TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM
1
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 03/11/2012MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU 4
2. NỘI DUNG 4
2.1. Khái niệm. phân loại 4
2.1.1. Ngân sách nhà nước 4
2.1.2. Thâm hụt ngân sách nhà nước 4
2.1.3. Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước 5
2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước trong những năm gần đây 5
2.2.1. Thực trạng kinh tế những năm gần đây 5
2.2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách 6
a. Thu ngân sách nhà nước 6
b. Chi ngân sách nhà nước 9
c. Thực trạng bội chi NSNN (thâm hụt NSNN) 12
2.2.3. Hậu quả của thâm hụt NSNN đối với nền kinh tế 13
2.3. Nguyên nhân
2.3.1. Thất thu thuế nhà nước 13
2.3.2. Đầu tư công kém hiệu quả 13
2.3.3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu 14
2.3.4. Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
14
2.3.5. Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn 14
2.3.6. Sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được sử dụng như một
công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế 14
2.4. Tác động đối với nền kinh tế 15
2.4.1. Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế 15
2.4.2. Ảnh hưởng lạm phát 15
2.4.3. Nợ quốc gia và những bất ổn trong nền kinh tế 17
tài khóa và tiền tệ.
Vậy thâm hụt ngân sách nhà nước là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân
sách diễn ra ở Việt Nam trong các năm qua như thế nào? Giải pháp nào để xử lý
thâm hụt ngân sách nhà nước, ổn định vĩ mô nền kinh tế, thực hiện hiệu quả các
mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế
lạm phát hiện nay? Bài tiểu luận này với đề tài "Thâm hụt ngân sách Việt Nam ” là
quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra đáp án cho những câu hỏi trên.
2. NỘI DUNG
2.1. Khái niệm, phân loại
2.1.1. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước: là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước; các quan hệ
kinh tế tài chính giữa nhà nước với nền kinh tế trong quá trình phân phối, sử dụng
các nguồn lực tài chính và quản lý nhà nước.
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất, để đảm bảo nhà nước
thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh
tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại đất nước. Là công cụ điều chỉnh vĩ mô
nền kinh tế xã hội, được biểu hiện trên 3 khía cạnh:
- Kích thích sự tăng trưởng kinh tế ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế),
chống độc quyền.
- Giải quyết các vấn đề xã hội ( vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội)
- Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát( điều chỉnh trong lĩnh
vực thì trường).
Vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo
từng giai đoạn nhất định.
2.1.2. Thâm hụt ngân sách nhà nước
4
Thâm hụt Ngân sách nhà nước hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là
tình trạng tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu không
mang tính hoàn trả của Ngân sách nhà nước. Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể
Cùng quan điểm, HSBC nhận định, ở thời điểm hiện tại, các doanh nghiệp ở
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng nhu cầu thấp ở cả trong và ngoài nước.
Chỉ số quản lý sức mua (PMI) của Việt Nam trong tháng 7, do HSBC thực hiện, đã
giảm xuống mức thấp nhất kể từ khi được công bố lần đầu vào tháng 4/2011. Theo
HSBC, điều này phản ánh thực trạng người tiêu dùng không còn sẵn sàng chi tiêu
do mức nợ cao hoặc do triển vọng tăng trưởng kinh tế kém. Việt Nam hiện không
phải là quốc gia duy nhất phải đối mặt với sự suy giảm của nhu cầu tại thị trường
nội địa. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng được HSBC dự báo có thể còn ở
trong tình trạng trì trệ trong thời gian tới, trong khi những cải cách mang tính cơ cấu
cần được thực hiện để giải quyết những vấn đề đã ăn sâu trong nền kinh tế.
5
Trong khi đó, báo cáo đưa ra cuối tháng 7 của Ngân hàng JPMorgan Chase
cho rằng, lạm phát cơ bản của Việt Nam (không tính tới các yếu tố giá nhiên liệu và
lương thực-thực phẩm) vẫn ở mức 0,6% trong tháng 7 so với tháng 6 và ở mức 8%
so với cùng kỳ năm 2011.
