản của Viện BVTV năm 1967 –
1968 ở phía bắc và năm 1977 – 1978 phía Nam ghi nhận có 39 loài sâu hại,
trong đó có 5 loài thu thập trên cây đậu đũa và đậu co ve, đó là, loài sâu đục
quả M. testulalis đã có mặt ở hầu hết các tỉnh trong cả nước như: BắcThái,
Hà Giang, Hà Nội, Hà Tây, Lào Cai, Thái Bình, Thanh Hoá, Quang
Bình Ngoài sự gây hại cho các cây trồng thuộc họ đậu như lạc, đậu tương,
đậu đen, điền thanh, sâu đục quả đậu đậu đỗ M.testulalis còn xuất hiện trên
một số cây trồng khác như lúa, khoai lang, cao lương, vông, dâu, chè, cao su,
rau cải, bí ngô, cà pháo, cam, quýt, mơ, mận, bắc hà
Trên cây đậu đũa, một số loài sâu hại chính cũng được một số tác giả
quan tâm nghiên cứu. Theo Trần Hồng Lập và Hoàng Thị Dung (1978) [8]
loài sâu đục quả này chủ yếu gây hại trên các cây họ đậu với tỉ lệ khá cao:
Trên đậu đũa là 70-80%, đậu bở là 40,3%, đậu cobơ 9,5%. Theo kết quả
nghiên cứu của Hoàng Anh Cung và CTV (1996) cho thấy sâu đục quả và
rệp muội là những sâu hại quan trọng trên đậu rau. Còn theo Nguyễn Thị
Nhung (2001) [9] thì loài sâu đục quả là một trong 8 loài sâu xuất hiện
thường xuyên và phổ biến trên cây đậu ăn quả. Cũng theo tác giả này, loài
M.testulalis là đối tượng gây hại nặng nhất, tỉ lệ quả bị hại có thể lên tới
50,65% và cao nhất vào tháng 5. Sâu đục quả phát sinh quanh năm trên cây
đậu ăn quả và có hai đỉnh cao mật độ trong năm, đỉnh cao thứ nhất thường
vào tháng 5, có mật độ trung bình dao động từ 26,2-42,2 con/100 quả, đỉnh
cao thứ 2 vào tháng 10 mật độ dao động từ 12,6-20,4 con/100 quả. Mật độ
sâu đục quả trong một vụ đậu trạch, đậu đũa đạt đỉnh cao ở giai đoạn đầu của

dimidiata F.)…(Prasuraman, 1989) [34].
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 17 -
Kết quả nghiên cứu của EPPO (1989), chỉ ra rằng, có 20 loài thiên
địch của bọ trĩ (Thrips palmi), trong đó quan trọng có 7 loài bọ xít bắt mồi,
gồm 6 loài thuộc họ Anthocoridae (Orius insidiosus, O. masidentex, O.
minutus, O. sauteri, O. similis, O. tantillus) và 1 loài thuộc họ Miridae
(Campylomma sp.).
Trước những năm 2000, đã có nhiều công bố về thiên địch ở Việt
Nam, tuy vậy vẫn chưa có công bố nào chuyên về thiên địch trên đậu rau. Từ
những năm 2000 đến nay đã có một số tác giả nghiên cứu về thiên địch trên
đậu rau trong đó có đậu đũa đã thu được một số kết quả.
Nguyễn Thị Nhung và CTV (2000) [8], khi nghiên cứu về sâu hại đậu
rau vùng ngoại thành Hà Nội và phụ cận đã đưa ra kết luận, thành phần và
mật độ thiên địch trên đậu đũa, đậu trạch, đậu cove là tương tự nhau và rất
nghèo nàn, qua điều tra ghi nhận được 3 loài bọ rùa (bọ rùa đỏ, bọ rùa chữ
nhân, bọ rùa 6 chấm), 1 loài giòi ăn rệp, một vài loài nhện lớn, bọ cánh cứng,
bọ 3 khoang, chúng tồn tại trên đồng ruộng với mật độ thấp (<1 (con/m
2
),
còn vào tháng 6, 7, 10, 11 mật độ cao hơn (khoảng 1 – 3 con/m
2
).
Theo Đặng Thị Dung (2004) [5], khi nghiên cứu thành phần côn trùng
kí sinh của 4 loài sâu hại chính trên đậu rau (sâu cuốn lá, sâu đục quả, sâu
khoang, ruồi đục lá) đã phát hiện ra 14 loài côn trùng kí sinh, trong đó 12
loài thuộc bộ cánh màng, 2 loài thuộc bộ 2 cánh. Tỷ lệ sâu hại bị kí sinh là
khá cao, sâu cuốn lá bị kí sinh từ 8,6% - 27%, sâu đục quả từ 4% - 6,8%,
ruồi đục lá 32,2% – 46,1%.

