1
Chuyên đề 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG
HÓA CHẤT TẠI CÁC PTN ĐỒNG THỜI ĐỀ XUẤT NHỮNG
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ PHÒNG NGỪA
NHỮNG TAI NẠN CÓ THỂ XẢY RA
PTN là nơi chứa các loại hóa chất (nhiều chủng loại) phục vụ cho công tác nghiên
cứu cũng như thực tập của GV, SV nhưng việc lưu trữ, bảo quản cũng như cách sử
dụng hóa chất ở các PTN như thế nào cho hợp lý đang là vấn đề cần quan tâm.
I. MỤC ĐÍCH:
- Đánh giá thực trạng quản lý và sử dụng hóa chất tại các PTN.
- Đề xuất một số biện pháp trong cách quản lý, sử dụng và an toàn trong hóa
chất.
II. NỘI DUNG:
1. Tổng quan về hóa chất tại các PTN tại TT TNTH:
Tại trung TT TH hóa chất đang được sử dụng tại các PTN thuộc khối ngành
công nghệ: Nuôi, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ sinh học, Công nghệ chế
biến, Kỹ thuật môi trường. Và lượng hóa chất được sử dụng chủ yếu tập trung ở
các PTN Hóa, CNSH, KTMT, Hóa – vi sinh, Bệnh học.
Trong đó có những loại hóa chất độc, nguy hiểm như: acid nitric, aceton, bari
nitrat, brom lỏng, metanol,…cần phải được bảo quản cẩn thận.
Quản lý:
a. Sắp xếp, bảo quản:
Hóa chất chưa được phân loại và sắp xếp chưa có khoa học.
Chưa có dán nhãn cảnh báo mức độ độc hại, nguy hiểm ở khu vực chứa
hóa chất.
Lượng hóa chất nhập về vì không đủ chỗ nên phải chứa trong thùng giấy
và để trên sàn nhà làm mất diện tích phòng và không đảm bảo an toàn.
Hóa chất ở các PTN chủ yếu được bảo quản trong tủ kính hoặc tủ gỗ, 1 số
hóa chất độc được để trong tủ hotte.
Bỏng do axit đặc như axit sunfuric, nitric (H
2
SO
4
, HNO
3
…)Trước tiên
rửa bằng nước sạch nhiều lần, sau dùng dung dịch amoniac 5% hoặc dung
dịch NaHCO
3
10%, loại bỏ các phương tiện dính axit trên vùng bị bỏng
(không nên dùng xà phòng để rửa vết thương).
Nếu axit rơi vào mắt thì nhanh chóng rửa kỹ nhiều lần bằng nước sạch,
nước cất, nước đun sôi để nguội sau dùng dung dịch NaHCO
3
3%.
Nhiễm độc bạc nitrat: đau bụng, chóng mặt, niêm mạc miệng có màu
trắng…
Cấp cứu: cho nạn nhân uống dung dịch natri clorua 5% cứ 10’ 1 thìa canh
hoặc nước lòng trắng trứng hoặc sữa, chườm nước đá lên bụng.
3
III. ĐỀ XUẤT NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VÀ PHÒNG
NGỪA NHỮNG TAI NẠN CÓ THỂ XẢY RA VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Quản lý:
Quy hoạch khu vực để hóa chất: nơi để hóa chất phải là nơi khô ráo,
thoáng mát(tùy vào điều kiện của mỗi phòng). Không nên để nhiều và tập
trung các loại hóa chất dễ bắt lửa như xăng, cồn, ete, benzen, aceton Cần
đựng hóa chất có tác dụng với cao su như brom và acid nitric trong lọ có
nút thủy tinh.
Chất có hoạt tính phóng xạ
Chất có hại
Chất độc
Chất độc mãn tính
Chất dễ cháy
Chất rất dễ cháy
Chất nổ
Chất độc sinh học
Chất gây kích ứng
Chất Oxi hoá 2. Sử dụng:
Người sử dụng phải nắm rõ các nguyên tắc trước khi làm thí nghiệm.
Ví dụ:
Khi pha loãng acid H2SO4. Đổ nước vào cốc theo mức nhất định, sau đó từ từ
đổ acid vào. Không được làm ngược lại vì nếu đổ nước vào acid sẽ xảy ra phản
ứng tỏa nhiệt.
5
nhân viên phải tiếp xúc với 1 lượng lớn hóa chất này. Ngoài ra, trong khi thao tác
hóa chất tương tác và phản ứng với nhau, nếu không cần thận sẽ xảy ra hậu quả
đáng tiếc có thể xảy ra. Tuy nhiên, ở đây vấn đề này sẽ chỉ được nói chung chung
bởi có nhiều trường hợp tai nạn PTN và mỗi trường hợp có cách xử lý khác
nhau.Vì thế
6
Người làm việc trong PTN phải trang bị đầy đủ áo blu, găng tay, kính
mắt, khẩu trang y tế, khẩu trang phòng độc khi thí nghiệm với những
chất độc hại.
PTN cần được trang bị tủ thuốc y tế và chuẩn bị sẵn một số dung dịch
cần thiết để sử dụng khi cần sơ cứu
Cồn iot 5% (cầm máu)
Dung dịch 3% natribicacbonat, dung dịch 5% amoniac, dung dịch 2%
acid boric, dung dịch 3% acid acetic, dung dịch 5% đồng sulfat (chữa
bỏng)
Dung dịch loãng (2 – 3%) thuốc tím (sát trùng)
Các loại bông băng gạc đã được khử trùng
Mỗi phòng thí nghiệm cần chuẩn bị đủ phương tiện phòng và chữa cháy:
bình chữa cháy, cát, thùng chứa nước, bao tải, xô chậu v.v
Cán bộ Phòng thí nghiệm cần nắm vững các nguyên tắc chữa cháy. Đặc biệt
phải nắm vững nguyên tắc bảo quản, sử dụng hóa chất dễ gây nổ, gây cháy và các
ký hiệu về nổ cháy ghi trên nhãn hiệu các lọ đựng hóa chất. Khi có hiện tượng nổ
cháy xảy ra cần nhanh chóng xác định rõ nguyên nhân để đề ra biện pháp xử lý kịp
thời và có hiệu quả.