Biểu đồ tăng trưởng thực GDP và lạm phát của Việt Nam
2.2.2. Thực trạng thâm hụt ngân sách
a. Thu ngân sách nhà nước
Theo Quyết toán NSNN của MoF, trung bình giai đoạn 2007-2011, tổng thu
ngân sách nhà nước của Việt Nam khá ổn định và vào khoảng 29,0% GDP. Theo số
liệu thống kê từ đầu năm đến 15/8/2012 tổng thu NSNN ước tính đạt 418.500 tỷ
đồng, bằng 56,5% dự toán năm
Hình 1: Các nguồn thu của Việt Nam (% GDP)
Nguồn: Quyết toán cà Dự toán NSNN 2003-2012
Theo Ủy ban Tài chính ngân sách (TCNS), thu ngân sách tính đến hết tháng
9.2012 vẫn chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên (dầu khí), còn thu nội địa và thu cân
đối xuất nhập khẩu giảm mạnh (tổng số giảm 25.500 tỉ đồng).
Thu nội địa:
6
Năm 2011 thu nội địa ước 390.000 tỷ đồng, đạt 102% dự toán năm, tăng
nhà nước. Nhiều doanh nghiệp trong khu vực này liên tục báo lỗ nhưng lại xin mở
rộng đầu tư. Như vậy với tổng mức thu thuế/GDP cao đã hạn chế khả năng tích lũy,
làm giảm đầu tư phát triển, và năng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân,
xuất hiện các hành vi gian lận về thuế của các doanh nghiệp.
Bên cạnh thuế thu nhập, Việt Nam còn áp dụng nhiều khoản thuế cao khác
đánh vào tiêu dùng như thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu. Đặc biệt, ngoài
các khoản thuế và phí, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải trả các chi phí không
chính thức cao. Theo kết quả điều tra Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI)
năm 2011, mặc dù đã giảm nhưng vẫn còn có tới hơn 52% số doanh nghiệp được
hỏi trả lời rằng họ phải chi trả dưới dạng tiền lót tay cho các cán bộ hành chính địa
phương, 7% số doanh nghiệp phải chi trả tới hơn 10% tổng thu nhập của họ cho các
khoản chi phí không chính thức; có tới 56% doanh nghiệp tham gia đấu thầu các dự
án của nhà nước cho biết việc chi trả hoa hồng là phổ biến. Điều này đã góp phần
làm gia tăng sự bất công giữa các nhóm lợi ích và đại đa số dân chúng, đồng thời
làm suy giảm niềm tin vào bộ máy công quyền.
Con đường giảm thâm hụt ngân sách thông qua tăng thuế suất và cơ sở đánh
thuế là rất hạn chế. Việc tăng thu chỉ có thể được thực hiện nhờ các biện pháp nâng
cao tỉ lệ tuân thủ, chống thất thu và buôn lậu.
Thu ngân sách thiếu bền vững
Các khoản thu không bền vững gồm thu từ viện trợ, thu từ bán nhà thuộc sở
hữu nhà nước và giao đất, thu từ dầu thô. Nguồn: Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 quyết
toán ngân sách nhà nước (NSNN) hàng năm của Bộ Tài chính (MoF) cho thấy, tổng
thu thuế và phí ở nước ta chủ yếu đến từ 3 nguồn chính, gồm: thuế giá trị gia tăng
(VAT); thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN); thuế xuất nhập khẩu (XNK) và thuế
tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu. Trong đó, tỷ trọng thuế TNDN đang có xu
hướng giảm dần từ 36% trong giai đoạn 2006-2008 xuống còn 28% trong giai đoạn
2009-2011. Trong khi đó, tỷ trọng thu thuế VAT và thuế XNK lại tăng nhanh. Sự gia
tăng tỷ trọng các khoản thu từ thuế XNK và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập
khẩu đang từ 10% trong năm 2006 lên 18,4% trong năm 2009 và 14,5% trong năm
2010. Kết quả này cho thấy sự phụ thuộc lớn vào nguồn thuế này khi lộ trình cắt
Tổng chi (không bao
gồm chi trả nợ gốc)
549.784 661.972 588.210 676.360 852.760
Chi đầu tư phát triển 119.462 181.363 150.000 152.000 180.000
Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: Quyết toán của Bộ tài chính (Cân đối thu – chi NSNN)
Tính sơ bộ trong khoảng 5 năm (2008-2012) tổng vốn đầu tư phát triển mà
ngân sách nhà nước đã cấp ra ước khoảng 782.825 tỷ đồng luôn chiếm trên 20%
tổng chi NSNN đặc biệt là vào năm 2009 chiếm khoảng 27,4% tổng chi NSNN.
Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 thì chi đầu tư phát triển có xu hướng giảm nhẹ về
tỉ trọng trong tổng chi ngân sách, từ 28,3% năm 2010 xuống khoảng 24,6% trong
năm 2011 nhờ việc nỗ lực cắt giảm chi tiêu công nhằm bình ổn nền kinh tế.
Chi đầu phát triển càng ngày được chú trọng, tuy nhiên cũng còn hạn chế
trong việc giám sát chặt chẽ việc chi các khoản tiền. Ví dụ trong năm 2008, dự án
xử lý nước thải khu công nghiệp Vĩnh Niệm – Hải Phòng vốn đã cấp phát 3 tỷ đồng
và dự án xử lý nước thải Khu du lịch Vịnh Tùng Dinh (Cát Bà, Hải Phòng) vốn đã
cấp phát 23,52 tỷ đồng hoàn thành nhưng không hoạt động gây lãng phí NSNN;
năm 2009, có nhiều khoản chi tăng đột biến, trong tổng chi hơn 561.200 tỷ đồng
(tăng 14,2% so với dự toán) thì chi đầu tư phát triển tăng vượt dự toán đến 60,8%.
Công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều sai phạm và tăng hơn
so với năm trước. Tình trạng xây dựng dở dang, nợ khối lượng xây dựng cơ bản,…
vẫn xảy ra. Từ năm 2011 đến nay, chi đầu tư phát triển tiếp tục tăng. Năm 2011,
nguồn vốn đầu tư của NSNN, cùng với vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và
ngoài nước đưa vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2011 đạt khoảng 34,5%GDP,
góp phần tăng thêm năng lực mới cho nền kinh tế. 9 tháng đầu năm 2012 ước tính
tăng 5% so với cùng kỳ. Thực tế việc thực hiện chi ngân sách vẫn có thất thoát, làm
9
lãng phí nguồn ngân sách và chưa đạt được hiệu quả mong muốn.
Chi trả nợ và viện trợ:
Trong quá trình phát triển, nước ta vẫn luôn cố gắng đảm bảo các khoản
sở hạ tầng thiết yếu tại các vùng bị thiên tai
Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế bền vững, nhà nước tăng cường hỗ
trợ xã hội bằng việc tăng khoản chi an sinh xã hội, chi hỗ trợ cho quốc phòng, an
ninh. Nhìn chung cho tới nay đã đạt được những thành công nhất định, góp phần
nâng cao chất lượng cuộc sống chung của xã hội
Chi chương trình mục tiêu quốc gia
Nhà nước ta đang chú trọng phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia vì
mục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững. Tất cả các mục chi tiêu của chương trình
đều tăng hơn 25% so với năm 2008. Trong đó, các khoản chi cho chương trình an
toàn thực phẩm và chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nằm
trong chương trình mục tiêu quốc gia tăng nhanh và mạnh. Với chương trình an
10
toàn thực phẩm, năm 2009 tăng khoảng 57.5% và năm 2010 tăng gần 164 % so với
năm 2008. Còn với chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, năm
2009 – 2010, tăng 2,2 – 3,3 lần so với năm 2008.
Năm 2012, sửa đổi một số điều trong quyết định số 135/2009/QĐ-TTG về
Quy chế quản lý và điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai
đoạn 2011-2015. Trong đó có 16 chương trình sau: 1- Việc làm và dạy nghề; 2-
Giảm nghèo bền vững; 3- Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; 4- Y tế; 5-
Dân số và Kế hoạch hóa gia đình; 6- Vệ sinh an toàn thực phẩm; 7- Văn hóa; 8-
Giáo dục và đào tạo; 9- Phòng, chống ma túy; 10- Phòng, chống tội phạm; 11- Sử
dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; 12- Ứng phó với biến đổi khí hậu; 13- Xây
dựng nông thôn mới; 14- Phòng, chống HIV/AIDS; 15- Đưa thông tin về cơ sở
miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; 16- Khắc phục và cải thiện ô
nhiễm môi trường. Phát triển việc xây dựng mô hình mới. Qua đó có thể thấy nhà
nước đang mở rộng chương trình mục tiêu quốc gia, do vậy việc chi cho chương
trình mục tiêu quốc gia thực sự cần thiết.