những cây đậu ở vụ mùa muộn.
Taylor (1967) [49] cho rằng lượng mưa cũng có ảnh hưởng đến quá
trình chín của quả và như vậy ảnh hưởng đến khả năng tấn công của sâu non
sâu đục quả vào quả và mô quả. Nếu lượng mưa ở đầu vụ mà lớn thì sâu non
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 19 -
xuất hiện sớm trên quả. Nếu lượng mưa kéo dài ở cuối vụ thì làm cho sâu
non của sâu đục quả có thời gian tồn tại lâu hơn.
Đặc điểm thực vật học về các giống đậu đũa cũng ảnh hưởng đến mức
độ hại của sâu hại. nghiên cứu của Taylor (1989) [50] chỉ ra rằng độ dày của
mô ở cuống quả và quả tỷ lệ thuận với tính kháng của sâu ở các giống đậu
khác nhau. Theo Jakai và Oghiakhe (1989) [58], lông phủ trên thân, lá và
quả nhiều thì giảm được mức độ hại của sâu, do đó các giống hoang dại có
nhiều lông hơn nên sẽ ít bị hại hơn là các giống mới và giống thuần hoá.
Ngoài các biện pháp kĩ thuật có sự can thiệp của con người như trên để
giúp cho cây tránh khỏi sự gây hại của sâu hại, việc tạo ra tính kháng chủ
động cho cây có ý nghĩa rất quan trọng cho công tác phòng chống sâu bệnh
ngoài đồng ruộng. Việc tạo ra các giống đậu đũa có tính kháng có thể được
thực hiện thông qua việc phát hiện và chọn lọc các cây có tính kháng ở trong
tự nhiên hoặc lai tạo giữa các giống có khả năng kháng sâu nhằm tích luỹ
tính kháng cho các tổ hợp lai hoặc nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong
lĩnh vực di truyền để tạo ra các giống có gen kháng.
Công tác phòng trừ hiện đại sâu hại đậu đũa gắn liền với sự khai thác
mối quan hệ sinh học giữa các loài sâu hại và các côn trùng khác có mối
quan hệ mật thiết với chúng trong mạng lưới dinh dưỡng, đó chính là việc
khai thác kẻ thù tự nhiên để phòng trừ chúng. Trong công tác phòng trừ sâu
hại chính mà đó là sâu đục quả đã được nghiên cứu từ lâu. Theo Waterhose
và CTV (1987) [65], kí sinh có thể gây chết cho 12 – 20% nhộng
M.testulalis. Theo Murphy (1999) [27], sâu đục quả có 2 loài kí ấu trùng