Chi cải cách tiền lương
Theo Đề án Cải cách chính sách tiền lương được duyệt, trong những năm
qua Chính phủ đã thực hiện việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu chung. Từ
trình phát triển kinh tế-xã hội.
c. Thực trạng bội chi NSNN (thâm hụt NSNN)
Qua các số liệu trong bảng thống kê có thể thấy tình hình bội chi ngân sách
nhà nước ta trong những năm gần đây xấp xỉ khoảng 5% ở trong mức giới hạn cho
phép. Những khoản vay chủ yếu được đầu tư cho phát triển, ngoài ra còn khoản tích
lũy được từ nguồn thu thuế, phí và lệ phí. Theo Báo cáo Kinh tế vĩ mô 2012 do
UBKT công bố ngày 4/9/2012, thâm hụt ngân sách của Việt Nam đã diễn ra liên tục
trong khoảng hơn một thập kỷ qua và có mức độ ngày càng gia tăng. Cụ thể, thâm
hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai
đoạn 2003 - 2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7%
GDP trong giai đoạn 2008 - 2012.
Trong Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 “Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ
cấu” đã chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong hơn một thập kỉ qua và
có mức độ ngày càng gia tăng. Các tổ chức quốc tế đưa ra những con số khác xa với
báo cáo của Bộ Tài chính. Cụ thể, tính riêng năm 2009, con số thâm hụt ngân sách
chỉ tính riêng năm 2009 không bao gồm chi trả nợ gốc theo báo cáo của Bộ Tài
chính là 3,7% GDP, trong khi đó con số tương ứng của Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cao hơn nhiều, lần lượt là 6,6% và 9,0%
GDP.
Trung bình trong hai năm 2009-2010, con số thâm hụt ngân sách của Việt
Nam thuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực, vào khoảng 6% GDP/năm.
Con số này gấp khoảng 6 lần so với con số tương ứng của Indonesia, gấp 2 lần so
với Thái Lan.
Trong giai đoạn 2008-2012 thực trạng bội chi NSNN có chuyển biến khá
phức tạp, chính vì thu-chi bất cân đối đã dẫn đến nhiều ảnh hưởng xấu. Đặc biệt
trong năm 2009, nền kinh tế toàn cầu gặp khủng hoảng, lạm phát tại Việt Nam
12
khoảng 6,88% tác động rất lớn tới việc sử dụng NSNN. Theo tính toán IMF thâm
hụt ngân sách của Việt Nam năm 2009 lên đến 9%, Ngân hàng Phát triển châu Á
(ADB) cho là 9,8%, khác với con số 6,9% mà Việt Nam đưa ra. Tình hình thực hiện
thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng
sản xuất. Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các
khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
2.3.2 Đầu tư công kém hiệu quả
Trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn
chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn
chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự
phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà
nước. Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu
quả. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên
trầm trọng.
13
2.3.3. Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính
phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích
cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức
thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
2.3.4. Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường
xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách và áp lực
với bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy
thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ
chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương
được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể
trong dự toán ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ
đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình
khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công
trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.
Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên
bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
thâm hụt ngân sách và các biện pháp tài trợ thâm hụt lên các biến số này.
2.4.1. Ảnh hưởng đến tổng cầu nền kinh tế
Với S là tiết kiệm tư nhân, (T – G) (thuế - chi tiêu của chính phủ) là tiết kiệm
chính phủ, cũng chính là chênh lệch giữa thu ngân sách và chi ngân sách. Trường
hợp (T – G) = 0 tức NSNN cân bằng, trường hợp (T – G) > 0 NSNN có thặng dư,
trường hợp (T – G) < 0 NSNN bội chi. Trong bối cảnh NSNN bội chi, chính phủ
phải tìm cách bù đắp bội chi bằng cách vay trong nước hoặc nước ngoài. Vay trong
nước làm cho tiết kiệm tư nhân giảm, tổng đầu tư giảm; để duy tri được mức tổng
đầu tư chính phủ phải lựa chọn phương án đi vay nước ngoài. Mỗi khi chính phủ
chi tiêu quá một đồng vượt số thu ngân sách, buộc phải tài trợ bằng cách tăng nợ
công một đồng.
2.4.2. Ảnh hưởng lạm phát
Nhìn vào những nước đã từng trải qua lạm phát cao sẽ thấy rằng, lạm phát ở
những nước này thường là hệ quả của việc in tiền nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân
sách. Như vậy, thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc
phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới lạm
phát.
Về cơ bản, hầu hết chính phủ các nước đều dùng các biện pháp sau để khắc
phục bội chi NSNN: vay trong nước, vay nước ngoài hoặc phát hành tiền. Tùy từng
điều kiện và hoàn cảnh cụ thể mà các nguồn bù đắp bội chi được sử dụng riêng rẽ
hay kết hợp. Từ đó cũng gây ra tác động lên nền kinh tế khác nhau.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng cách phát hành
trái phiếu (kể cả phát hành trong nước và phát hành ra nước ngoài), thi tất yếu chính
phủ phải trả tiền nợ gốc và lãi trái phiếu trong tương lai đồng thời gây áp lực lên xã
hội bằng việc tăng thuế. Tuy nhiên bằng cách này, bội chi NSNN sẽ không gây lạm
phát và đặc biệt trong trường hợp bội chi được tài trợ cho các dự án đầu tư sinh lợi
thì nó lại là động lực cho sự phát triển của nên kinh tế trong dài hạn.
Khi chính phủ sử dụng giải pháp bù đắp bội chi NSNN bằng việc phát hành
tiền, hành động này ngay lập tức làm cho lượng tiền cung ứng trong lưu thông tăng.
Cung tiền tăng là một yếu tố quan trọng làm tăng tổng cầu. Trong bối cảnh suy
gần 12% cung tiền M2 của năm 2011. Như vậy, cùng với nhu cầu tín dụng cao của
khu vực tư nhân, chi tiêu công tài trợ thông qua phát hành trái phiếu cũng đã gián
tiếp dẫn đến sự gia tăng mạnh của cung tiền trong những năm gần đây.
Về việc phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách: Đây là biện pháp đã
được Chính phủ nhiều nước sử dụng; kể cả nước ta trong thời gian trước đây. Ưu
điểm của biện pháp này là đơn giản, dễ thực hiện, trong một số trường hợp, việc
phát hành thêm tiền cũng có tác dụng phân bố lại nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế,
đặc biệt là phân bố lại vốn đầu tư giữa Nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân. Trong
trường hợp này, lợi thuộc về Nhà nước, thiệt hại rơi vào nhà đầu tư tư nhân, vì thực
chất phát hành tiền đã trở thành một loại " thuế" vô hình đánh vào nguồn thu nhập
dân cư, hậu quả gây ra cho nền kinh tế là lạm phát. Và lạm phát lại là một trong
những nguyên nhân tạo ra sự bất ổn trong nền kinh tế, làm cho hoạt động sản xuất
khó khăn và trì trệ hơn. Chính vì vậy trong những năm gần đây Nhà nước ta cũng
như các nước khác không sử dụng biện pháp phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân
sách nhà nước trong những trường hợp không thật sự cần thiết.
Thâm hụt ngân sách là một trong những nguyên nhân gây lạm phát và mất
cân bằng vĩ mô. Theo PGS, TS Lê Quốc Lý, Vụ trưởng Vụ Tài chính - Tiền tệ ( Bộ
Kế hoạch và Đầu tư): “Chính những yếu kém trong ngân sách (thu ngân sách nhà
nước không đủ chi và bù đắp thâm hụt ngân sách không chỉ phải vay trong và ngoài
nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành) là một yếu tố quan trọng gây nên
lạm phát ”
Xét về mặt thu ngân sách thì thất thu ngân sách hằng năm dẫn đến một lượng
tiền không nhỏ chưa được thu vào ngân sách nhà nước để đáp ứng chi ngân sách,
làm mất cân đối thu - chi ngân sách, tức là thâm hụt ngân sách. Điều này làm tăng
số nợ của chính phủ (nếu chính phủ phải vay trong nước và vay nước ngoài để bù
16
đắp) hoặc phải phát hành tiền. lượng tiền không nhỏ thất thu ở trên cộng với lượng
tiền mới đưa ra lưu thông sẽ tạo sức ép và gây nên lạm phát.
Xét về mặt chi ngân sách thì có một số lượng tiền không nhỏ đã bị lãng phí,
thất thoát thông qua việc đầu tư công, thông qua việc chi tiêu của các cơ quan nhà
suy thoái là một nhắc nhở: không có liên hệ nghiễm nhiên nào giữa thâm hụt và đầu
tư.