mật độ của sâu non đục quả ở mức 3 con/ 1m
2
thì cần phun thuốc.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc hỗn hợp các loại
thuốc trừ dịch hại cho hiệu phòng trừ cao hơn, nhất là vùng sâu bệnh cùng
tập trung gây hại nặng. Theo Oladiran và Oso (1985) [33], khi sử dụng hỗn
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 21 -
hợp Benomyl 0,5 kg/ ha với Monocrotophos 0,7 kg/ ha vào thời điểm 35 –
49 ngày sau khi trồng đậu đũa cho kết quả phòng trừ tốt với sâu đục quả.
Việc lựa chọn thời điểm phun thuốc cũng ảnh hưởng tới hiệu quả
phòng trừ sâu hại. Sâu đục quả thường rời bỏ chỗ ẩn nấp vào lúc chiều tối do
đó phun thuốc vào thời điểm này cho hiệu quả cao nhất. Vào thập niên 20
biện pháp phòng chống sâu hại đã ra đời và người ta quá lạm dụng điều đó,
vì nó giải quyết vấn đề cơ bản tiêu diệt nhanh các loài sinh vật gây hại. Tuy
nhiên việc dùng thuốc hoá học đã để lại những hậu quả trực tiếp cho con
người và môi trường xung quanh. Do vậy, cùng với hướng sản xuất và sử
dụng chế phẩm sinh học trong công tác bảo vệ thực vật, các nhà nghiên cứu
cũng rất quan tâm đến việc tìm ra các thuốc thảo mộc có khả năng phòng trừ
sâu hại mà chủ yếu là sâu đục quả đậu. Ở Nigeria và các nước khác, qua
nghiên cứu và thử nghiệm cho thấy rằng trong dịch chiết của lá, quả và hạt
xoan có hỗn hợp các chất Tetranortripterpionid và Azadirachtin có tác dụng
mạnh trong việc gây ra sự ăn ngán cho sâu đục quả đậu. Các thí nghiệm
trong phòng thí nghiệm cho thấy loại dịch chiết này có thể gây chết 100%
sâu non của sâu đục quả. Ưu điểm lớn nhất là thuốc thảo mộc không gây độc
cho con người và kẻ thù tự nhiên của sâu hại.
Tóm lại, trong công tác phòng trừ sâu hại và phòng trừ sâu hại chính
trên đậu đũa thì các biện pháp đơn lẻ sẽ không cho kết quả cao nhất, mà cần
phải có sự chủ động phối hợp các biện pháp đó dựa vào sự hiểu biết các mối

Báo cáo thực tập tốt nghiệp Nguyễn Hoàng Diệu_ Lớp BVTV 49A

- 23 -
PHẦN III
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các loài côn trùng trên đậu đũa
- Các loài nhện lớn bắt mồi trên đậu đũa.
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu
- Các giống đậu đũa trồng tại Gia Lâm – Hà Nội.
- Dụng cụ thí nghiệm:
* Vợt côn trùng
* ống hút côn trùng
* ống nghiệm
* Lồng nuôi sâu kích thước (40.40.60) cm
* Hộp nhựa kích thước (21.19.8) cm
* Hộp nhựa đường kính 10 cm, cao 10 – 12 cm
* Hộp Petri đường kính 10 cm
* Hộp bia hoặc cocacola có đường kính 6,5 cm, cao 11,5 cm
* Kính lúp
* Pince, kéo, bút lông, kim cắm mẫu côn trùng cỡ số 00, 0, 1, 2, 3
* Cồn 96

nghiệm Côn trùng – Bộ môn côn trùng – Trường ĐHNNI – Hà Nội.
3.3.2. Các chỉ số theo dõi, tính toánh, xử lý số liệu
- Chỉ số theo dõi và tính toán
- Lập bảng thành phần sâu hại và côn trùng, nhện lớn bắt mồi trên đậu đũa
Mức độ xuất hiện: - : Rất ít (< 20% số lần bắt gặp)
+ : ít ( 21 – 40% số lần bắt gặp)
++ : Trung bình ( 41 – 60% số lần bắt gặp)
+++ : Nhiều ( > 60% số lần bắt gặp)
* : Sâu hại chính
Bỏo cỏo thc tp tt nghip Nguyn Hong Diu_ Lp BVTV 49A

- 25 -
- Mật độ sâu hại chính và côn trùng, nhện lớn bắt mồi
Mt (con/m
2
) =

Tng s cỏ th iu tra c
Tng s m
2
iu tra

Mt (con/lỏ) =
Tng s cỏ th iu tra c
Tng s lỏ iu tra

Kớch thc trung bỡnh ca c th:

N
X

Thi gian phỏt dc trung bỡnh ca mt cỏ th:
X
=

X
i
n
i
n
X
i
: Thi gian phỏt dc ca cỏ th th i
n
i
: S cỏ th chuyn pha trong ngy th i
n: Tng s cỏ th thớ nghim
nh hng ca thuc hoỏ hc n sõu hi v thiờn ch theo cụng thc
ca Henrdson Tilton.
Hiu lc (%) = 1 -
Ta.Ca
Ca.Tb
Trong ú: Ta: l s cỏ th sng cụng thc thớ nghim sau khi phun.
Cb: l s cỏ th sng cụng thc i chng trc khi phun.
Ca: l s cỏ th sng cụng thc i chng sau.
Tb l s cỏ th sng cụng thc thớ nghim trc khi phun.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status