Tác động của thâm hụt cơ cấu: Hầu hết các nhà kinh tế học vĩ mô đều đồng ý
rằng: Thoái lui thực sự chỉ là một hiệu ứng phụ của chi tiêu Chính phủ. Tuy nhiên,
vẫn có tranh luận trong vấn đề đầu tư bị giảm đi bao nhiêu và những khu vực nào
chịu tác động nhiều nhất. Thoái lui hoàn toàn là trường hợp cực đoan nhất của thoái
lui khi mà phản ứng tiền tệ là quá mạnh. Giả sử rằng, khi mà NHTW xác định bất
kỳ sự tăng lên nào trong sản lượng cũng đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vậy,
17
NHTW sẽ tăng lãi suất lên đủ để bù lại mọi tác động mở rộng của các chương trình
Chính phủ.
Tuy nhiên, do có phản ứng tiền tệ, nên lãi suất tăng lên, làm giảm đầu tư và
xuất khẩu ròng. Vậy, trong trường hợp cực đoan thoái lui 100%, phản ứng này
mạnh đến nỗi đường chi tiêu (tổng cầu) mới dịch chuyển xuống quay trở lại vị trí
của đường tổng cầu ban đầu. Nói cách khác là thắt chặt tiền tệ đã làm triệt tiêu toàn
bộ sự mở rộng tài khóa.
Chi tiêu Chính phủ làm tăng tổng cầu, nhưng lãi suất cao hơn dẫn đến sự
giảm sút của đầu tư và xuất khẩu ròng (do việc tăng tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ).
Cuối cùng lãi suất phải tăng đủ mạnh để giảm đầu tư và xuất khẩu ròng đúng bằng
lượng G đã tăng lên.
Tóm lại, trong trường hợp cực đoan của phản ứng tiền tệ mạnh, đầu tư bị
thoái lui 100% do sự tăng lên trong chi tiêu của Chính phủ. Thoái lui có thể xảy ra
khi NHTW có hành động nhằm triệt tiêu tác động mở rộng tài khóa thông qua thắt
chặt tiền tệ. Từ đồ thị trên ta có thể thấy: Trước tiên, tăng chi tiêu bằng tiền cho
hàng hóa và dịch vụ làm dịch chuyển đường tổng cầu (C+I+G+NX) lên đến đường
tổng cầu mới (C+I+G’+NX). Tiếp theo, phản ứng của tiền tệ làm tăng lãi suất và
làm giảm những bộ phận nhạy cảm với lãi suất, dẫn đến tổng cầu giảm xuống
đường (C+I”+G’+NX”) và điểm cân bằng mới là điểm E”, đúng với điểm cân bằng
lúc ban đầu tại điểm E. Trong trường hợp này đầu tư và xuất khẩu ròng bị chi tiêu
của Chính phủ làm thoái lui hoàn toàn. Mục đích của việc nghiên cứu cơ chế này là
trong nước. Việc vay nợ lớn trong nước tuy nhiên lại chèn ép mạnh đầu tư của khu
vực tư nhân và làm giảm tăng trưởng kinh tế một khi đồng vốn vay không được khu
vực công sử dụng hiệu quả.
Trái phiếu chính phủ phát hành qua các năm (ngàn tỉ đồng)
Trung bình trong hai năm 2010 và 2011 Chính phủ Việt Nam đã vay nợ hơn
110 ngàn tỉ đồng mỗi năm thông qua phát hành trái phiếu trong nước. Con số này
xấp xỉ gấp đôi so với 56 ngàn tỉ đồng mỗi năm của giai đoạn 2007-2009. Lãi suất
vốn vay trên thị trường tiền tệ trong thời kì 2010-2011 cũng cao hơn gấp đôi so với
lãi suất của giai đoạn 2007-2009. Đây chính là ví dụ điển hình của hiện tượng đầu
tư công lấn át đầu tư tư nhân. Nghiêm trọng hơn, khả năng huy động vốn trong
nước thông qua phát hành trái phiếu của Chính phủ nhiều khi không phải được hình
thành một cách tự nhiên theo quy luật cung cầu của thị trường. Trong những năm
2010-2011, với mức trần lãi suất trái phiếu chính phủ dao động trong khoảng từ 10-
12%/năm, trong khi lãi suất cho vay trên thị trường lên tới hơn 20%/năm, thông
thường sẽ không có một ngân hàng thương mại nào sẵn lòng mua trái phiếu chính
phủ. Tuy nhiên, đây lại là hai năm thành công nhất đối với việc phát hành trái phiếu
chính phủ. Bản chất ẩn sau hiện tượng này đó là việc các ngân hàng thương mại có
thể bán/cầm cố trái phiếu chính phủ tại NHNN tại mức lãi suất chiết khấu thấp, sau
đó cho các ngân hàng thiếu hụt thanh khoản vay với lãi suất cao nhằm hưởng lợi
19
lớn. Hành động này đã khiến cho có thời kì vốn chỉ chạy loanh quanh từ thị trường
trái phiếu chính phủ sang thị trường liên ngân hàng, và ngược lại mà không đến
được khu vực tư nhân.
2.4.6. Cán cân thương mại và tỉ giá
Thâm hụt cán cân thương mại: Bù đắp bội chi NSNN bằng cách tăng vay nợ
góp phần làm tăng lãi suất. Lãi suất thị trường của nước này tăng lên cao so với các
đồng tiền các nước khác trên thế giới thì người nước ngoài sẽ tìm kiếm đồng nội tệ
của nước có bội chi để mua các chứng khoán chính phủ và các tài sản tài chính
khác. Dẫn đến tình trạng nhập siêu ở nước có ngân sách bội chi lớn.
Dân cư một nước có thể có chi tiêu vượt mức giá trị hàng hóa và dịch vụ mà
ta phải trả ngoại tệ cho người nước ngoài. Sau đó, lượng ngoại tệ này có thể được
người nước ngoài sử dụng để mua cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ
20
hoặc bất động sản. Do vậy, khi thâm hụt ngân sách xảy ra, Việt Nam trở thành nước
nhập khẩu ròng hàng hóa và dịch vụ, đồng thời cũng là nước xuất khẩu ròng tài sản.
Lượng tài sản trong nước nắm giữ bởi người nước ngoài sẽ ngày càng nhiều hơn.
Thâm hụt ngân sách làm giảm lượng cung vốn vay đối với khu vực tư nhân
và do vậy làm tăng lãi suất. Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, gia tăng lãi
suất có thể thu hút dòng vốn quốc tế vào trong nước. Cung ngoại tệ tăng và đồng
nội tệ có thể lên giá.
2.4.7. Tăng trưởng
Chính sách tài khóa có thể tác động đến tăng trưởng sản lượng của một nền
kinh tế qua hai kênh. Thứ nhất, nó có thể làm thay đổi tiết kiệm và đầu tư, và do vậy
là năng lực sản xuất trong dài hạn của một quốc gia. Thứ hai, nó có thể làm thay đổi
hiệu quả sử dụng nguồn lực, và do vậy làm thay đổi cả sản lượng hiện tại lẫn tăng
trưởng trong tương lai. Trong thời kì suy thoái kinh tế, mở rộng tài khóa và chấp
nhận thâm hụt ngân sách ở một mức độ nhất định có thể giúp sản lượng trong nước
tăng trở lại nhờ kích thích tổng cầu. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế đã ở gần mức sản
lượng tiềm năng và trước đó nền kinh tế liên tục thâm hụt tài khóa thì hiệu quả của
chính sách là rất hạn chế, có thể dẫn đến lạm phát cao, lãi suất cao, thâm hụt vãng
lai và bất ổn tài chính. Bài học kích thích tổng cầu Việt Nam trong năm 2009 và hậu
quả của nó trong năm 2010-2011 là ví dụ điển hình.
Để phản ứng lại sự gia tăng của lạm phát và thâm hụt vãng lãi do hậu quả
của thâm hụt tài khóa kéo dài, Chính phủ Việt Nam thường áp dụng các biện pháp
hành chính kiểm soát giá cả trong nước, hạn chế thương mại, và kiểm soát tỉ giá.
Tuy nhiên, những biện pháp này lại làm tăng sự thiếu hụt tổng cung do chúng bóp
méo thị trường các nhân tố sản xuất trong nước, nguồn lực sẽ được phân bổ một
cách không hợp lý, và do thiếu nguyên vật liệu nhập khẩu làm hạn chế năng lực sản
xuất và xuất khẩu. Sự mở rộng tài khóa kéo dài tiếp tục làm cán cân vãng lãi xấu
thêm và lạm phát tăng tốc. Giảm niềm tin vào đồng nội tệ và kinh tế trong nước có
cách tăng các loại thuế thu nhập và thuế tài sản nhằm đạt được thặng dư ngân sách
cơ bản 80. Chính sách này lại làm tiêu dùng sụt giảm thêm và gây ra suy thoái kinh
tế. Hậu quả của sự hạ cánh cứng còn là sự gia tăng mạnh của lạm phát thông qua
kênh nhập khẩu khi đồng nội tệ mất giá do sự tháo chạy của dòng vốn ngoại. Ngoài
ra, sức ép in tiền để trả nợ trong thời kì này cũng là rất lớn. Hậu quả là lạm phát
tăng vọt. Cuối cùng, sự hạ cánh cứng cũng có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài
chính. Giá tài sản giảm và gánh nặng lãi suất sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp có
nguy cơ phá sản. Sự phá sản của các doanh nghiệp đến lượt nó lại gây khó khăn tài
chính cho hệ thống ngân hàng do nợ xấu gia tăng. Kịch bản xấu nhất của tình huống
này có thể là sự đổ vỡ tín dụng và phá sản của các trung gian tài chính.
2.5. Giải pháp:
2.5.1. Phát hành tiền
Khi ngân sách nhà nước thâm hụt,Chính phủ có thể tài trợ số thâm hụt của
mình bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở,đặc biệt là trong trường hợp nền
kinh tế đất nước suy thoái.Khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng
thì việc tài trợ số thâm hụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ
sở sẽ góp phần thực hiện những mục đích của chính sách ổn định hoá kinh tế thông
qua việc đưa nền kinh tế tiến đến gần mức sản lượng tiềm năng mà không gây lạm
phát. Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn
mức sản lượng tiềm năng) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình
bằng cách tăng nhanh lượng tiền cơ sở ,vì như vậy sẽ càng kích tổng cầu lên cao và
đẩy sản lượng thực tế vượt xa mức sản lượng tiềm năng,hậu quả là làm tăng lạm
phát
2.5.2. Vay nợ
- Vay nợ trong nước: Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình
thức phát hành công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi
nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát
hành để vay các dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và các ngân hàng. Ở Việt Nam,
Chính phủ thường uỷ nhiệm cho Kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các
hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu công trình.
cơ găm giữ ngoại tệ trở nên phổ biến và điều này sẽ khiến cho những cố gắng ổn
đỉnh tỷ giá hối đoái thêm khó khăn.
3. KẾT LUẬN
Thâm hụt NSNN là 1 vấn đề mà hầu hết các quốc gia đều gặp phải. Việc xử
lí vấn đề này hết sức nan giải, bởi nó không chỉ tác động đối với nền kinh tế mà còn
tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Có nhiều cách để chính phủ
bù đắp thâm hụt NSNN, nhưng phải sử dụng cách nào thì còn phải tùy thuộc vào
điều kiện và hoàn cảnh của mỗi quốc gia, bởi mỗi cách có ưu nhược điểm làm ảnh
hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kĩ
lưỡng để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực trạng hiện nay, khi nền kinh tế Việt
Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường và có sự quản lí vĩ mô của nhà nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- />ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gDFxNLczdTEwMLQ1dLA09_X
AYNcAQwNzA_2CbEdFAFjmS9E!/?
23
WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbv_vn/sbv_vn/vn.sbv.research/
vn.sbv.research.research/d333aa804bdccbeca6a3e7133deae6cc
- />viet-nam-2010.510288.html
- />cach-tien-luong-va-giai-phap-tao-nguon-thuc-hien-tien-luong/5711.tctc
- />luong/144/7359161.epi
- />cach-tien-luong-va-giai-phap-tao-nguon-thuc-hien-tien-luong/5711.tctc
- />von-duoc-cap-phat-tu-ngan-sach-nha-nuoc-viet-nam-hien-nay.35D81D2B.html
- />luong/144/7359161.epi
- />von-duoc-cap-phat-tu-ngan-sach-nha-nuoc-viet-nam-hien-nay.35D81D2B.html
- />vien-tro-10675234.html
- />w_recurrent_news?p_page_url=http%3A%2F%2Fwww.mof.gov.vn%2Fportal
%2Fpage%2Fportal%2Fmof_vn
%2F1670950&p_itemid=52807401&p_siteid=33&p_persid=&p_language=vi
- />w_recurrent_news?p_page_url=http%3A%2F%2Fwww.mof.gov.vn%2Fportal
%2Fpage%2Fportal%2Fmof_vn
25